II.HIỆN TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
RỪNG:
II.1. Khái niệm rừng:
•
•
Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối
liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi
không gian nhất định ở mặt đất và trong
khí quyển (Morozov 1930). Rừng
chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là
một bộ phận của cảnh quan địa lý.
•
•
Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa
lý, trong đó bao gồm một tổng thể các
cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi
sinh vật. Trong quá trình phát triển của
mình chúng có mối quan hệ sinh học và
ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh
bên ngoài (M.E. Tcachenco 1952).
•
•
Rừng là sự hình thành phức tạp của tự
Rừng là sự hình thành phức tạp của tự
nhiên, là thành phần cơ bản của sinh
nhiên, là thành phần cơ bản của sinh
quyển địa cầu (I.S. Mê lê khôp 1974).
quyển địa cầu (I.S. Mê lê khôp 1974).
•
•
Rừng cũng có thể hiểu bằng một cách
II.1.1.1. Rừng lá kim
II.1.1.1. Rừng lá kim
:
:
o Ở vùng ôn đới có thành phần khá đồng nhất, khí hậu lạnh, có
thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất thấp hơn vùng nhiệt đới
(nhóm cây đặc trưng là thông, vân sam, lim sam và cây Seqnota
khổng lồ).
o Phân bố chủ yếu ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Nga, Trung Quốc và một
số vùng núi cao nhiệt đới.
II.1.1.2. Rừng rụng lá ôn đới
II.1.1.2. Rừng rụng lá ôn đới
:
:
Giáp nhiệt đới và phân bố chủ yếu ở vùng thấp, chủ yếu ở Châu
Giáp nhiệt đới và phân bố chủ yếu ở vùng thấp, chủ yếu ở Châu
Âu, Đông Bắc Mỹ, Nam Mỹ, một phần Trung Quốc, Nhật Bản,
Âu, Đông Bắc Mỹ, Nam Mỹ, một phần Trung Quốc, Nhật Bản,
Oxtrâylia…nó thường rụng lá vào mùa thu, chiếm phần lớn diện
Oxtrâylia…nó thường rụng lá vào mùa thu, chiếm phần lớn diện
tích canh tác của những nước này khoảng 35% diện tích .
tích canh tác của những nước này khoảng 35% diện tích .
Rừng taiga có tại khu vực có vĩ độ cao của Bắc bán cầu, chỉ dưới
tundra (lãnh nguyên) và phía trên của các thảo nguyên.
Taiga hay rừng taiga (từ tiếng Mông Cổ) là một quần xã sinh vật
với đặc trưng nổi bật là các rừng cây lá kim. Taiga bao phủ hầu hết phần
trên đại lục của Alaska, Canada, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy và Nga
(đặc biệt là Siberi), cũng như phần xa nhất về phía bắc của Hoa Kỳ
Rừng nhiệt đới có giá trị kinh tế cao phục vụ đời sống con người
Rừng nhiệt đới có giá trị kinh tế cao phục vụ đời sống con người
do có khối lượng sinh học cao phong phú về số lượng cũng như
do có khối lượng sinh học cao phong phú về số lượng cũng như
chất lượng nên đang bị con người khai thác một cách triệt để
chất lượng nên đang bị con người khai thác một cách triệt để
Diện tích chỉ còn khoảng 50% so với trước và chỉ còn chiếm 8%
Diện tích chỉ còn khoảng 50% so với trước và chỉ còn chiếm 8%
so với diện tích lục địa.
so với diện tích lục địa.
VD:
VD:
Rừng Cúc Phương khu rừng nhiệt đới điển hình, có diện tích
Rừng Cúc Phương khu rừng nhiệt đới điển hình, có diện tích
22,000 mẩu.
22,000 mẩu. Đây là một rừng nguyên sinh trong vùng đá vôi với rất
Đây là một rừng nguyên sinh trong vùng đá vôi với rất
nhiều hang động.
nhiều hang động. Có những động còn di tích chứng tỏ rằng loài người
Có những động còn di tích chứng tỏ rằng loài người
đã xử dụng từ 12.500 năm về trước.
delacouri) là biểu tượng của rừng Cúc Phương. Ngoài ra những loài
Ngoài ra những loài
Cu li lùn, Tê Tê đang nằm trong sách đỏ Việt Nam.
Cu li lùn, Tê Tê đang nằm trong sách đỏ Việt Nam. Rừng có hai loài sóc bay.
Rừng có hai loài sóc bay.
Đặc biệt là một loài Sóc bụng đỏ ( Callosciurus erythraeus
Đặc biệt là một loài Sóc bụng đỏ ( Callosciurus erythraeus
cucphuongensis)
cucphuongensis) chỉ có ở rừng Cúc Phương mà thôi.
chỉ có ở rừng Cúc Phương mà thôi. Rừng có hai loại dơi.
Rừng có hai loại dơi. Dơi Đốm Hoa (Scotomanes ornatus) thấy lần
Dơi Đốm Hoa (Scotomanes ornatus) thấy lần
đầu tiên ở Việt Nam tại Rừng Cúc Phương.
đầu tiên ở Việt Nam tại Rừng Cúc Phương.
Trong số 4 loài gà, ba loại là chim quý được bảo vệ, đó là Công
chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển. Rừng phòng hộ bảo vệ môi
trường sinh thái: Nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi
trường trong các khu dân cư,
khu đô thị, khu du lịch.
Rừng phòng hộ 5,42
triệu ha, chiếm 46,8% (năm
2000)
II.1.1.5. Rừng đặc dụng:
Được sử dụng cho mục
Được sử dụng cho mục
đích đặc biệt như bảo tồn
đích đặc biệt như bảo tồn
thiên nhiên, mẩu chuẩn hệ
thiên nhiên, mẩu chuẩn hệ
sinh thái, bảo tồn nguồn gen
sinh thái, bảo tồn nguồn gen
động thực vật, phục vụ
động thực vật, phục vụ
nghiên cứu khoa học…
nghiên cứu khoa học…
Bao gồm các vườn quốc
Bao gồm các vườn quốc
gia, các khu bảo tồn thiên
gia, các khu bảo tồn thiên
nhiên, các khu văn hóa lịch sử và môi trường
nhiên, các khu văn hóa lịch sử và môi trường
Rừng đặc dụng 1,443 triệu ha, chiếm 12,46% (năm 2000)
II.1.1.5.1.Vườn quốc gia:
Là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hay nhiều
chính dịch vụ. Ba phân khu này gọi là vùng lõi của rừng đặc dụng
ngoài ra còn có vùng đệm.
• Mọi hoạt động của rừng đặc dụng phải được phép của chủ rừng và
phải tuân theo quy chế quản lý rừng.
II.1.1.5.5.Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
Là khu vực được đảm bảo toàn nguyên vẹn và quản lý bảo vệ chặt
chẽ nhằm theo dõi diễn biến tự nhiên, nghiêm cấm mọi hành vi làm thay
đổi cảnh quan tự nhiên của khu rừng. Cơ chế bảo vệ: nhà nước cẩm hoàn
toàn các hoạt động sau:
• Làm thay đổi cảnh quan tự nhiên.
• Làm ảnh hưởng thay đổi đến đời sống tự nhiên của các loái động
thực vật hoang dã.
• Cấm thả và nuôi trồng các loài động thực vật từ nơi khác tới.
• Cấm khai thác tài nguyên sinh vật.
• Cấm chăn thả gia súc.
• Cấm gây ô nhiễm môi trường.
• Cấm mang hóa chất độc hại vào rừng, đốt lửa trong rừng, ven rừng
II.1.1.6. Rừng ngập mặn
II.1.1.6. Rừng ngập mặn
:
:
Các vỉa san hô và cỏ biển còn nguyên vẹn có thể làm giảm nhẹ hoặc
tiêu tan các đợt sóng thần cao 15 mét. Một nghiên cứu của Nhật Bản cho
thấy, một Rừng ngập mặn có chiều rộng 100 mét có thể làm giảm 50%
chiều cao của sóng triều và giảm 50% năng lượng của sóng. Trong đợt
động đất và sóng thần ngày 26 tháng 12 năm 2004, tại đảo Pulau Sêmplu
của Inđônêxia nằm gần tâm ngoài của trận động đất, chỉ có 100 người bị
chết vì những người dân trên đảo đã học được kinh nghiệm chạy trốn lên
vùng đất cao và những vùng có rừng ngập mặn bao quanh
Việt Nam với bờ biển dài 3260 km, nằm trong vùng nhiệt đới gió
nhưng một số địa phương lại có chủ trương phá rừng đi để làm đầm tôm,
vì lợi ích trước mắt không tính đến hậu quả lâu dài. Hậu quả cơn bão số
7, số 6 là những bài học rất đắt giá cho chúng ta".
Chúng ta đều biết rằng, ngay sau trận sóng thần và động đất xảy ra ở
khu vực Nam Á cuối năm ngoái, rất nhiều hội thảo khoa học về thảm hoạ
thiên tai đã được tổ chức và tầm quan trọng của rừng ngập mặn trong
việc phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai đã được các quốc gia đặc biệt
quan tâm, chú ý. Bài học nhãn tiền từ sự thiệt hại về người, về tài sản ở
Thái Lan - đất nước quá quan tâm đến việc phát triển kinh doanh du lịch
mà chưa tính đến sự tổn thất phải trả giá đắt vì thiên tai dường như chưa
đủ vì ở một số địa phương vẫn còn tình trạng phá rừng làm đầm nuôi
trồng thuỷ sản.
II.1.1.7. Rừng sản xuất
II.1.1.7. Rừng sản xuất
:
:
Bao gồm các loại rừng sử dụng để sản xuất kinh doanh gỗ, đặc sản
Bao gồm các loại rừng sử dụng để sản xuất kinh doanh gỗ, đặc sản
rừng, động vật rừng và kết hợp bảo vệ môi trưòng sinh thái
rừng, động vật rừng và kết hợp bảo vệ môi trưòng sinh thái
Rừng sản xuất 4,717 triệu ha, chiếm 40,73% (năm 2000)
Quyết định 147/2007/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành
mới đây thực sự là động lực để thúc đẩy các chủ rừng tham gia trồng
rừng sản xuất, đảm bảo bình quân mỗi năm có thêm 250.000ha (bao
gồm cả diện tích trồng lại rừng sau khai thác).
Tổng mức đầu tư để thực hiện chương trình này khoảng 40.000 tỷ
đồng, trong đó huy động các thành phần kinh tế khoảng 31.000 tỷ đồng,
vốn NSNN 9.000 tỷ đồng.
Cụ thể, ở các xã đặc biệt khó khăn (theo QĐ 164/2006/QĐ-TTg), bà
con được hỗ trợ 3 triệu đồng/ha khi trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn
trồng đến thời kỳ được thu hoạch bảo đảm cung cấp nguyên liệu cho nhà
máy tối thiểu đạt 50% công suất thiết kế, hoặc nơi đặt nhà máy đã có
vùng nguyên liệu bảo đảm cung cấp cho nhà máy đạt 100% công suất
thiết kế cũng được hỗ trợ từ nguồn ngân sách này, kể cả các DN ngoài
quốc doanh.
Nếu là DNNN, Chính phủ chỉ hỗ trợ cơ sở chế biến gỗ đã được cổ
phần hóa với phần vốn nhà nước chiếm không quá 50%.
II.2.Vai trò của rừng:
• Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội,
trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ
• Cung cấp động vât, thựcvật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng
của các tầng lớp dân cư.
• Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản.
• Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao
sức khỏe cho con người.
• Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm phục vụ
nhu cầu đời sống xã hội
+ Vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái
• Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy,
chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ
đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng
lớn cho các nhà máy thủy điện.
• Phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự
xâm nhập của nước mặn bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven
biển
• Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí,
tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện
cho công nghiệp phát triển.
• Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa,
hạn chế lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất
diện tích rừng và đất rừng là 20 triệu ha, chiếm khoảng 20% diện tích
toàn quốc (Tổng cục thống kê năm 1994).
-Trước đây, rừng chiếm diện tích khoảng 60 triệu km
2
.
-Đến năm 1958 chỉ còn 44,05 triệu km
2
(chiếm khoảng 33% diện tích đất
liền).
-Năm 1973 còn 37,37 triệu km
2
.
Hiện nay diện tích rừng ngày càng giảm, chỉ còn khoảng 29 triệu km
2
.
+ Ở Việt Nam:
-Vào năm 1943 có khoảng 14 triệu ha, tỉ lệ che phủ 43% diện tích.
-Năm 1976 còn 11 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 34%.
-Năm 1985 còn 9,3 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 30%.
-Năm 1995, còn 8 triệu ha và tỉ lệ che phủ còn 28%.
Ngày nay chỉ còn 7,8 triệu ha, chiếm 23,6% diện tích, tức là dưới mức
báo động cân bằng 3%.
+Còn trên thế giới:
-Tổng số rừng có trữ lượng gỗ trên 50 m
3
/ha chỉ có khoảng 2,8 tỉ ha, còn
lại là rừng thưa khoảng 1,2 tỉ ha.
-Phần lớn diện tích rừng kín phân bố ở vùng nhiệt
đới.
II.2.2. Tình Hình Chung Về Nạn Phá Rừng:
đã trở nghèo kiệt, các hệ sinh thái rừng
bị phá hủy. Nhiều loại thực vật rừng quý
đang bị chặt hạ, thu hái không có kế
hoạch nên đang
đứng trước nguy cơ
bị tuyệt chủng.
II.2.3.Vấn đề quản
lý và bảo vệ rừng:
- Quản lý và bảo vệ rừng không còn là một vấn
đề mới mẻ nhưng hiện nay đó đang là một vấn
đề hết sức cấp bách.
+ Trong cuộc sống, do những nhận thức về rừng
chưa đầy đủ cùng với sức ép về dân số, sức ép về xã
hội, con người đã lợi dụng các sản phẩm từ rừng một
cách trực tiếp hay gián tiếp. Dù có ý thức hay không có ý thức, con
người đã luôn tác động đến rừng, ở đây nghĩa là tác động đến thành phần
của hệ sinh thái rừng, tác động và làm thay đổi các quy luật vận động
đang diễn ra một cách ổn định, dù chỉ một tác động nhỏ đến rừng cũng
làm thay đổi rất nhiều mối quan hệ
khác nhau trong rừng.
+ Dự đoán trong tương lai, nếu không
có chính sách bảo vệ hữu hiệu của
Nhà nước thì rừng Việt Nam ngày
càng bị ảnh hưởng xấu nghiêm trọng:
gây lũ lụt, xói mòn đất, diện tích đất
trống đồi trọc ngày càng tăng,…
-Nguồn tài nguyên rừng, đất rừng
quốc gia hiện có cũng như trong
tương lai trên cơ sở ổn định lâu dài
để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước về lâm sản, bảo vệ môi trường, nâng
tăng việc làm cho nhân dân, đặc biệt là các cộng đồng miền núi.
THÀNH VIÊN NHÓM 5.2:
1.
1.
Trần Thị Phương Nhi.
2.
2.
Huỳnh Thị Đan Hồng Thủy Tiên.
3.
3.
Thạch Thị Mộng Thu.
4.
4.
Bùi Khắc Sơn.
5.
5.
Lê Trung Tính.
6.
6.
Cao Phương Bình.
7.
7.
Nguyễn Hữu Cao.
8.
8.
Lê Đức Thuận.