1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN ĐIỆN
*&*
BÁO CÁO
TÌM HIỂU VỀ MÁY PHÁT ĐIỆN
Nhóm sinh viên thực hiện: NGUYỄN KHẮC TẦN
LÊ THANH TÂN
VŨ VĂN TÂN
NGUYỄN ĐỨC TẤN
Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Xuân Hòa
HÀ NỘI 4/201
2
MỤC LỤC
I.Khái quát chung về máy phát Điện 4
1.Khái niệm về máy phát Điện 4
2.Phân loại máy phát điện 4
2.1 Máy phát điện công suất thấp 4
2.2 Máy phát điện - động cơ nổ 5
2.3 Máy phát điện động cơ nổ- công suất trung bình 6
2.4 Máy phát điện tua bin nước 7
2.5 Máy phát điện tua bin hơi và tua bin khí 7
II.Ứng dụng của máy phát điện hiện nay 10
1.Trong nhà máy thủy điện 10
1.1.Khái niệm về nhà máy thủy điện 10
1.2.Ưu điểm của nhà máy thủy điện 10
1.3.Nhược điểm của nhà máy thủy điện 12
1.4.Tầm quan trọng của nhà máy thủy điện 13
2.Trong nhà máy nhiệt điện 14
2.1. Khái niệm về nhà máy nhiệt điện 14
2.2 Nguyên lý chung của nhà máy nhiệt điện 15
suất của nó chỉ có thể đạt được đến 60% với những máy phát tốt nhất, và 40%
với loại thông thường, do phải sử dụng nam châm vĩnh cửu. Nhưng nếu muốn
dùng máy phát điều chỉnh được kích từ, lại phải dùng bình ắc quy. Điều này
không thể chấp nhận được, vì nó làm tăng trọng lượng và kích thước.
Những thuyền buồm thường sử dụng các máy phát kéo bằng sức
nước hoặc sức gió, để nạp điện từ từ cho các bình ắc quy. Những
chiếc chân vịt, các tua bin gió hoặc các bánh xe công tác sẽ được kết
nối với các máy phát công suất thấp và bộ chỉnh lưu để có dòng điện
đến 12 A ở tốc độ nhỏ nhất.
5
2.2 Máy phát điện - động cơ nổ
Máy phát điện - động cơ của một trạm thu phát vô tuyến. (nhà bảo tàng
quân sự Dubendorf). Máy phát chỉ phát điện khi cần phát tín hiệu vô tuyến. Còn
phía máy thu thì dùng nguồn ắc quy.
Máy phát điện quay tay của trạm thu phát vô tuyến (nhà bảo tàng quân sự
Dubendorf)
Một máy phát điện - động cơ nổ là tổ hợp một máy phát điện và một động
cơ nổ kéo nó thành một khối thiết bị. Tổ hợp này có khi được gọi là bộ máy
phát điện - động cơ (engine-generator set) hoặc bộ máy phát (gen-set). Trong
nhiều ngữ cảnh khác nhau, người ta có thể quên đi cái động cơ nổ, mà chỉ gọi
đơn thuần cả tổ hợp là máy phát điện (generator).
Đi kèm với máy phát điện và động cơ nổ, các bộ máy phát điện - động cơ
nổ thường có kèm theo một bồn chứa nhiên liệu, một bộ điều tốc cho động cơ
nổ và một bộ điều thế cho máy phát điện. Nhiều khối máy còn kèm theo bình ắc
quy và bộ động cơ điện khởi động. Những tổ máy dùng làm máy phát dự phòng
thường bao gồm cả hệ thống tự động khởi động và một bộ chuyển mạch đảo
nguồn transfer switch để tách tải ra khỏi nguồn điện dịch vụ và nối vào máy
phát.
Các bộ máy phát điện - động cơ nổ cung cấp công suất điện xoay chiều
Các máy phát điện dự phòng thường được lắp đặt cố định và luôn sẵn
sàng hoạt động để cấp điện cho những tải quan trọng khi nguồn điện lưới bị
gián đoạn. Bệnh viện, các cơ sở thông tin liên lạc, các trạm bơm và rất nhiều
các dịch vụ quan trọng đều được lắp đặt máy phát điện dự phòng.
Các máy phát điện cỡ nhỏ hoặc cỡ trung đặc biệt phổ biến ở các nước
trong thế giới thứ ba, nơi nguồn điện lưới không tin cậy. Các máy phát điện đặt
trên rơ moóc có thể được kéo đến những vị trí thiên tai khi nguồn điện lưới bị
gián đoạn.
Máy phát điện cũng có thể được vận hành bằng sức người để tạo ra nguồn
điện tức thời trong lĩnh vực thông tin liên lạc.
2.3 Máy phát điện động cơ nổ- công suất trung bình
Máy phát điện - động cơ nổ công suất trung bình như hình vẽ dưới đây là
một bộ máy có công suất 100 kVA cấp điện áp 415 V với dòng điện khoảng 110
A per phase. Nó được kéo bằng một máy Perkins Phaser, sê ri 1000 dung tích
7
xy lanh 6,7l có hệ thống nạp gió kiểu turbo. Máy này tiêu thụ khoảng 27l nhiên
liệu mỗi giờ, có bồn chứa 400 l. Các máy phát điện tĩnh có thể được thiết kế đến
hàng nghìn kW và thường quay ở tốc độ 1500 vòng/phút với tần số 50 Hz, và
1800 vòng/phút với tần số 60 Hz. Các bộ máy sử dụng động cơ diesel ở công
suất tối ưu có thể phát được khoảng 3 kWh với mỗi kG nhiên liệu, và có thể có
hiệu suất thấp hơn khi làm việc ở các tải khác.
2.4 Máy phát điện tua bin nước
Thông thường, các tua bin nước có tốc độ thấp. Vì thế các máy phát điện
kéo bằng tua bin nước cũng có tốc độ rất thấp. Các máy này thường có nhiều
đôi cực, trục ngắn, đường kính lớn, chế tạo theo kiểu cực lồi. Tùy theo thể loại,
và tùy theo tốc độ của tua bin nước, các máy này có thể được đặt đứng hay nằm
ngang.
Đối với những máy phát điện nhỏ, có đường kính ngoài nhỏ hơn 1 m,
mạch từ của stator chỉ là một khối hình xuyến làm bằng các lớp lá thép kỹ thuật
điện có sơn cách điện ghép lại. Đối với các máy có đường kính lớn hơn 1 m,
lấy điện đưa xuống sử dụng cho các thiết bị điện phụ vụ cho tổ máy vận hành,
người ta dùng một máy biến áp hạ áp, trong trường hợp này gọi là máy biến áp
tự dùng.
Rotor của một máy phát điện tua bin khí sau khi được rút ra ngoài, và
chuẩn bị cầu về cơ xưởng
Rotor của nó có dạng trụ có xẻ rãnh, quấn nhiều cuộn dây kích từ đồng
tâm. Hai đầu chỗ các mối hàn nối các thanh và các cuộn dây với nhau được bảo
vệ bằng một vòng thép hình trụ, gọi là vòng hộ hoàn. Các dây dẫn ra ngoài được
dẫn xuyên qua dọc theo trục máy để đưa ra phía đầu rotor. Từ đó có thể nối vào
các vành nhận điện, để có thể đưa dòng điện từ bên ngoài vào qua các chổi than.
Dòng điện đưa vào rotor máy phát điện thường là dòng điện một chiều, gọi
là dòng kích thích.
Thông thường, hai đầu của rotor đều có lắp đặt cánh quạt để thổi chất khí
đi vào theo các dường dẫn đặt sẵn, để làm mát máy. Chất khí đó có thể là không
khí tự nhiên, thông với môi trường bên ngoài, hoặc khí hydrogen, tuần hoàn kín.
Trong trường hợp tuần hoàn kín, có thể phải lắp đặt thêm một số bộ trao đổi
nhiệt, để làm mát chất khí đó bằng nước.
Các máy phát điện tua bin hơi và máy phát điện tua bin khí có thể chế tạo
từ một vài MW đến 700 MW.
10
II.Ứng dụng của máy phát điện hiện nay
1.Trong nhà máy thủy điện
1.1.Khái niệm về nhà máy thủy điện
Thuỷ điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước. Đa số năng lượng
thuỷ điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay
một tuốc bin nướcvà máy phát điện. Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng
lượng động lực của nước hay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước
như năng lượng thuỷ triều. Thuỷ điện là nguồn năng lượng có thể hồi phục.
Năng lượng lấy được từ nước phụ thuộc không chỉ vào thể tích mà cả vào sự
khác biệt về độ cao giữa nguồn và dòng chảy ra. Sự khác biệt về độ cao được
yêu cầu tưới tiêu có thể xảy ra không trùng với thời điểm yêu cầu điện lên mức
cao nhất. Những thời điểm hạn hán có thể gây ra các vấn đề rắc rối, bởi vì mức
bổ sung nước không thể tăng kịp với mức yêu cầu sử dụng. Nếu yêu cầu về mức
nước bổ sung tối thiểu không đủ, có thể gây ra giảm hiệu suất và việc lắp đặt
một turbine nhỏ cho dòng chảy đó là không kinh tế.
Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ
điện lớn có thể phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh. Trên thực tế,
các nghiên cứu đã cho thấy rằng các đập nước dọc theo bờ biểnĐại Tây
Dương và Thái Bình Dương của Bắc Mỹ đã làm giảm lượng cá hồi vì chúng
ngăn cản đường bơi ngược dòng của cá hồi để đẻ trứng, thậm chí ngay khi đa số
các đập đó đã lắp đặt thang lên cho cá. Cá hồi non cũng bị ngăn cản khi chúng
bơi ra biển bởi vì chúng phải chui qua các turbine. Điều này dẫn tới việc một số
vùng phải chuyển cá hồi con xuôi dòng ở một số khoảng thời gian trong năm.
Các thiết kế turbine và các nhà máy thuỷ điện có lợi cho sự cân bằng sinh
thái vẫn còn đang được nghiên cứu.
Sự phát điện của nhà máy điện cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường
của dòng sông bên dưới. Thứ nhất, nước sau khi ra khỏi turbine thường chứa rất
ít cặn lơ lửng, có thể gây ra tình trạng xối sạch lòng sông và làm sạt lở bờ sông.
Thứ hai, vì các turbine thường mở không liên tục, có thể quan sát thấy sự thay
đổi nhanh chóng và bất thường của dòng chảy. Tại Grand Canyon, sự biến đổi
dòng chảy theo chu kỳ của nó bị cho là nguyên nhân gây nên tình trạng xói
mòn cồn cát ngầm. Lượng oxy hoà tan trong nước có thể thay đổi so với trước
đó. Cuối cùng, nước chảy ra từ turbine lạnh hơn nước trước khi chảy vào đập,
điều này có thể làm thay đổi số lượng cân bằng của hệ động vật, gồm cả việc
gây hại tới một số loài. Các hồ chứa của các nhà máy thuỷ điện ở các vùng nhiệt
đới có thể sản sinh ra một lượng lớn khí methane và carbon dioxide. Điều này
13
bởi vì các xác thực vật mới bị lũ quét và các vùng tái bị lũ bị tràn ngập nước,
mục nát trong một môi trường kỵ khí và tạo thành methane, một khí gây hiệu
ứng nhà kính mạnh. Methane bay vào khí quyển khí nước được xả từ đập để
lượng điện này chiếm hơn 70% tổng lượng sản xuất của họ.
Ngoài một số nước có nhiều tiềm năng thuỷ điện, năng lực nước cũng
thường được dùng để đáp ứng cho giờ cao điểm bởi vì có thể tích trữ nó vào giờ
thấp điểm (trên thực tế các hồ chứa thuỷ điện bằng bơm – pumped-storage
hydroelectric reservoir - thỉnh thoảng được dùng để tích trữ điện được sản xuất
14
bởi các nhà máy nhiệt điện để dành sử dụng vào giờ cao điểm). Thuỷ điện
không phải là một sự lựa chọn chủ chốt tại các nước phát triển bởi vì đa số các
địa điểm chính tại các nước đó có tiềm năng khai thác thuỷ điện theo cách đó đã
bị khai thác rồi hay không thể khai thác được vì các lý do khác như môi trường.
2.Trong nhà máy nhiệt điện
2.1. Khái niệm về nhà máy nhiệt điện
Trong nhà máy nhiệt điện, cơ năng được tạo ra bởi động cơ nhiệt. Động
cơ nhiệt tạo ra cơ năng bằng nhiệt được lấy bằng cách đốt nhiên liệu. Cơ năng ở
đây được lưu trữ dưới dạng động năng quay của tuabin. Khoảng 80% các nhà
máy điện dùng tuabin hơi nước, tức là dùng sử dụng hơi nước đã được làm bốc
hơi bởi nhiệt để quay tuabin. Theo định luật hai nhiệt động lực học, nhiệt năng
không thể chuyển hết thành cơ năng. Do đó luôn có mất mát nhiệt ra môi
trường. Lượng nhiệt mất mát này có thể được sử dụng vào các mục đích khác
như sửi ấm, khử muối của nước.
15
2.2 Nguyên lý chung của nhà máy nhiệt điện
•
Than (nhiên liệu) được vận chuyển tới một hầm ngầm, từ đó được nghiền
nhỏ và đưa vào lò hơi. Bên trong bức tường lò hơi có các đường ống dẫn nước.
Khi lò hơi hoạt động nước ở trong các đường ống bị bay hơi. Hơi nước tạo ra (ở
nhiệt độ và áp suất cao) được đưa tới trụ hơi, ở đó nó được đưa qua máy sưởi
rồi thông qua các đường ống phân phối hơi nước để tới cánh quạt của tua bin,
một phần hơi nước ngưng tụ được bơm quay trở lại lò. tua bin được nối với máy
phát điện. Một phần hơi nước ngưng tụ được bơm quay trở lại lò. Điện năng tạo
Một phần nơtron tự do này sau đó được
hấp thụ bởi các nguyên tử phân hạch khác và tiếp tục tạo ra nhiều nơtron hơn.
[46]
Đây là phản ứng tạo ra nơtron theo cấp số nhân.
Phản ứng dây chuyền hạt nhân này có thể được kiểm soát bằng cách sử
dụng chất hấp thụ nơtron và bộ đều hòa nơtron để thay đổi tỷ lệ nơtron tham gia
vào các phản ứng phân hạch tiếp theo.
[46]
Các lò phản ứng hạt nhân hầu hết có
các hệ thống vận hành bằng tay và tự động để tắt phản ứng phân hạch khi phát
hiện các điều kiện không an toàn.
[47]
Hệ thống làm lạnh giải phóng nhiệt từ lõi lò phân ứng và vận chuyển
nhiệt đến bộ phận phát điện từ nhiệt năng này hoặc sử dụng vào những mục
đích khác. Đặc biệt chất làm lạnh nóng là nguồn nhiệt sẽ được dùng cho các lò
nung, và hơi nước nén từ lò nung sẽ làm quay các tuốc bin hơi nước vận hành
các máy phát điện.
[48]
Có nhiều kiểu lò phản ứng khác nhau sử dụng các nguyên liệu, chất làm
lạnh và các cơ chế vận hành khác nhau. Một vài trong các mẫu này được thiết
đạt yêu cầu kỹ thuật. Lò phản ứng dùng trong các tàu ngầm hạt nhân và các các
tàu hải quân lớn, ví dụ, thường sử dụng nhiên liệu urani được làm giàu rất cao.
Việc sử dụng nguyên liệu urani làm giàu rất cao sẽ làm tăng mật độ năng lượng
của lò phản ứng và gia tăng hệ số sử dụng của tải lượng nhiên liệu hạt nhân,
nhưng giá của nó đắt và có nhiều rủi ro hơn so với các nguyên liệu hạt nhân
khác.
Một số kiểu lò phản ứng mới dùng cho các nhà máy máy điện hạt nhân,
như các lò phản ứng hạt nhân thế hệ IV, là đối tượng nghiên cứu và có thể được
sử dụng để thí nghiệm phát điện trong tương lai. Một vài trong số các kiểu mới
này đang được thiết kế để đạt được các phản ứng phân hạch sạch hơn, an toàn
năng lượng này giúp họ phát triển kinh tế một cách nhanh chóng (xem
thêm phát triển năng lượng). Trong chính sách năng lượng của Liên liệp Vương
quốc Anhcũng nêu rằng có sự sụt giảm cung cấp năng lượng trong tương lai, để
bù đắp vào sự thiếu hụt đó hoặc là xây dựng các nhà máy năng lượng hạt nhân
mới hoặc là kéo dài tuổi thọ của các nhà máy hiện tại.
[cần dẫn nguồn]
Một trở ngại trong việc sản xuất các nhà máy điện hạt nhân là chỉ có 4
công ty toàn cầu (Japan Steel Works, China First Industries, OMX Izhora và
Doosan Heavy Industries) có khả năng sản xuất các bộ vỏ bọc
[33]
, bộ phân này
có chức năng làm giảm rủi ro rò rỉ hạt nhân. Japan Steel Works chỉ có thể sản
xuất 4 vỏ bọc lò phản ứng 1 năm, tuy nhiên sản lượng có thể tăng lên gấp đôi
trong 2 năm tới. Các nhà sản xuất khác đang xem xét những lựa chọn khác nhau
bao gồm cả việc tự làm các bộ phận của lò phản ứng cho riêng họ hoặc tìm
kiếm cách khác để làm những bộ phận tương tự bằng cách sử dụng các phương
pháp thay thế.
[34]
Các giải pháp khác bao gồm việc sử dụng các mẫu thiết kế
không đòi hỏi các lớp vỏ bọc chịu áp suất riêng biệt như ở lò phản ứng CANDU
cải tiến, Canada hoặc lò phản ứng nhanh làm lạnh bằng natri.
19
Các công ty khác có thể làm những xưởng luyện kim lớn đòi hỏi các vỏ
bọc chịu áp suất như OMZ của Nga, là loại đang được nâng cấp có thể sản xuất
từ 3 đến 4 vỏ bọc một năm Doosan Heavy Industries Hàn Quốc và Mitsubishi
Heavy Industries đang tăng công suất sản xuất các vỏ bọc chịu áp lực và các bộ
phận lò hạt nhân lớn khác lên gấp đôi.
[38]
Sheffield Forgemasters của Anh đang
đánh giá lợi nhuận của việc chế tạo các công cụ này đối với xưởng đúc vật liệu
Năm 2008, IAEA dự đoán rằng công
suất điện hạt nhân có thể tăng gấp đôi vào năm 2030, mặc dù nó không đủ để
tăng tỷ lệ điện hạt nhân trong ngành điện
4.Nhà máy điện Mặt Trời
4.1. Khái niệm về năng lượng mặt trời
Năng lượng Mặt Trời là một nguồn năng lượng sạch và dường như là vô
tận, theo nghiên cứu dòng năng lượng này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khi phản
ứng hạt nhân trên Mặt Trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỷ năm nữa. Năng
lượng Mặt Trời có thể chuyển hóa thành điện năng, nhiệt năng Trong phần này
chúng ta sẽ nghiên cứu cách biến đổi quang năng thành điện năng, cụ thể sẽ
nghiên cứu thiết bị để thực hiện công việc đó, đó chính là tấm năng lượng mặt
trời hay còn gọi là pin mặt trời.
20
4.2. Nguyên lý hoạt động
Từ giàn pin mặt trời, ánh sáng được biến đổi thành điện năng, tạo ra dòng
điện một chiều (DC). Dòng điện này được dẫn tới bộ điều khiển là một thiết bị
điện tử có chức năng điều hoà tự động các quá trình nạp điện vào ắc-quy và
phóng điện từ ắc-quy ra các thiết bị điện một chiều (DC). Trường hợp công suất
giàn pin đủ lớn, trong mạch điện sẽ được lắp thêm bộ đổi điện để chuyển dòng
một chiều thành dòng xoay chiều (AC), chạy được thêm nhiều thiết bị điện gia
dụng (đèn, quạt, radio, TV…).
H1. Nguyên lý hoạt động
21
4.3. Triển vọng của năng lượng mặt trời
Ứng dụng NLMT dưới dạng này được phát triển với tốc độ rất nhanh,
nhất là ở các nước phát triển. Ngày nay ứng dụng NLMT để chạy xe thay thế
dần nguồn năng lượng truyền thống. Tuy nhiên giá thành thiết bị pin mặt trời
còn khá cao, trung bình hiện nay khoảng 5 - 10 USD/Wp, nên ở những nước
đang phát triển, pin mặt trời hiện mới chỉ có khả năng duy nhất là cung cấp
năng lượng điện sử dụng cho các vùng sâu, vùng xa, nơi đường điện quốc gia
tượng phục vụ là người dân, do dân quản lý và vận hành.
Ở khu vực phía Bắc, việc ứng dụng các dàn PMT phát triển với tốc độ
khá nhanh, phục vụ các hộ gia đình ở các vùng núi cao, hải đảo và cho các trạm
biên phòng. Công suất của dàn pin dùng cho hộ gia đình từ 40 - 75 Wp. Các dàn
dùng cho các trạm biên phòng, nơi hải đảo có công suất từ 165 - 300 Wp. Các
dàn dùng cho trạm xá và các cụm văn hoá thôn, xã là 165 - 525 Wp. Tại Quảng
Ninh có hai dự án PMT do vốn trong nước (từ ngân sách) tài trợ:
- Dự án PMT cho đơn vị bộ đội tại các đảo vùng Đông Bắc. Tổng công
suất lắp đặt khoảng 20 kWp. Dự án trên do Viện Năng lượng và Trung tâm
Năng lượng mới Trường đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện. Hệ thống điện sử
dụng chủ yếu để thắp sáng và truyền thông, đối tượng phục vụ là bộ đội, do đơn
vị quản lý và vận hành.
- Dự án PMT cho các cơ quan hành chính và một số hộ dân của huyện
đảo Cô Tô. Tổng công suất lắp đặt là 15 kWp. Dự án trên do Viện Năng lượng
thực hiện. Công trình đã vận hành từ tháng 12/2001.
Công ty BP Solar của Úc đã tài trợ một dự án PMT có công suất là 6.120 Wp
phục vụ cho trạm xá, trụ sở xã, trường học và khoảng 10 hộ gia đình. Dự án trên
được lắp đặt tại xã Sĩ Hai, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Dự án “Ứng dụng thí điểm điện mặt trời cho vùng sâu, vùng xa” tại xã Ái Quốc,
tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành vào tháng 11/2002. Tổng công suất dự án là 3.000
Wp, cung cấp điện cho trung tâm xã và trạm truyền hình, chủ yếu để thắp sáng
và truyền thông; đối tượng phục vụ là người dân, do dân quản lý và vận
hành.Trung tâm Hội nghị Quốc gia sử dụng ĐMT: Tổng công suất pin mặt trời
154 kWp là công trình ĐMT lớn nhất ở Việt Nam. Hệ thống pin mặt trời hòa
23
vào mạng điện chung của Trung tâm Hội nghị quốc gia.Trạm pin mặt trời nối
lưới Viện Năng lượng công suất 1.080 Wp bao gồm 8 môđun.
Trạm pin mặt trời nối lưới lắp đặt trên mái nhà làm việc Bộ Công thương,
54 Hai Bà Trưng, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Công suất lắp đặt 2.700 Wp.
Lắp đèn năng lượng mặt trời trên đường phố Đà Nẵng sử dụng nguồn năng
cũng là cơ chế ổn định khi mà năng lượng gió luôn luôn thiếu sự bình ổn trong
thời gian dài.
24
- Bộ trữ năng (battery) : Là một tổ hợp Accu lớn nhỏ tuỳ theo mục đích chế tạo,
năng lượng dự phòng và công năng của hệ thống máy phát điện chạy năng
lượng gió.
Bộ trữ năng accu có độ bền thấp, giá đắt và là một tác nhân gây ô nhiễm
môi trường.
4/. Bộ chuyển năng ( DC – AC converter): Là một mạch điện tử công suất lớn,
chuyển đổi từ dòng điện một chiều (DC) của bộ Accu thành điện xoay chiều
công nghiệp (Sinnoptic AC / 50 – 60 Hz). Đi kèm trong bộ chuyển năng còn có
bộ tự động đóng ngắt nạp khi bình đầy, đóng diện từ converter vào mạng điện
trong nhà – cắt điện lưới khi mất điện … Bộ này khá phức tạp, giá thành rất cao
với những linh kiện chuyên dùng khó kiếm, lại rất dễ hư hỏng khi mất tải đột
ngột hay khi ngắn mạch (chập, chạm tải).
5.3. Công suất các lại tuabin gió:
Dãy công suất tuabin gió thuận lợi từ 50 kW tới công suất lớn hơn cỡ vài
MW. Để có dãy công suất tuabin gió lớn hơn thì tập hợp thành một nhóm nhưng
tuabin với nhau trong một trại gió và nó sẽ cung cấp năng lượng lớn hơn cho
lưới điện.
Các tuabin gió loại nhỏ có công suất dưới 50kW được sử dụng cho gia
đình. Viễn thông hoặc bơm nước đôi khi cũng dùng để nối với máy phát điện
diezen, pin và hệ thống quang điện. Các hệ thống này được gọi là hệ thống lai
gió và điển hình là sử dụng cho các vùng sâu vùng xa, những địa phương chưa
có lưới điện, những nơi mà mạng điện không thể nối tới các khu vực này.
5.4. Nguyên lý hoạt động của các tuabin gió
Các tuabin gió tạo ra điện như thế nào? Một cách đơn giản là một tuabin
gió làm việc trái ngược với một máy quạt điện, thay vì sử dụng điện để tạo ra
gió như quạt điện thì ngược lại tuabin gió lại sử dụng gió để tạo ra điện.
Các tuabin gió hoạt động theo một nguyên lý rất đơn giản. Năng lượng