ASEAN – CHỖ ĐỨNG MỚI CỦA
VIỆT NAM TRONG MỘT THẾ GIỚI
HẬU CHIẾN TRANH LẠNH
MỤC LỤC
A. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM.4
1. Xu thế khu vực hóa 4
2. Từ chạy đua vũ trang đến chạy đua kinh tế 4
3. Vấn đề Campuchia: Khúc mắc được giải quyết 5
2. ASEAN: một góc nhìn mới 6
3. Việt Nam: Sự cần thiết của việc gia nhập ASEAN 7
4. Thái độ của Mỹ và Trung Quốc 8
B. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRÊN CHẶNG
ĐƯỜNG TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN THỨ BẢY CỦA ASEAN 9
C. ĐÁNH GIÁ CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN 13
2
LỜI NÓI ĐẦU
Đầu thập niên 90, trước sự thay đổ của tình hình thế giới, chính sách đối ngoại Việt
Nam trước đây không còn phù hợp nữa. Là một nước trong hàng ngũ phe xã hội chủ
nghĩa trong thời kì chiến tranh lạnh, Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ hai cường quốc
Liên Xô và Trung Quốc. Vậy trong một thế giới hậu chiến tranh lạnh, khi phe khối chủ
nghĩa xã hội đã tan rã, Việt Nam sẽ chọn cho mình con đường nào để tiếp tục? Lịch sử đã
chứng minh tính đúng đắn của câu trả lời mà Việt Nam đã chọn. Việt Nam đã đổi mới,
mở cửa đất nước, nỗ lực tham gia vào các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế.
Bằng việc gia nhập ASEAN, Việt Nam đã đặt bước chân đầu tiên lên con đường
đi tìm vị trí và chỗ đứng mới cho bản thân. Đây được đánh giá là một trong những quyết
định đúng đắn nhất của Việt Nam trong trong thập niên 90. Chúng tôi giới hạn bài viết
của mình trong 5 năm đầu (1991-1995), nghiên cứu chính sách đối ngoại của Việt Nam
trong từng bước gia nhập ASEAN. Bài viết sẽ trả lời cho câu hỏi Tại sao Việt Nam lại
chọn ASEAN làm bước đột phá trong chính sách đối ngoại của mình?
Bài viết đề cập đến ba vấn đề chính xoay quanh câu hỏi nghiên cứu: Những yếu tố
tác động đến quyết định của Việt Nam; Chính sách đối ngoại Việt Nam hướng tới việc trở
động thái của Xô Mỹ đều quyết định đến kết cục của quan hệ quốc tế, và các nước nhỏ, bằng
cách này hay cách khác, đều chịu chi phối từ quyết định của Xô-Mỹ. Cơn sóng liên kết khu vực
lan ra toàn thế giới và Đông Nam Á cũng không nằm ngoài quy luật đó. Một thế giới đa cực đang
hình thành, và đương nhiên, các nước ASEAN cần nhanh nhạy nắm bắt xu thế đó để đưa ra
những quyết sách hợp lý, đảm bảo lợi ích của mình.
Sự hình thành thế giới đa cực đã tạo nên nhiều cơ hội cho những nước nhỏ bé như Việt
Nam vươn lên tìm chỗ đứng chính trị cho mình: cơ hội thoát khỏi các cuộc xung đột nảy sinh từ
các cuộc cạnh tranh mang tính địa chiến lược và những bất đồng về hệ tư tưởng; cơ hội để bắt
đầu thực hiện nhiệm vụ cấp bách là thiết lập một nền hòa bình bền vững và lâu dài cũng như vun
đắp cho tình hữu nghị và thịnh vượng chung ở khu vực; cơ hội để khởi xướng, tăng cường và
phát triển sự hợp tác vì sự tiến bộ chung, chuẩn bị để bước vào thiên niên kỉ mới, thế kỉ XXI.
Chớp được những cơ hội này sẽ tạo đà cho đất nước phát triển ngày càng cao.
Để tận dụng những cơ hội này, Việt Nam cần có sự điều chỉnh linh hoạt trong chính sách
đối ngoại. Quyết sách của những người đứng đầu trong thời điểm nhạy cảm này sẽ ảnh hưởng tới
vận mệnh và chiều hướng phát triển sau này của đất nước.
2. Từ chạy đua vũ trang đến chạy đua kinh tế.
Chiến tranh lạnh kết thúc không chỉ kết thúc một giai đoạn khủng hoảng tinh thần và nghi
kị sâu sắc giữa các nước mà còn là động cơ để thay đổi tiêu chuẩn đánh giá và vị thế của các
nước. Không còn lấy chạy đua vũ trang làm tiêu chuẩn để đánh giá sức mạnh của một nước nữa
mà sức mạnh kinh tế quyết định hết thảy. Phát triển kinh tế đã và đang trở thành cuộc đua mà tất
cả các nước đều tham gia. Kinh tế sẽ quyết định vị thế cũng như tiếng nói của quốc gia trên
trường quốc tế. Kinh tế lên ngôi cũng đồng nghĩa với việc biên giới giữa các quốc gia hầu như
không còn. Đóng cửa sẽ khiến nền kinh tế trì trệ kém phát triển, chỉ có mở cửa và hội nhập mới
giúp nền kinh tế của các nước phát triển được.
4
Sau nhiều thập kỉ chạy đua vũ trang, nhiều nước kiệt quệ về kinh tế và suy giảm vị thế
của mình. Nếu như sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là bá chủ thế giới, chủ nợ của châu Âu và
Nhật Bản với những khoản viện trợ khổng lồ thì ở đầu thập niên 90, Mỹ đứng trước nguy cơ bị
EU và Nhật Bản vượt mặt về kinh tế. Nhưng quốc gia phải trả cái giá đắt nhất là Liên Xô. Thành
trì vững chắc của hệ thống xã hội chủ nghĩa, cường quốc duy nhất có thể đối trọng với Mỹ trong
Thêm vào đó, những bất đồng trong ý thức hệ càng khiến cho mối quan hệ này thêm căng thẳng.
Cần nói thêm rằng, việc tiến quân vào Campuchia của Việt Nam chỉ nhận được sự ủng hộ từ các
5
nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Lào và Đông Âu. Do vậy, các nước ASEAN tin rằng, đây là
sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.
Sau 1978, có rất nhiều cuộc gặp mặt giữa đại diện ngoại giao hai bên nhằm hòa dịu mối
quan hệ và ổn định tình hình khu vực, tuy nhiên, phải đến 1991 với dấu mốc là hiệp định Paris về
vấn đề Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN mới có được những bước chuyển mạnh
mẽ. Hiệp định Paris 1991 đã đặt Campuchia dưới sự bảo trợ và kiểm soát của Liên Hợp Quốc,
chấm dứt hoàn toàn dính líu của các lực lượng quân sự nước ngoài ở Campuchia. Hiệp định này
cùng với việc rút quân năm 1989 đã cho thấy thiện chí của Việt Nam trong vấn đề Campuchia,
kết thúc những căng thẳng đối đầu giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.
Hiệp định Paris 1991 chính thức đưa ra giải pháp hòa bình cho Campuchia đồng thời
cũng gỡ nút thắt trong quan hệ Việt Nam ASEAN. Việc xóa đi những căng thẳng trước đây, cùng
hợp tác, duy trì hòa bình, ổn định khu vực chính là nhiệm vụ mới cho ASEAN. Hiệp định Paris
không chỉ chấm dứt những bất đồng hai bên về vấn đề Campuchia, mà còn mở ra một nền hòa
bình mới cho các nước trong khu vực. Nền hòa bình mong manh này cần có sự đoàn kết của các
nước để cùng duy trì. Chính vì thế, nối lại quan hệ với Việt Nam là một yêu cầu cần thiết đối với
các nước ASEAN trong thời điểm này.
2. ASEAN: một góc nhìn mới
ASEAN là tên viết tắt của Association of South East Asian Nations , Hiệp hội các nước
Đông Nam Á. Thành lập vào năm 1967 với tư cách là một tổ chức an ninh – chính trị bao gồm 5
nước thành viên là Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore (Brunei gia nhập vào
năm 1984). Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ASEAN dần trở thành một tổ chức hợp tác tòan
diện trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hóa. Để làm được điều đó, từ đầu thập niên 90,
ASEAN mở rộng kết nạp thêm các quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar. Kết nạp
các thành viên có thể chế chính trị đối lập và một nền kinh tế kém phát triển là một quyết định
không hề dễ dàng. Nhưng, đây lại là bước đi chiến lược cho quá trình đảm bảo an ninh khu vực
và xây dựng một hình ảnh mới cho tổ chức ASEAN.
Liệu quyết định mở rộng có phải xuất phát từ động lực kinh tế không? Trước những năm
phát triển dựa trên lợi ích của các quốc gia thành viên.
Hội nghị Pari về vấn đề Campuchia (1991), Tuyên bố ASEAN về Biển Đông (1992), ký
Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) năm 1995 là những nỗ
lực của ASEAN thể hiện vai trò ở khu vực. Các nhà Lãnh đạo ASEAN còn quyết định xúc tiến
một tiến trình đối thoại đa phương trong khu vực về hợp tác chính trị - an ninh trên cơ sở mở
rộng cơ chế Hội nghị sau Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (AMM-PMC), mời Liên Hợp Quốc
làm đối tác đối thoại của ASEAN. ASEAN đã thiết lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vào
năm 1994 nhằm lôi kéo tất cả các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương tham gia đối
thoại và xây dựng lòng tin cùng với ASEAN. Với ARF, ASEAN đã thực sự tạo ra một diễn đàn
để ASEAN bàn cùng các nước lớn các vấn đề an ninh chính trị của khu vực.
3. Việt Nam: Sự cần thiết của việc gia nhập ASEAN
Nếu như năm năm đầu tiên của công cuộc đổi mới, chúng ta thực hiện cải cách kinh tế ở
trong nước và bước đầu đạt được những thành tựu đáng kể, thì từ 1991 trở đi, chúng ta chú trọng
hơn vào việc hướng ra thế giới và phát triển quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực. Trước
đây, Việt Nam coi ASEAN như công cụ của Mỹ, nhưng giờ đây, chúng ta đã nhận ra được những
tiềm năng hứa hẹn trong việc gia nhập tổ chức này.
1
Thứ trưởng ngoại giao Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, Tạp chí Cộng sản (11/1994), tr.328-329
7
Về kinh tế, việc gia nhập ASEAN là một sự tiếp nối của chính sách mở cửa đất nước, tìm
kiếm vốn đầu tư và thị trường. Không những thế, khối thị trường chung Đông Nam Á là thử
thách đầu tiên cho nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam. Một điểm quan trọng khác không
thể không nói tới, các nước ASEAN có xuất phát điểm giống Việt Nam, từng là thuộc địa của các
nước phương Tây. Các nước đó đã áp dụng thành công các biện pháp cải cách kinh tế mà Việt
Nam có thể học hỏi. Với các yếu tố đó, Việt Nam hy vọng có thể đuổi kịp và hòa nhập với làn
sóng phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Về chính trị, nỗ lực gia nhập ASEAN của Việt Nam thể hiện mong muốn tạo sự độc lập
tương đối với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc. Mặc dù trên danh nghĩa, Trung Quốc với
Việt Nam là đồng minh đứng cùng hàng ngũ xã hội chủ nghĩa, nhưng những bài học đắt giá trong
lịch sử đã dạy cho Việt Nam phải luôn đề phòng cảnh giác, hợp tác nhưng không được quá phụ
cũng là điều mà Mỹ mong muốn hơn hết.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đang nỗ lực bình thường hóa quan hệ với Việt Nam nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định. Trong một bình luận của tạp chí Time, xuất bản năm 1995, đã khẳng
định: “Để ngăn chặn Trung Quốc, chúng ta phải bắt đầu với những nước láng giềng của Trung
Quốc, đặc biệt là Việt Nam. Việt Nam là kẻ thù truyền thống của Trung Quốc (họ đã có một cuộc
chiến vào năm 1979), vì thế, chúng ta cần làm bạn với Việt Nam”
2
. Bên cạnh lý do Trung Quốc,
Mỹ còn muốn thúc đẩy việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam,
muốn nhắm đến một “diễn biến hòa bình” xảy ra ở Việt Nam, và cơ hội ở một thị trường kinh
doanh đầy tiềm năng, chính vì thế, Hoa Kỳ không có lý do gì để ngăn cản việc Việt Nam gia
nhập ASEAN. Ủng hộ Việt Nam tham gia diễn đàn khu vực cũng là ủng hộ cho những lợi ích của
Hoa Kỳ ở Đông Nam Á.
Về phần Trung Quốc, đối đầu với Việt Nam không còn phù hợp với chính sách Đông
Nam Á của Trung Quốc lúc này nữa. Các nước tư bản phương Tây như Mỹ, ASEAN đang có
thiện chí hợp tác với Việt Nam, sẽ là bất lợi nếu Trung Quốc chậm chân trong xu hướng này.
Trong khi đó, các nước ASEAN vẫn còn lo ngại về ý đồ bành trướng của Trung Quốc. Phản đối
Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ không khác gì sự áp đặt của một nước lớn lên một nước nhỏ trong
khu vực, từ đó làm gia tăng thêm những căng thẳng, mâu thuẫn không đáng có giữa Trung Quốc
và ASEAN. Tính toán đến lợi ích của mình như vậy, Trung Quốc cũng gần như bật đèn xanh,
không gây khó khăn gì trong quá trình Việt Nam gia nhập.
B. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRÊN CHẶNG
ĐƯỜNG TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN THỨ BẢY CỦA ASEAN
I. Chính sách đối ngoại Việt Nam: tiếp
nối và kế thừa
Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ 17 - 22/6/1991) trên cơ sở đánh giá những
nguyên nhân tạo nên những thành tựu - hạn chế của việc thực hiện nghị quyết Trung ương (6, 7,
8) Đại hội VII chỉ ra những vấn đề mới nảy sinh. Đại hội thông qua cương lĩnh phương hướng cơ
bản về thời kỳ qúa độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và chiến lược ổn định phát triển kinh tế
- xã hội (đến năm 2000) của Việt Nam.
Chủ trương này đã làm cho chính sách đối ngoại của Đảng, nhà nước phát triển cả về nội
dung - phương hướng chỉ đạo hoạt động đối ngoại, có tính chất quyết định trong công cuộc đổi
mới đất nước; sự phát triển này làm cho "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng
đồng thế giới" từ một định hướng chiến lược trở thành hiện thực trong chính sách đối ngoại của
Đảng - Nhà nước.
Năm 1993, đồng chí Đỗ Mười nêu ra chính sách 4 điểm, trong đó đề cập đến việc hợp tác
với các nước láng giềng bao gồm phát triển quan hệ với từng nước và tổ chức ASEAN, sẵn sàng
gia nhập ASEAN; sẵn sàng tham gia các diễn đàn đảm bảo hòa bình an ninh, xây dựng khu vực
Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, hợp tác phát triển không có căn cứ quân sự nước ngoài,
không vũ khí hạt nhân; thông qua thương lượng giải quyết vấn đề tồn tại, kể cả tranh chấp biển
Đông.
10
Chính sách đối ngoại của ta giai đoạn 1991-1995 nhìn chung đã tiếp nối, phát triển đường
lối đối ngoại mà Đảng đã đề ra trong thời kì Đổi mới. Nỗ lực trong tiến trình đàm phán, thương
lượng gia nhập ASEAN chính là nỗ lực để triển khai thành công chính sách này.
II. Triển khai chính sách đối ngoại
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với ASEAN thời kì này được triển khai dưới
nhiều hình thức. Đầu tiên phải nhắc đến đó chính là các chuyến thăm cấp cao giữa chính phủ các
nước với mục đích tranh thủ và xoá đi những nghi kị, hiểu lầm lẫn nhau giữa Việt Nam và các
nước trong ASEAN. Việt Nam đã cử những cán bộ cấp cao của mình đến thăm và nói chuyện với
từng nước thành viên trong ASEAN. Các hoạt động đó đã tạo đà phát triển quan hệ ngoại giao,
tiến tới gia nhập vào ASEAN.
Năm 1991, đã có rất nhiều chuyến viếng thăm tới các nước ASEAN và đạt được những
thành tựu đáng kể. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đi thăm hữu nghị một số nước ASEAN như
Malaixia (7-2-1991), Inđônêxia, Thái Lan và Xingapo (từ ngày 24/10-1/11/1991). Tại các chuyến
viếng thăm này, Việt Nam đã ký một số hiệp định về hợp tác trên các lĩnh vực nông nghiệp, cao
su và dầu khí. Ngày 16/11/1991, Singapore bãi bỏ lệnh cấm đầu tư vào Việt Nam.
Quan hệ Việt Nam – Inđônexia đã có một bước tiến lớn khi bộ trưởng ngoại giao
Inđônêxia Alatat tuyên bố với giới báo chí rằng Inđônêxia tán thành việc Việt Nam gia nhập
ASEAN nếu các nước ASEAN khác cũng đồng ý (4-1-1991).
Bộ trưởng cao cấp Lý Quan Diệu cũng có chuyến viếng thăm Việt Nam trong năm này.
Ông kêu gọi Việt Nam cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống luật pháp và cơ chế thị trường để
tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài.
Thái độ tích cực của Việt Nam trong quan hệ với các nước ASEAN đã được ASEAN và
quốc tế đánh giá cao. Đáp lại, các nước ASEAN tuyên bố “muốn Việt Nam sớm gia nhập
ASEAN”
Năm 1994, quan hệ Việt Nam – ASEAN tiếp tục phát triển về chiều rộng và chiều sâu.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam tuyên bố Việt Nam chính thức xúc tiến việc gia nhập ASEAN và giới
lãnh đạo các quốc gia ASEAN cũng bày tỏ sự tán thành với quyết định này.
Đặc biệt, trong tháng 3-1994, đã diễn ra bốn chuyến thăm hữu nghị lẫn nhau của các
nguyên thủ quốc gia Việt Nam và ASEAN (Thủ tướng cộng hòa Xingapo Gô Chốc Tông; Thủ
tướng Vương quốc Thái Lan Chuan Leetpai và tổng thống Cộng hòa Philippin Phidden Ramoots
thăm hữu nghị chính thức Việt Nam; tổng bí thư ĐCS Việt Nam Đỗ Mười thăm chính thức
Malaixia). Hai nước Việt Nam và Singapore kí kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, ngăn ngừa
việc trốn thuế, lậu thuế, thỏa thuận về hợp tác trong vận tải đường bộ cho Hà Nội và Hiệp định về
hợp tác du lịch.
Tháng 4-1994, trong chuyến viếng thăm chính thức Indonêxia, Chủ tịch nước Lê Đức
Anh tuyên bố Việt Nam đang xúc tiến quá trình chuẩn bị để gia nhập ASEAN. Trước thiện chí đó
của Việt Nam, các nhà lãnh đạo cấp cao của ASEAN đã lần lượt tuyên bố hoàn toàn ủng hộ việc
Việt Nam gia nhập tổ chức này.
Tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao Việt Nam lần thứ 27 (22-23/7/1994), các nước ASEAN
đã nhất trí đưa ra tuyên bố “Khẳng định sẵn sàng chấp nhận Việt Nam là thành viên của ASEAN
và chỉ thị cho các quan chức cấp cao và tổng thư kí ASEAN sớm xúc tiến trao đổi với các quan
chức Việt Nam về những dàn xếp và thủ tục”
3
. Như vậy, đến tháng 7/1994, việc Việt Nam gia
nhập ASEAN đã đạt được sự nhất trí cao của các nước thành viên ASEAN và tổ chức ASEAN.
3
Thứ trưởng ngoại giao Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, Tạp chí Cộng sản (11/1994), tr.323
12
không còn là song phương nữa, ASEAN sẽ đại diện cho tiếng nói của Việt Nam, cũng như nó đã
từng đại diện cho Philippines.”
7
Tuy nhiên sau này tài liệu rò rỉ từ WikiLeaks vào năm 2010 tiết
lộ Lý Quang Diệu cho rằng “Asean lẽ ra không nên nhận Miến Điện, Campuchia, Lào và Việt
Nam vào làm thành viên trong thập niên 90. Đó là vì các thành viên cũ của Asean chia sẻ các giá
trị chung và bài Cộng sản. Các giá trị này, theo ông, đã bị các thành viên mới vào “làm vẩn đục”,
và các thành viên mới sẽ không hành xử như các thành viên cũ do họ có nhiều vấn đề về kinh tế
và xã hội.”
4
PHILIP SHENON, Hanoi Joins a Club Created to Blackball It, New York Times, July 29, 1995
5
Michael Richardson, Hanoi's New Asia Role Forced U.S. Move, New York Times, 13/7/1995
6
Michael Richardson, Hanoi's New Asia Role Forced U.S. Move, New York Times, 13/7/1995
7
Wikileaks: Lý Quang Diệu nói gì về Việt Nam?, BBC Việt Nam, 15/12/2010
13
Truyền thông phương Tây nhìn nhận quyết định gia nhập ASEAN của Việt Nam như một
sự thỏa hiệp công khai của chủ nghĩa Cộng Sản, một số còn bày tỏ hy vọng thay đổi này sẽ mở
đầu cho một chuỗi những thay đổi căn bản trong xã hội Việt Nam.
Còn báo chí Việt Nam ca ngợi đây là một sự kiện bước ngoặt, thành công của sự đổi mới
trong chính sách Đối Ngoại Việt Nam. Bên cạnh đó, việc ASEAN kết nạp thêm một quốc gia xã
hội chủ nghĩa là Việt Nam sẽ góp phần thay đổi bản chất và hình ảnh của tổ chức này. Theo như
phát biểu của Tổng Thư ký ASEAN Ong Keng Yong, “trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN, thế
giới coi ASEAN là một tổ chức quân sự thân Mỹ, chống cộng, chống các nước Trung Quốc, Lào,
Việt Nam. Nhưng kể từ ngày 28/7/1995, khi Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội, đã có rất
nhiều điều thay đổi trong Hiệp hội. Hình ảnh của ASEAN trên thế giới và khu vực đã được thay
đổi hoàn toàn vì chỉ việc Việt Nam gia nhập Hiệp hội đã khẳng định ASEAN 5 (Thái Lan,
Philippines, Singapore, Malaysia, Indonesia) không còn kẻ thù.”
giúp Việt Nam vừa có thể hòa nhập với dòng chảy của thế giới vừa giữ được định hướng xã hội
chủ nghĩa của mình.
Các cá nhân có hoạt động nổi bật
Xem xét hoạt động đối ngọai của Việt Nam hướng tới ASEAN, có thể thấy Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt là một nhân tố hoạt động năng nổ và có tầm ảnh hướng lớn. Ông
liên tục thực hiện các chuyến viếng thăm đến các quốc gia ASEAN, đại diện cho một nước Việt
Nam mới, một nước Việt Nam thay đổi và hướng ra thế giới.
Về phía các nước ASEAN, cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu cũng rất tích cực
trong việc chia sẻ kinh nghiệm phát triển đất nước với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ông đến thăm
chính thức Việt Nam tổng cộng 5 lần: tháng 4 năm 1992, tháng 11 năm 1993, tháng 3 năm 1995,
tháng 11 năm 1997 và tháng 11 năm 1998. Tuy sau này ông cho rằng việc ASEAN kết nạp các
nước xã hội chủ nghĩa là một sai lầm, Lý Quang Diệu vẫn đánh giá cao tiềm năng và khả năng
học hỏi của Việt Nam.
Thuận lợi
Việc gia nhập có rất nhiều thuận lợi, vì hai bên đều có thiện chí và đều nỗ lực tăng cường
sự hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp khỏang cách, xích lại gần nhau hơn. Về phía Việt Nam từ năm
1991 đến năm 1995 các lãnh đạo cấp cao của nhà nước liên tục viếng thăm các nước ASEAN,
đặc biệt là Singapore, tiêu biểu nhất là chuyến viếng thăm Singapore của Võ Văn Kiệt […]. Về
phía ASEAN, sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết các nước ASEAN đã có cái nhìn nồng
ấm hơn với Việt Nam. Thái Lan là nước thù nghịch với VN nhất trong vấn đề Campuchia lại là
một trong những nước hăng hái nhất trong việc vận động kêu gọi kết nạp Việt Nam vào ASEAN.
Cựu thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đến thăm Việt Nam tổng cộng 5 lần trong suốt thập
kỉ 1990, qua tự truyện của mình ông bày tỏ nhiều thiện cảm với Việt Nam và trong những chuyến
viếng thăm của mình ông đều nhiệt tình chia sẻ với các nhà lãnh đạo Việt Nam kinh nghiệm xây
dựng đất nước mà ông đã áp dụng thành công với Singapore. Kết quả là Việt Nam nhận thấy
ASEAN không khác biệt và thù nghịch như chúng ta vẫn tin trong một thời gian dài thời chiến
tranh Lạnh. Các nước ASEAN không những không có tinh thần chống cộng sản mà còn giống
Việt Nam ở lịch sử làm thuộc địa và khát khao tự lập tự chủ . Còn ASEAN cũng không còn nhìn
nhận Việt Nam đơn thuần là con rối của Trung Quốc mà đã thấy được ẩn dưới vẻ ngoài phục
tùng và dựa dẫm là một tinh thần độc lập lâu dài và không thể dập tắt. Sau nhiều hiểu lầm và đối
quan hệ hợp tác chính trị - kinh tế với các nước ASEAN mà còn là cầu nối để Việt Nam vươn
mình ra thế giới, thực hiện chính sách đa phương hóa đa dạng hóa quan hệ đối ngoại đã đề ra
trong những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Đây là một thắng lợi ngoại giao to lớn của
chúng ta, chuyển từ tình thế bị cô lập về chính trị đến trở thành trung tâm của sự thay đổi ở Đông
Nam Á, một trong những khu vực có nhịp độ phát triển và diễn biến chính trị đa dạng, nhiều màu
sắc nhất trên thế giới.
Chỉ đến giữa thập kỉ 90 sự kiện này mới có điều kiện trở thành hiện thực là do những biến
động to lớn trên thế giới cũng như sự thay đổi trong tư duy, chiến lược của các nhà lãnh đạo quốc
gia. Chiến Tranh Lạnh kết thúc mở đầu cho thời kì hội nhập phát triển, cùng tồn tại hòa bình giữa
các nước có chế độ chính trị khác nhau và xu hướng khu vực hóa quốc tế hóa. Nhanh nhạy với
những sự thay đổi này, và đáp lại nhu cầu cấp thiết về phát triển kinh tế của đất nước, những
người đứng đầu Việt Nam chủ động học hỏi và nhận ra các nước ASEAN mà chúng ta từng nghi
kị có nhiều tương đồng hơn là khác biệt với Việt Nam. Đông Nam Á là khu vực tồn tại một hệ
thống đa dạng phong phú các thể chế chính trị, mô hình kinh tế, là điểm giao thoa của các nền
văn hóa và các tôn giáo lớn trên thế giới, là cửa ngõ mà trong lịch sử các thế lực trên thế giới đều
tranh giành tầm ảnh hưởng. Trong suốt chiều dài lịch sử và đặc biệt là trong thế kỉ XX các nước
Đông Nam Á đều chịu nhiều máu lửa chiến tranh, bị biến thành thuộc địa hoặc phải lệ thuộc vào
các cường quốc bên ngoài khu vực. Chính kinh nghiệm lịch sử đó đã hun đúc trong mỗi con
người trong mỗi dân tộc tinh thần yêu nước và khát khao độc lập tự chủ. Và những người đứng
đầu mỗi nước trong giai đoạn này đều tiến đến một nhận thức chung phát triển kinh tế và hợp tác
khu vực là chìa khóa để đạt được ước mơ này.
Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN vào ngày 28/7/1995 như một kết thúc
đẹp cho hành trình tìm đến với nhau của Việt Nam và các quốc gia ASEAN. Và nó cũng là mở
đầu cho một câu chuyện mới, một hành trình mới. Hành trình biến các mục tiêu của tổ chức từ lời
nói thành hành động, từ lời hứa hẹn thành hiện thực. Các cuộc khủng hoảng kinh tế, nỗ lực của
các quốc gia bên ngoài nhằm gây ảnh hưởng và cản trở nỗ lực đoàn kết các nước trong ASEAN,
mâu thuẫn trong lợi ích cá nhân mỗi quốc gia với lợi ích của tập thể, tất cả đều là những khó khăn
chúng ta vẫn đang tìm cách để vượt qua. Nhưng đây là con đường đúng đăn mà Việt Nam phải
kiên định đi đến cùng cho lợi ích dài lâu của đất nước.
17
3. PHILIP SHENON, Hanoi Joins a Club Created to Blackball It, July 29, 1995,
http://www.nytimes.com/1995/07/29/world/hanoi-joins-a-club-created-to-blackball-it.html?
scp=6&sq=asean+vietnam&st=nyt
PHỤ LỤC
CÁC SỰ KIỆN CẤP CAO VIỆT NAM – ASEAN 1991-1995
Năm 1991
Ngày 17 – 9-1991
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gửi thư cho Ngoại trưởng
Philippin, Chủ tịch UB thường trực ASEAN, Ngoại trưởng các nước ASEAN khác
và Ban Thư ký về việc VN xin tham gia Hiệp ước Bali 1976.
Năm 1992
27-1-1992
Hội nghị cấp cap lần thứ IV các nước ASEAN tại Singapore ngỏ lời mời VN
và Lào tham gia ký Hiệp ước Bali 1976.
22-7-1992
Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầmdự Hội nghị BTNG ASEAN 25 tại
Manila. VN cùng Lào kí văn kiện tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở ĐNA
(TAC). Sau khi tham gia TAC, ASEAN đã mời VN và Lào làm quan sát viên của
ASEAN, mở đầu cho thời kì thiết lập quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa VN với
hiệp hội ASEAN.
Tại AMM 25, trước những diễn biến phức tạp và đáng lo ngại ở biển Đông,
ASEAN đã thông qua tuyên bố về biển Đông (tuyên bố Manila 7-1992) nhấn mạnh
sự cần thiết phải giải quyết hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực và các
bên liên quan tự kiềm chế; khuyến khích việc thăm dò khả năng hợp tác về những
vấn đề có cùng lợi ích trên biển Đông; đề xuất xây dựng Bộ Luật ứng xử ở biển
Đông trên cơ sở các nguyên tắc của TAC.
Năm 1993
Từ 29-9 đến 31-3 năm 1993
19
Chủ tịch Quốc hội NĐM dự hội nghị AIPO tại Manila.
3. Vấn đề Campuchia: Khánh Linh
4. ASEAN: Một góc nhìn mới: Khánh Linh
5. Việt Nam: Sự cần thiết của gia nhập ASEAN: Huyền Mi
6. Thái độ của Mỹ, Trung Quốc: Khánh Linh
B. Chính sách đối ngoại Việt Nam: Anh Thư, Ngọc Minh.
C. Đánh giá:
1. Đánh giá quốc tế: Anh Thư, Tuyết Nga, Khánh Linh.
2. Đánh giá cá nhân: Tuyết Nga.
Kết luận: Tuyết Nga.
Tổng kết, hoàn thiện: Ngọc Minh, Anh Thư, Khánh Linh, Tuyết Nga.
Đánh giá điểm.
Ngọc Minh: 8.5
Anh Thư: 8.5
Khánh Linh: 8.5
Tuyết Nga: 8.5
Huyền Mi: 7
21