Giáo trình thuốc thử hữu cơ - Chương 1 pot - Pdf 18

http://www.ebook.edu.vn

CHƯƠNG I: PHÂN LOẠI THUỐC THỬ HỮU CƠ
Thuốc thử hữu cơ bao gồm rất nhiều loại nên cần thiết phải hệ thống hoá chúng.
I.1. SỰ BẤT HỢP LÝ CỦA CÁCH PHÂN LOẠI TRONG HOÁ HỮU CƠ
Người ta có thể phân loại thuốc thử hữu cơ theo nguyên tắc rất đơn giản, đó là nguyên
tắc phân loại trong hoá hữu cơ (theo các nhóm chức).
Sự phân loại này chỉ thuận lợi khi nghiên cứu những hợp chất đơn giản còn khi nghiên
cứu những hợp chất phức tạp nó tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu và còn chứa nhiều mâu
thuẫn.
Theo sự phân loại đó thì những acid phenol carboxylic ở trong cùng mộ
t nhóm còn
những dihydroxybenzene thuộc về một nhóm khác.
So sánh m– và o–hydroxybenzoic acid với m– và o–dihydroxybenzene người ta thấy
rằng m–hydroxybenzoic acid và m–dihydroxybenzene (Resocsin) có rất ít tính chất phân
tích giống với o–hydroxybenzoic acid (salicylic acid) và o–dihydroxybenzene
(Pyrocatechin). Trong khi đó đặc tính phân tích của salixilic acid và Pyrocatesin lại rất gần
nhau. Sự đồng nhất tính chất phân tích trong trường hợp này không phải là do trong phân tử
có những nhóm chức như nhau mà do Pyrocatesin và salicylic acid cùng có khả năng tạo nội
phức lớn (nhờ nhóm tạo phức và nhóm tạo muối ở vị trí ortho đối với nhau).
Ví d
ụ: chất màu
NN
O
2
N
OHPhản ứng với hydroxide magie trong môi trường kiềm còn chất màu
NN

1) Những chất tạo phức màu
2) Những chất tạo muối
3) Những chất có khả năng tạo những hợp chất cộng hợp ít tan hoặc có màu đặc trưng.
4) Những chất chỉ thị
5) Những chất màu tạo phức hấp thụ (sơn)
6) Những thuốc thử gây nên sự tổng hợp hữu cơ trong ph
ản ứng, ứng dụng vào phân tích.
7) Những thuốc thử có khả năng tạo phức vòng với ion kim loại (vòng theo thành hoặc là do
liên kết hoá trị, liên kết phối tử hoặc là hỗn hợp cả hai loại này).
8) Những chất oxy hoá
9) Những chất khử.
Hệ thống phân loại này cũng mang nhiều mâu thuẫn nội tại:
1- Một chất có thể có trong những nhóm phân loại khác nhau.
Ví dụ: Alizarin có thể ở cả nhóm 5 và nhóm 7. Dipyridin c
ũng có thể ở cả nhóm 1 và
nhóm 7.
2- Tác dụng của những thuốc thử trong cùng một nhóm với những ion vô vơ lại có
những đặc tính khác nhau về nguyên tắc.
Ví dụ: Theo sự phân loại trên thì acid oxalic, ethyeandiamine dumethylglyoxim phải
thuộc về nhóm 7 vì chúng đều tạo vòng với những ion kim loại.
C
C
O
O
O
O
Ca
Cu
H
2

vai trò chất oxy hoá.
I.3. PHÂN LOẠI THEO YOE
Yoe chia thuốc thử hữu cơ thành 11 nhóm lớn (theo mục đích sử dụng) và mỗi nhóm lớn
lại được chia thành nhiều nhóm nhỏ (theo cách phân loại trong nhóm hữu cơ).
Vi dụ: Nhóm lớn thứ nhất là dung môi và chất lỏng rửa bao gồm nhiều nhóm nhỏ:
hydrocarbon, rượu, ester, ether, aldehydeketone…
Cách phân loại này thuận tiện cho việc chọn thuốc thử nhưng về cơ bản nó vẫn mang
những khuyết điểm của các cách phân loại kể
trên.
Ví dụ: Pyrogallol, p–nitrobenzene–azo–resocsin, 8–oxyquinoline ở trong cùng một
nhóm nhưng cơ chế tác dụng của mỗi hợp chất đó với ion vô cơ lại rất khác nhau.
I.4. PHÂN LOẠI THEO FEIGL
Feigl chia thuốc thử thành 8 nhóm
1) Những thuốc thử tạo muối
2) Những thuốc thử tạo muối phức
3) Những thuốc thử tạo muối nội phức
4) Những thuốc thử tạo muối hợp chất hấp thụ
5) Những thuốc thử dùng trong những phản ứng tổng hợp hoặc phân huỷ hữu cơ.
6) Nh
ững thuốc thử là hệ oxy hoá khử hữu cơ
7) Những thuốc thử tham gia phản ứng với ion vô cơ ở dạng chuyển vi nội phân.
8) Những thuốc thử tham gia vào những phản ứng xúc tác.
Mặc dù chưa thật hoàn hảo nhưng cách phân loại này có ưu điểm cơ bản là dựa trên cơ
chế phản ứng và bản chất sau cùng để phân loại. Những thuốc thử
được xếp trong cùng một
nhóm không phải vì công thức giống nhau mà vì tính phản ứng mà nó tham gia giống nhau.
I.5. PHÂN LOẠI THEO WELCHER
Welcher cho rằng những thuốc thử hữu cơ có giá trị nhất trong phân tích là những thuốc
thử tạo phức vòng cùng với ion phân loại. Căn cứ vào số ion hydro bị ion kim loại thay thế
trong một phân tử thuốc thử trung hòa để tạo thành một vòng càng, Welcher chia thuốc thử

N
O
Cu
C
CH
O
N

Nếu số phối trí của nguyên tử kim loại đối với thuốc thử vượt quá điện tích của ion kim
loại thì phức anion thường tan trong nước được hình thành. Có thể lấy các phức tan Oxalate
(Fe(C
2
O
4
)
3
), Citrate (CaC
3
H
4
OH(COO)
3
), tactrate (Fe(C
4
H
4
Oc)
+
) làm ví dụ. Người ta
thường sử dụng các phức này để ngăn cản kết tủa hydroxide trong môi trường kiềm.

2
O.
Số phối trí của Mg
2+
bằng 6 nhưng điện tích trưởng thành trung hoà sau khi hai phân tử
thuốc thử tác dụng với một ion magie. Còn Al
3+
tạo 8–oxyquinolat không ngấm nước vì số
phối trí của nó đúng 2 lần lớn hơn điện tích. Phần lớn những thuốc thử hữu cơ có ứng dụng
rộng rãi trong phân tích điều thuộc loại này: α–nitroso, α–naphtol, dimethylglyoxim,
dithizone, v.v…
Loại 3: Loại những ion hydro không bị thay thế. Ở đây phản ứng phối trí xảy ra là do sự
thay thế những phân tử nước bằng những phân tử thuố
c thử trung hoà. Do đó sản phẩm
phản ứng là cation có điện tích đúng bằng điện tích của cation kim loại ban đầu. Mặc dù sản
phẩm phản ứng thừơng tan trong nước nhưng đôi khi có thể chiết bằng những dung môi hữu
cơ nhờ cation hữu cơ khối lượng lớn và những anion thích hợp.
Ví dụ: Có thể chiết phức của Cu và Fe với những dẫn xuất của 1, 10-phenanthroline
bằng rượu cao phân tử.
Những thuốc thử tạo số chelate lớn hơn với 1 đơn phân tử thuốc thử (ví dụ
ethylenediaminetetracetic acid và những thuốc thử nói chung) không tạo chelate không
thuộc vào ba loại hợp chất kể trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status