Sinh học tế bào ( phần 3 ) - Pdf 18

Sinh học tế bào ( phần 3 )
Số lượng, hình dạng, kích thước nhân tế bào
Nhân (nucleus) được Brawn phát hiện vào năm 1831 và được xem là
thành phần bắt buộc của tất cả tế bào động vật và thực vật. Cơ thể một số
vi sinh vật không quan sát thấy nhân, nhưng tìm thấy trong tế bào vi
khuẩn và cả siêu vi khuẩn những chất tương đồng đối với chất của nhân:
protide nhân (nucleoprotide) phân tán trong tế bào chất.

Những công trình nghiên cứu hiển vi điện tử và di truyền vi sinh vật đã
chứng minh các “chất nhân” của cơ thể vi sinh vật có chức năng giống
như nhân của cơ thể đa bào. Như vậy, nhân hoặc chất nhân là tổ chức cố
định và bắt buộc của tế bào ở bất kỳ mức độ tổ chức nào của sinh vật.
Trong đời sống của tế bào có thể chia làm hai thời kỳ:
- Thời kỳ trao đổi chất.
- Thời kỳ phân chia nhân.
Mỗi thời kỳ nhân có cấu trúc riêng. Thời kỳ trao đổi chất nhân ở trạng
thái không phân chia - trạng thái tĩnh. Thời kỳ phân chia nhân thay đổi để
tiến tới sự phân chia nhân và phân chia tế bào.
Ở đây ta xét nhân ở thời kỳ trao đổi chất - thời kỳ nhân ở gian kỳ
(interphase)
Số lượng
Tuyệt đại đa số tế bào có một nhân. Có nhiều tế bào có 2 hoặc 3 nhân (tế
bào gan, tế bào tuyến nước bọt động vật có vú, ). Có những tế bào đa
nhân, có khi hàng chục như tế bào đa nhân (megacaryocyte) trong tuỷ
xương. Trái lại, cũng có những tế bào không có nhân như tế bào hồng cầu
động vật có vú. Nhưng hồng cầu không nhân chỉ ở giai đoạn trưởng
thành, giai đoạn non hồng cầu có nhân.
Hình dạng
Hình dạng của nhân phụ thuộc vào hình dạng của tế bào. Tế bào hình
cầu, hình khối, nhân thường có dạng hình cầu (tế bào limpho). Tế bào
hình trụ (như tế bào cơ) thì nhân có dạng dài hình bầu dục. Tuy vậy, trong

(tảo, nấm, rêu, dương xỉ và một số hạt trần). Trong tế bào của thực vật hạt
kín, người ta chưa quan sát thấy trung thể, tuy rằng, có một số tác giả có
mô tả các cấu trúc tương tự.

Trung thể tồn tại trong tế bào chất ngay cả trong thời gian tế bào không
phân chia, và xuất hiện rõ khi phân chia nguyên nhiễm (mitose).
Trong tế bào không phân chia thì trung thể có trong tế bào chất, nằm cạnh
nhân và ở giữa có 2 hạt bắt màu sáng nằm vuông góc với nhau gọi là
trung tử.
Trung tử (centriole) có kích thước từ 0,2 - 0,3µm. Dưới kính hiển vi điện
tử, trung tử xuất hiện như cái ống trụ tròn, dài 0,3 - 0,6µm và đường kính
1000 - 2000Å. Thành ống được cấu tạo bởi 9 nhóm ống nhỏ, mỗi nhóm
có 3 ống nhỏ. Trong 3 ống có 1 ống hoàn chỉnh dính với 2 ống không
hoàn chỉnh.
Chức năng
Trung tử đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân bào. Trong
quá trình phân bào, trung tử phân chia và di chuyển về 2 cực đối lập
của tế bào và hoạt động như tâm điểm cho thoi vô sắc và hình
thành nhân của tế bào con.
Tuy nhiên, những tế bào không có trung tử thoi vô sắc cũng được
hình thành.
Thành và vỏ tế bào
Tế bào thực vật được bao bọc bởi những thành tế bào, các thành này nằm
ngoài màng sinh chất và là tổ hợp đơn giản của gluxit. Đã từ lâu, các nhà
sinh học biết tế bào thực vật, nấm và phần lớn các vi khuẩn có thành dày
và giàu gluxit.
Nhưng chỉ những năm gần đây người ta mới nhận thấy rằng tế bào động
vật cũng có gluxit ở mặt ngoài của chúng. Các gluxit ở tế bào động vật
không tạo nên thành của tế bào, tuy nhiên chúng hoạt động như những
nhóm phía ngoài không phụ thuộc vào một số lipid và ptotein màng. Mặc

cấp còn chứa các chất khác như lignin làm cho chúng chắc hơn.
Trên thành tế bào có những cầu nối, qua đó, các tế bào cạnh nhau liên hệ
với nhau gọi là, cầu sinh chất (plasmadesmata). Có 2 dạng:
+ Dạng thứ nhất là các đường ống qua màng, qua đó nguyên sinh chất của
từng tế bào riêng biệt trong một cơ thể thực vật đa bào liên kết và trao đổi
với nguyên sinh chất của tế bào khác. Các nguyên sinh chất liên kết với
nhau thành một hệ thống gọi là hợp bào (symplaste). Phần lớn sự trao đổi
chất giữa các tế bào như trao đổi đường và acid amino thường xảy ra qua
cầu sinh chất của hợp bào.
+ Dạng thứ 2 gọi là lõm, đó là vật cản có tính thấm chọn lọc do thành sơ
cấp tạo nên.
Thành tế bào của nấm và các vi khuẩn được cấu tạo từ chitin (thực vật từ
cellulose) là dẫn xuất của amino glucosamine. Ở vi khuẩn, thành tế bào
có chứa vài dạng cơ chất hữu cơ thay đổi theo từng nhóm. Phản ứng đặc
biệt của các cơ chất hữu cơ này đối với các chất nhuộm màu là dấu hiệu
để phân loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm.
Nhờ có thành tế bào mà tế bào thực vật, nấm và vi khuẩn không bị vỡ ở
môi trường ngoài rất loãng (nhược trương). Ở môi trường này tế bào
phồng lên do áp lực trương và sẽ ép vào thành tế bào. Áp lực trương trên
thực tế còn làm cho cấu trúc cơ học của cây xanh mạnh hơn.
- Glucocalix: ở tế bào động vật, gluxit (chính là olygosaccharide)
đã gắn vào protein hoặc lipid ở mặt ngoài tế bào tạo thành glycoprotein
và glucolipid. Sự liên kết giữa oligosaccharide với protein và lipid ở mặt
ngoài tế bào động vật như vậy được gọi là glycocalix.
Theo những nghiên cứu mới nhất thì glycocalix chính là điểm nhận biết
trên bề mặt tế bào, tạo cho nó khả năng tương tác với các tế bào khác. Ví
dụ: khi trộn tế bào gan và thận riêng rẽ trong môi trường nuôi cấy, các tế
bào gan sẽ nhận biết nhau và sẽ tái kết hợp, các tế bào thận cũng sẽ tách
ra và tái kết hợp.
Sự nhận biết của các tế bào trong quá trình phát triển phôi và cả sự kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status