Tác động của công nghệ sinh học trong các lĩnh vực của đời sống pot - Pdf 18

Tác động của công nghệ sinh học trong
các lĩnh vực của đời sống con
Với những kỹ thuật mới công nghệ sinh học
đã và đang đưa lại lợi ích to lớn cho nhân loại
trên nhiều linh vực, và với sự phát triển trong
thời gian tới báo hiệu công nghệ sinh học sẽ
có những công hiến mới cho con người trên
những hướng sau
Trong nông nghiệp, thực hiện một bước đột
phá cuộc cách mạng xanh trên cơ sở của kỹ
thuật mới của công nghệ sinh học như kỹ
thuật nuôi cấy mô trong ống nghiệm và trong
cơ thể sống để sản xuất cây giống,cây lai con
giống trên quy mô công nghiệp .
Chọn lọc nhân tạo sẽ thay thế cho chọn lọc tự
nhiên trên cơ sở giải mã di truyền, thay đổi hệ
Gen cấy chuyển Gen, tổng hợp Gen v.v. nhờ
kỹ thuật tái tổ hợp AND có thể loại bỏ những
đặc điểm tình trạng không mong muốn trong
quá trình lai và chọn giống, các giống cây
trồng chịu hạn, chịu mặn có thể được sử dụng
ở những vùng đất trước đây không trồng trọt
được, năng suất cây trồng và vật nuôi tăng
cao, dựkiến năm 2020 nền nông nghiệp toàn
cầu sẽ giảm 50% lượng phân hoá học và các
hoá chất trừ sâu hại giảm chi phí sản xuất
đưa lại lợi ích cho người nông dân.
Trong chăm soc sức khoẻ:
Đến nay trên 325 triệu nguời trên trái đất đã
được sự trợ giúp của các loại thuốc và vaccin,
70% thuốc chữa bệnh bằng công nghệ sinh

cấy Gen có thẻ trở thành nguồn cung cấp mới
các loại hocmon và thuốc quý để chữa trị bệnh
khí thũng và các bệnh lây nhiễm ở trẻ sơ sinh
Với sự phát triển của công nghệ sinh học hiện
đại,đặc biệt là cây trồng biến đổi Gen, các nhà
khoa học đã có thể tạo ra các loại cây trồng có
những hoạt chất chữa bệnh được gọi là cây
trồng để làm thuốc chữa bệnh,tên tiếng Anhi
là Plant-Made Pharmaceuticals, tên viết tắt là
PMPs . sản phẩm của các loại cây trồng này
có thể dùng làm thuốc chữa bệnh và bảo về
sức khoẻ con người . Công việc nghiên cứu
này mở ra một thời kỳ mới của công nghiệp
dựoc sinh học ( Biopharmaceutical ) trước mắt
người ta hy vọng nhiều bệnh hiện nay khó
chữa sẽ có thuốc điều trị
Trong môi trường ngoài việc giảm thiểu các
tác hại ô nhiễm, xử lý nước thải, nhiều biện
pháp tái sử dung chất thải công nghiệp được
sử dụng công nghệ sinh học Có thể tạo ra
một tế bào có khả năng lọai trừ các chất thải
phóng xạ bằng cách ghép vào bộ gen của tế
bào đúng một đoạn gen có mã khữ các chất
gây ô nhiễm, hay các kim loại nặng, chẳng
hạn như uranium. Trong công nghiệp giấy,
việc phat hiện ra và kích thích enzyme điều
khiển sự phát triển xellulô trong thực vật đó
giúp phần tăng đáng kể lượng xellulu và làm
giảm những phần tử không cần thiết khác,
nhất là những thành phần gây ô nhiễm lớn.

dụng rộng rãi, đến năm 2010 dự kến có thể
chiếm 10% tổng năng lượng thế giới, một nửa
chất thải từ hộ gia đình ở các nước phát triển
sẽ dựoc tái sử dụng Đa số các nhà chế tạo
cháp nhận các phương pháp sạch (xanh) để
giảm thiểu sự ô nhiễm Tóm lại việc ứng dụng
công gnhệ sinh học trong sản xuất công
nghiệp đã dưa đến một môi trường sạch
hơn,giảm thiểu việc thải chất độ ra môi
trường, duy trì sự bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên và giảm giá thành sản phảm
Trên cơ sở sử dụng các vật liệu sinh học và
các quy trình sinh học vào việc chế tạo các
mạch điện tử sinh học rất bé nhỏ cỡ nanomét
,cũng như các thíết bị sinh học cực nhỏ cho
phép chuyển đổi các phản ứng hoá học thành
các xung điện tử . trong tương lai không xa
các mạch (chip) sinh học sẽ thay thế các
mạch silic trong thế hệ máy tính ,bíết tư duy
với tốc độ xử lý và sức mạnh tính toán tăng
lên nhiều nhiều hơn nữa ,góp phàn giải mã và
điềukhỉên các cơ chế cơ bản của sự sống,
Khi con người chế tạo được những con rệp
chứa tới hàng tỷ linh kiện ,thìlúc dó ranh giới
giữa sinh vật và công nghệ số không còn nữa
. có ngừoi đã gọi những tiến bộ này là làn
sóng cách mang kkhoa thứ tư trong đó máy
tính sinhhọc sẽ được chế tạo trên cơ sở
những thành tựu củầngnh sinh -điện tử học
Nhiều ứng dụng khác của côngnghệ sinh học

nguy hiểm trong những điều kiện khắc nghiệt,
có thể tự quyết định hành vi của mình trong
điều kiện môi trường động, có những giác
quan, có bộ mặt như người và với một trí tuệ
gần như tự nhiên. ở những người máy loại
này, cấu trúc tuyến tính và lôgic của những
mạch vi điện tử truyền thống đã được thay thế
bằng các cấu trúc kiểu mạng noron ở não
người. Những “mạng noron” này không nhất
thiết phải được chương trình hóa, mà có khả
năng học tập, phản ứng, tác động đến môi
trường, nhạy cảm với các giác quan, tự động
quyết định theo các tình huống động, trả lời
theo lệnh của con người.

Khi con người chế tạo ra một con rệp chứa tới
hàng tỷ linh kiện, thì lúc đó ranh giới giữa sinh
vật và công nghệ số không còn nữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status