Động vật có xương sống ( phần 1 ) Sự phát triển giai đoạn phôi và hậu phôi doc - Pdf 18

Động vật có xương sống ( phần 1 )
Sự phát triển giai đoạn phôi và hậu phôi ở Chim (Aves)
ự phát triển phôi
Phần trung tâm của đĩa phôi lồi lên làm thành vùng trong, cạnh sau lõm
vào hình thành bờ và kéo dài ra phía sau hình thành dải nguyên thủy. Nơi
này sẽ hình thành trung bì. Trước dải nguyên thủy là nút Hensen, ứng với
phôi khẩu. Phần ngoài của đĩa phôi dày và kém trong nên gọi là vùng
đục.

Sự phôi vị hóa ở chim (theo Raven)
(a). Hình thành lớp trên ở đĩa phôi (b). Phân chia thành ngoại bì và nội
bì; (c). Hình thành trung bì.
1. Đĩa phôi; 2. Khối nõan hoàng; 3. Ngoại bì; 4. Xoang phôi; 5. Nội bì;
6. Rãnh nguyên thủy; 7. Trung bì
Sau đó đĩa phôi phát triển rộng ra, bao lấy lòng đỏ, hình thành
phôi ở phía trước dải nguyên thủy. Phía trước nút Hensen hình thành
mấu đầu, đây là nơi hình thành dây sống, tấm thần kinh rồi ống thần kinh
từ ngoại bì. Trung bì hình thành hình thành các túi somit ở hai bên. Phía
trước ống thần kinh hình thành não bộ, dần dần nổi lên mặt đĩa phôi.
Xung quanh đĩa phôi có vùng mạch là vùng có nhiều mạch máu để nuôi
phôi. Tiếp theo quanh phôi hình thành màng ối và túi niệu.
Giai đoạn tiếp theo là quá trình phân đốt của phôi.

Sự hình thành đốt thân ở phôi gà (theo Raven)
1. đầu; 2. Thân; 3. Khối noãn hoàng
Ở giai đoạn sơ khai phôi chim có đầu to, não bộ và mắt lớn, hai bên cổ có
5 đôi khe mang, có 2 đôi mấu cánh, chân dài. Sau đó khe mang lấp kín,
hình thành mỏ, cổ kéo dài, chi phát triển thêm ngón, đuôi ngắn lại, khối
lòng đỏ và lòng trắng co ngắn, túi niệu phát triển mạnh. Đồng thời có quá
trình hình thành tuần hoàn của phôi. Sau đó chim mổ thủng vỏ trứng để
chui ra ngoài.

hơn phổi nhiều lần, chứa nhiều không khí nên có thể thực hiện hô hấp kép
khi chim bay, làm nhẹ cơ thể, điều hòa thân nhiệt .

Động tác hô hấp của chim rất đặc trưng và có hiệu quả rất cao:
- Khi chim không bay (khi chim nghỉ), sự hô hấp được thực hiện do cử
động lồng ngực nhờ các cơ gian sườn.
- Khi bay, do cơ ngực hoạt động chim không thể hô hấp bằng co giãn
lồng ngực mà phải thở bằng hệ thống túi khí. Khi nâng cánh túi khí nở ra
và hút không khí từ mũi vào khí quản, đến phế quản, qua phổi vào túi khí
sau (chiếm khoảng 75% lượng khí), các túi khí sau là nơi dự trữ không
khí sạch. Khi đập cánh, nội quan ép vào túi khí, không khí lại từ túi khí
sau qua phổi đến các túi khí trước và đi ra ngoài.

Sự trao đổi khí của chim (theo Raven)
Chu kỳ 1 là hít vào (màu đỏ): không khí đi vào khí quản, vào túi khí phía
sau, sau đó đi vào phổi;
Chu kỳ 2 không khí đi từ phổi đi vào các túi khí trước sau đó đi qua khí
quản. Sự di chuyển của không khí qua phổi là trực tiếp từ phía sau ra phía
trước (từ bên phải qua bên trái của sơ đồ)
Như vậy phổi nhận không khí sạch cả trong quá trình hít ra và thở vào,
hầu hết dòng không khí giàu ôxy liên tục đi qua hệ thống vi khí quản.
Hiện tượng này được gọi là hô hấp kép.
Hệ tiêu hoá của lớp Chim (aves)
1. Khoang miệng hầu
Chim có khoang miệng hẹp, không có răng, thay thế là mỏ. Mỏ gồm 3
mảnh sừng ghép lại, thay đổi theo chế độ thức ăn. Mỏ dài cong để hút
mật hoa như của chim Bã trầu, mỏ quặp để ăn thịt, mỏ có thêm răng như
ở chim cắt, chim ưng, mỏ vịt có dẹp, có bờ răng cưa để lọc thức ăn. Lưỡi
chim có hình dạng và cấu tạo tùy thuộc vào chế độ ăn. Tuyến nước bọt
phát triển ở các loài chim ăn hạt. Hầu ngắn thông với ống eustachi và khe

- Tuyến tụy của chim nằm ngay khúc cong của tá tràng, có vai trò nội tiết
và ngoại tiết. Trong tuỵ có nhiều đảo Langerhans có vai trò tiết
hormon insulin và glucagon.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status