Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
Nguyễn Du (tên tự là Tố Như , tên hiệu là Thanh Hiên ) sinh năm 1765 và mất năm
1820. Quê ông gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải
qua thời niên thiếu ở Thăng Long. Ông thuôc dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân
Quận Công Nguyễn Nghiễm đã làm tới chức tể tướng dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị
Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21
người con); anh là Toản Quận Công Nguyễn Khản cũng làm tới Tham Tụng, Thái Bảo
trong triều. Lúc mười tuổi Nguyễn Du mồ côi cha, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ. Vì thế
mang tiếng là con quan đại thần nhưng ngay từ thời thơ ấu Nguyễn Du đã phải sống
vất vả thiếu thốn. Truyện Kiều và Văn chiêu hồn là hai kiệt tác chữ Nôm tiêu biểu của
ông.
Sinh ra trong một gia đình quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của
Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông
minh dĩnh ngộ. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường. Vì lẽ gì không rõ,
ông không tiếp tục thi lên nữa.
Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân Thanh. Nguyễn Du, vì tư
tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn.
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, rồi mời
Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm
1805, ông được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu. Năm 1813, thăng Cần
Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815,
ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngại. Ông thăng
chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí.
Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ
1
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng
gì "
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì
ông đột ngột qua đời.
Chí lớn một đời và miếng ăn hàng ngày cả hai đều mờ mịt
Với một tài năng, lại từng là con quan tể tướng, lời than ấy thật xót xa.
Tây Sơn ra Bắc 1786, Nguyễn Du ôm mối ngu trung với nhà Lê, không cộng tác, tìm
đường lánh ẩn chịu sống nghèo khổ. Những thiếu thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ:
Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng
Tạm dịch:
Mười đứa con sắc mặt xanh như lá
Hoặc:
Trong bếp suốt ngày không có khói lửa
Trước đèn phải mượn chén rượu cho gương mặt được hồng hào
Do vậy, ông thấy:
Nhất sinh từ phú như vô ích
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu
Tạm dịch:
Một đời chữ nghĩa thành vô ích
Sách đàn đầy giá chỉ làm ta ngu dốt
3
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
Lời nhận xét thật chua chát, bế tắc. Mái tóc bạc như một chứng tích tiều tụy cho cái
nghịch lý ấy:
Phơ phơ tóc bạc sống gửi ở nhà người
rồi:
Già đến, tóc bạc đáng thương cho ngươi
Nói là già đến, nhưng lúc viết Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du chỉ ở tuổi 20 đến 37.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát
Ngậm ngùi vì ngày tháng giục tóc bạc. Mái tóc bạc thành bạn tri âm cho Nguyễn Du
than thở:
Tóc sương là bạn đi cùng
Mái tóc bạc bay trước gió thu. Mái tóc bạc nhuốm bụi hồng là chân dung tâm hồn của
Nguyễn Du. Cả đời chưa thấy lúc nào ông đắc ý. Một sự chọn hướng trái chiều với
Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương, lưu lạc. Nỗi nhớ quê nhà luôn luôn bàng
bạc trong các bài thơ. Ông thấy tài năng văn chương như con chim phượng nhốt trong
lồng nát và công danh thì cùng đường như con rắn đã chui trong hang.
Bình sinh văn thái tàn lung phượng
Phù thế công danh tẩu hác xà
Ông viết bài thơ chống lại bài Chiêu hồn Khuất Nguyên của Tống Ngọc (bài Phản
chiêu hồn), ông xui Khuất Nguyên đừng về vì thành quách vẫn còn nguyên mà người
đã đổi khác, bụi bặm cuồn cuộn làm nhơ nhớp cả quần áo. Ông khái quát: Đời bây giờ
người người đều đều là Thượng Quan (Thượng Quan là kẻ gièm pha làm hại Khuất
Nguyên) và mặt đất thì chỗ nào cũng là sông Mịch La (con sông Khuất Nguyên trẫm
mình).
5
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
Ở các bài vịnh nhân vật và luận về các sự kiện lịch sử Trung Hoa trong Bắc hành tạp
lục, Nguyễn Du đã xuất phát từ quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con
người để cân đo lại trọng lượng các vĩ nhân và các chiến công ầm ỹ một thời.
Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta hiểu cội nguồn chủ nghĩa nhân đạo của ông thể
hiện trong Truyện Kiều và những ký thác đời ông vào hình tượng Kiều, nhân vật sắc
tài mà bạc mệnh.
__________________
Góp một cách nhìn về Nguyễn Du và 'Truyện Kiều'
Nguyễn Sĩ Đại
Trong hội thảo khoa học về Nguyễn Du tháng 12/2005 vừa qua, nhiều ý kiến khẳng
định rằng, trong thời đại ngày nay, Nguyễn Du và Truyện Kiều mới được tôn vinh
xứng đáng với giá trị của nó. Ý kiến đó có hoàn toàn chính xác?
Nguyễn Du là một thiên tài. Thiên tài được hình thành không chỉ từ học vấn, từ bối
cảnh xã hội cụ thể nào mà còn có yếu tố từ vũ trụ, từ một khoảnh khắc nào đó mà
thôi Truyện Kiều là một kiệt tác. Là kiệt tác, nó luôn ẩn chứa những thông tin vĩnh
cửu. Không thể lấy thước đo của một thời mà đo chiều kích của thiên tài và kiệt tác.
Nhưng mỗi thời, đánh giá và khai thác di sản quá khứ một cách khác nhau, âu cũng là
cách mạng triệt để. Nhưng thực tế, nỗi khổ và oan khuất của con người có bao giờ hết?
Trong trăm năm cõi người, lấy chữ “tâm” để ứng xử, không chỉ là ảnh hưởng của đạo
Phật mà là một triết lý sâu xa, là tinh hoa những tư tưởng mà Nguyễn Du tiếp thu được
cộng với sự trải nghiệm của ông trong quãng đời ngắn ngủi của mình chứng kiến sự
sụp đổ của nhiều triều đại, sự tạm bợ của nhiều điều, kể cả chính cả bản thân sự sống.
Có người nói Nguyễn Du ảnh hưởng của giáo lý này, giáo lý khác. Không, ông đã
đứng được ở bờ vĩnh cửu, đã không chỉ nói quan hệ xã hội của con người mà còn nói
tới quan hệ của cõi sống với những cõi khác huyền diệu.
7
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
2. Vì sao Nguyễn Du lại chọn Thúy Kiều, một phụ nữ tài sắc thuộc tầng lớp trung
lưu, làm nhân vật chính?
Không lấy nhân vật chính là người lao động bình thường không phải là hạn chế của
Nguyễn Du theo quan điểm giai cấp mà là chỉ với sự lựa chọn ấy, Nguyễn Du mới có
thể dẫn Thúy Kiều và chúng ta tới mọi cảnh ngộ của đời sống, mọi cung bậc của tình
cảm. Theo tôi, đó là một lựa chọn thiên tài.
3. Vì sao Nguyễn Du lại lựa chọn một câu chuyện Trung Hoa?
Đây lại là một lựa chọn thiên tài nữa. Nó làm cho tác phẩm mang tính phổ quát. Thứ
nữa, trong các xã hội, nhất là trong xã hội phong kiến, có những án văn tự dẫn đến
việc đốt sách và mang họa tru di. Nguyễn Du là người biết rất rõ điều đó. Có một câu
về Từ Hải thôi mà Tự Đức nói, nếu Nguyễn Du còn sống thì phải nọc ra đánh. Vậy
viết một chuyện cụ thể Việt Nam, liên quan đến một dòng họ cầm quyền nào đó với
sức tố cáo lớn như vậy, liệu Truyện Kiều có còn đến ngày nay?
Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như? - Đó là câu thơ trong
bài Độc Tiểu Thanh ký. Nàng Tiểu Thanh là người tài sắc, sống vào thời nhà Minh, bị
vợ cả ghen giam lỏng trên núi đến buồn mà chết. Nguyễn Du đọc được một bài thơ
còn sót lại sau khi bị đốt của nàng, cảm kích mà làm bài này. Bài thơ được ông Vũ
Tam Tập dịch là:
Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Vua quan thời Minh Mệnh, Tự Đức đều rất mê Kiều. Tự Đức muốn nọc Nguyễn Du ra
đánh một trăm roi vì câu Chọc trời khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu
có ai. Nhưng cũng Tự Đức: Mê gì? Mê đánh tổ tôm, Mê ngựa Hậu bổ, mê Nôm Thúy
Kiều.
9
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
Tuy nhiên, có một luồng khác coi Truyện Kiều là một dâm thư: Đàn ông chớ kể Phan
Trần, Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều.
Phạm Quỳnh trong bài diễn văn đọc tại Hội Khai trí tiến đức năm 1924 tại Hà Nội:
“Truyện Kiều không chỉ đối với văn hóa nước nhà mà đối với văn học thế giới cũng
chiếm được một địa vị cao quý Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta
còn ”.
Để chống lại quan điểm này, quan điểm mà các nhà cách mạng cho nhằm để “ru ngủ”
thanh niên, chí sĩ Ngô Đức Kế trong bài Luận về chánh học cùng tà thuyết, Quốc văn,
Kim Vân Kiều, Nguyễn Du cùng năm đó viết trên tạp chí Hữu Thanh: “Văn tuy hay
mà truyện là truyện phong tình, thì có vẻ ai dâm sầu oán, đạo dục tăng bi Các gã
thiếu niên chí khí chưa định, tình dục đang nồng, xem truyện thì mê, rồi sinh cái tư
tưởng trộm ngọc cắp hương, khêu hoa ghẹo nguyệt, say đắm trong trời tình bể ái mà
mềm nhũn cái gan lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa ”.
Sau cách mạng, chỉ có bài của Ngô Đức Kế chứ không có bài của Phạm Quỳnh được
dạy trong nhà trường. Một giáo trình đại học còn viết: Âm mưu của Phạm Quỳnh là ở
chỗ này: “Truyện Kiều còn nước ta còn”, như thế thì yêu nước chỉ lao đầu vào
nghiên cứu Truyện Kiều chứ cần gì phải đấu tranh chống Pháp!
Bên cạnh sự ngợi khen và tôn vinh, học tập và nghiên cứu nhiều nhất từ trước tới nay,
nửa thế kỷ qua vẫn còn nhiều lời phê phán đối với Truyện Kiều và tác giả của nó.
Trong bài Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoài Thanh
viết: “Nguyễn Du đã cảm thông được một phần nỗi khổ chung của con người bị chà
đạp dưới một chế độ ngày càng thêm mục nát. Cố nhiên cũng chỉ cảm thông được một
phần thôi. Rốt cuộc, Nguyễn Du vẫn là người của giai cấp phong kiến, của chế độ
phong kiến”.
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
Dòng họ Nguyễn Du không những nổi tiếng về khoa hoạn mà lại còn chiếm nhiều
danh tiếng trong lĩnh vực văn chương. Nguyễn Nghiễm còn để lại những tập Quân
Trung liên vịnh, Xuân đình tạp vịnh, và quyển Việt sử bị lâm cung cùng nhiều tác
phẩm chữ Nôm, từng làm bài phú Khổng tử mộng Chu công, nay còn truyền tụng.
Nguyễn Nễ còn để lại Quê hiên giáp ất tập và Hoà trình hậu tập cũng sở trường về văn
Nôm. Cháu Nguyễn Du là Nguyễn Thiện có tập thơ Đông phú và Nguyễn Đạm có tập
thơ Quan hải, tập thơ Minh quyên đều là những văn hào đương thời. Danh sĩ trong
nước bấy giờ truyền có năm người lỗi lạc, người đời gọi là “An Nam ngũ tuyệt” thì họ
Nguyễn Tiên Điền có đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Đạm rồi.
Dòng họ này lại còn được người đời nể trọng về lòng trung nghĩa. Tổ tiên thuở xưa
theo Mạc thì nhiều người tuẫn tiết khi nhà Mạc mất. Thời Lê, sau khi Lê mất, mấy anh
em Nguyễn Khản, Nguyễn Điêu, Nguyễn Luyện, Nguyễn Du cho đến cháu là Nguyễn
Đạm đều khởi nghĩa cần vương. Triều Tây Sơn sang đời Nguyễn nhiều người không
chịu ra làm quan, kiên trinh giữ tiết với chúa cũ.
Trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng, nhã nhặn
và phong lưu của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng của mẹ, đã hưởng được hào khí của đất
Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương,
do gia phong truyền xuống trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng của cha.
Lúc mười tuổi Nguyễn Du mồ côi cha, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ, thời niên thiếu ở
với bác tại Thăng Long, dấu vết đài các hoa lệ của kinh đô để lại nhiều dấu vết trong
ký ức Nguyễn. Nhưng bao nhiêu yếu tố kể đó cũng chưa đủ tạo thành cái tính cách
phức tạp và mâu thuẫn của ông, nếu ta không kể đến những ngày tháng loạn ly ông
phải sống điền dã nơi hang cùng xóm vắng, trong sự thiếu thốn, lạnh rét như những
người loạn dân thời bấy giờ.
Sinh ra trong một gia đình quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của
Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông
minh đĩnh ngộ. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường. Vì lẽ gì không rõ,
12
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
bèn phải về quê nhà ở Tiên Điền, một thời gian toan kiếm đường vào Gia Định giúp
chúa Nguyễn Anh, nhưng việc tiết lộ, ông bị trấn tướng của Tây Sơn là Thận Quận
Công bắt giam. May Thận Quận Công quen biết với anh ruột ông là Nguyễn Nể lại
mến tài ông nên chỉ giam vài tháng rồi tha. Bấy giờ ông tự thấy mình không làm được
người nghĩa sĩ đem thân hy sinh cho chúa đành làm kẻ bình dân giữ trọn tiết trung
trinh. Ngày tháng ông lấy sơn thuỷ làm vui hoặc đi săn muông, hoặc đi câu cá, tuỳ
hứng ngâm vịnh để khuây khoả, biệt danh Hồng Sơn lạp hộ và Nam Hải điếu đồ có là
vậy.
Khi thời thế xoay đổi, nhà Tây Sơn thất bại, Nguyễn Ánh thống nhất được Bắc Nam.
Tháng sáu năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long sau khi khôi phục Phú Xuân ra Bắc
xuống chiếu triệu tập những người dòng dõi cựu thần nhà Lê, Nguyễn Du cũng bị triệu
ở trong số ấy. Ông dẫu biết nhà Lê không thể nào vãn hồi được nữa mà thiên hạ đã về
theo nhà Nguyễn rồi, nhưng do lòng trung quân, ông quyết từ chối, không chịu ra làm
quan cho nhà Nguyễn.
Năm 1820, Nguyễn Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, lại mời Nguyễn Du
ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Tháng tám năm
đầu hiệu Gia Long (1802), ông được bổ tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam (bây giờ là
Hưng Yên). Tháng 11 năm ấy, ông được thăng Tri phủ Thường Tín.
Mùa thu năm Gia Long thứ ba, ông cáo bệnh về quê, được hơn một tháng thì bị triệu
về Kinh. Tháng giêng năm sau được thăng hàm Đông Các Học Sĩ và phong tước Du
Đức Hầu. Tháng tư năm Gia Long thứ tám, ông được bổ chức Cai bạ dinh Quảng
Bình. Tháng chín năm thứ mười một, ông lại xin nghỉ về quê, đến tháng chạp lại bị
triệu về Kinh, rồi tháng giêng năm sau thăng hàm Cần chánh điện Học sĩ, và được cử
làm Chánh sứ đi tuế cống Thanh triều. Tháng tư năm thứ mười ba trở về nước, được
nghỉ sáu tháng ở quê, rồi năm sau ông được thăng chức Lễ bộ Hữu Tham tri. Năm đầu
triều Minh Mạng (1820) vua Thánh tổ mới lên ngôi, ngự bút đặc phái ông làm Chánh
sứ sang Trung Quốc cầu phong. Ông chưa kịp đi thì cảm bệnh mất tại Kinh ngày mồng
10 tháng 8 năm Canh Thìn, tức ngày 16/9/1820 hưởng thọ 56 tuổi.
14
Ngêi su tÇm : Ph¹m Huúnh Nam
Dưới góc nhìn văn hóa, Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tôc, tuy nhiên qua cuộc đời
và hành trạng mà ta đã phân tích trên kia, dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét
nổi bật nữa ở con người Nguyễn. Ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp,
một vị văn quan biết cách chăn dân, một nhà ngoại giao xuất chúng. Những năm làm
Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên, thời kỳ tụ tập nghĩa binh toan chuyện phò Lê thể hiện
phẩm cách của một võ quan không an phận, nuôi chí lớn khôi phục lại cơ nghiệp Lê
triều. Những năm làm tri phủ Thường Tín, rồi cai bạ Quảng Bình, ông đã nêu một
gương sáng về đức trị dân của một ông quan thanh liêm. Tại nhiệm bốn năm, chính
sách rất là giản dị, chúng dân đều yêu mến. Nhờ vậy mới được phong tước Du Đức
Hầu, rồi về Kinh thăng hàm Cần chánh điện Học sĩ. Đáng kể nhất là những năm ông
làm Chánh sứ đi tuế cống Triều Thanh thành công rất được triều Nguyễn tín dụng.
Tháng Hai năm Quý Dậu (1813), Nguyễn Du nhận chỉ làm Chánh sứ, dẫn đầu phái
đoàn gồm Đàm Ân Hầu (tham sự bộ Lại) và Phong Đăng Hầu (tham sự bộ Lễ), đi tuế
cống Trung Hoa. Ngày 6/4 năm Quý Dậu, Chánh sứ Nguyễn Du chính thức bước qua
ải Nam Quan, bắt đầu hành trình đến Bắc Kinh. Những ngày tháng đua tài với các sứ
thần Hàn, Nhật chắc Nguyễn đã tỏ rõ được cái sở học uyên bác của mình. Trong thời
gian đi sứ, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến nhiều nỗi oan trái và cuộc sống
khổ ải của dân nghèo, sau này đã được tập hợp lại trong tập thơ mang tên Bắc hành tạp
lục (131 bài). Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã có dịp tìm hiểu sâu nền văn hoá
Trung Quốc. Với vốn sống đa dạng và tài năng kiệt xuất của mình, sau khi về nước,
ông đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều, lấy cảm hứng từ tập truyên của tác giả
Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân. Truyện Kiều sau đó đã vượt lên trên nguyên tác,
trở thành một kiệt tác thơ trong lịch sử văn chương Việt Nam.
Tháng Tư năm Giáp Tuất (1814), Nguyễn Du cùng đoàn sứ thần về nước. Trong
chuyến đi, ông đã cho chọn giống cây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn An Hiên
(Huế) hiện vẫn còn được người dân nâng niu chăm sóc. Sau khi hoàn thành trọng trách
cùng với đoàn sứ bộ, Nguyễn Du được thăng chức Lễ Bộ Hữu Tham Tri.
Trong quá trình giữ cương vị Chánh sứ, đại diện cho quốc gia, ông đã để lại nhiều áng
thơ văn, nhiều ghi chép đặc sắc giúp cho những nhà nghiên cứu ngày nay có được cái
16
Chú thích:
1. Theo Đại Nam liệt truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài
tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói
năng gì "
2 : Cũng theo sách trên, "đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà
sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì".
__________________
18