Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái - Pdf 18

Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái Các hệ sinh thái là sự tập hợp của các sinh
vật có ảnh hưởng lẫn nhau và môi trường vật
lý trong đó chúng sinh sống.
Các yếu tố và sự tương tác
Các gen, các loài và các thành phần khác
của đa dạng sinh học trên thế giới không thể
bị tách rời khỏi các quá trình của sự sống mà
các thành phần này tạo ra giữa chúng, chẳng
hạn sự sinh sản, sự tiêu thụ, sự tiến hoá.
Cùng với đa dạng sinh học (các yếu tố của sự
sống), các quá trình sinh thái học (những
tương tác giữa các loài cũng như giữa loài với
môi trường của chúng) tạo nên lớp vỏ sự sống
của trái đất - sinh quyển.
Đối với các cá thể và quần thể sinh vật,
những tương tác này bao gồm các cơ chế
như: vật dữ - con mồi, cạnh tranh, ký sinh và
hỗ sinh (trong khi các quần xã thay đổi trong
quá trình tiến hoá). Một dạng tương tác khác,
loài tác động lên môi trường vật lý của chúng -
thông qua, hoặc là quá trình tạo ra sản phẩm
sơ cấp (sự chuyển hoá năng lượng mặt trời
thành sinh khối nhờ quá trình quang hợp),
hoặc là quá trình phân huỷ (phá vỡ các hợp
chất hữu cơ nhờ các sinh vật trong môi
trường), hoặc là sự tham gia vào chu trình
sinh địa hoá (sự vận chuyển chất dinh dưỡng,
nước và các yếu tố hoá học thông qua các

Thực ra, những biến đổi này tuỳ thuộc vào các
loài và các hệ sinh thái khác. Ví dụ, việc biến
mất của một loài sinh vật tại một vùng xác
định (được biết như sự tuyệt diệt hoặc tuyệt
chủng cục bộ) có thể có một chút hoặc không
có ảnh hưởng đến năng suất sơ cấp tinh nếu
có đối tượng cạnh tranh thay thế chúng trong
quần xã. Chẳng hạn ở miền đông nước Mỹ,
cây độc cần miền đông(Tsuga
canadensis) nhanh chóng thay thế cho cây hạt
dẻ Mỹ (Castanea dentata) bị chết như một
trong hai loài ưu thế của rừng.
Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, sự
biến mất khỏi một hệ sinh thái của một loài
xác định có thể làm giảm căn bản năng suất
sơ cấp. Nếu nấm khuẩn căn mất hẳn, tốc độ
sinh trưởng của các loài thực vật mà chúng
giúp hấp thụ nước và chất dinh dưỡng sẽ
giảm đột ngột. Cũng tương tự, nếu chẳng hạn
một loài động vật ăn cỏ như ngựa vằn (Equus
burchelli) và wildebeest (Connochaetes
taurinus) bị đưa đi khỏi thảo nguyên châu Phi,
năng suất sơ cấp tinh của hệ sinh thái sẽ
giảm. Trong một số trường hợp, sự biến mất
của một loài có thể lại làm năng suất của hệ
sinh thái tăng lên, nếu đó là loài ăn thực vật
phàm ăn trên thảm thực vật của hệ sinh thái .
Ví dụ, nhím biển, sao biển, và một số loài
vùng triều khác bị diệt trừ, năng suất của tảo
trong vùng triều và vùng dưới triều đôi khi sẽ

dù độ phong phú loài có thể tăng do việc tăng
tính đa dạng nơi cư trú trong một hệ sinh thái
thì sự can thiệp này có thể là con dao 2 lưỡi .
 Thứ ba, tính không đồng nhất của nơi
cư trú không chỉ ảnh hưởng đến thành phần
loài của một hệ sinh thái, mà còn có ảnh
hưởng tới mối quan hệ qua lại giữa các loài .
 Thứ tư, sự xáo trộn theo chu kỳ có vai
trò quan trong trong việc tăng tính không đồng
nhất của môi trường và duy trì độ phong phú
loài cao .
 Thứ năm, cả kích cỡ và mức độ cô lập
của các phần của nơi cư trú cũng có thể ảnh
hưởng đến độ phong phú loài, và độ rộng của
các vùng chuyển tiếp giữa các vùng cư trú
cũng có tác động tương tự.
 Thứ sáu, các loài khác nhau có ảnh
hưởng khác nhau đối với các đặc tính của một
hệ sinh thái .
Cùng với những kiến thức ngày càng nhiều
về các vai trò đặc thù của loài trong các quần
xã và ảnh hưởng quan trọng của sự xáo trộn
cũng như tính không đồng nhất của môi
trường đối với độ phong phú loài, ngày càng
có thể sử dụng và quản lý đất mà vẫn duy trì
các loài trong vùng đó và cung cấp các dịch vụ
sinh thái có giá trị cho con người .
Việc nhận thức được các mối quan hệ vốn
có trong các giai đoạn khác nhau của tính đa
dạng đặc thù của một hệ sinh thái - kiểu phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status