Sáu NGHỆ THUẬT TẢ CẢNH
của Đại Thi Hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Bút pháp của đại thi hào Nguyễn Du được coi là điêu luyện, tuyệt bút trong đó
nghệ thuật tả cảnh tả tình được người đời sau khen ngợi "như máu chảy ở đầu ngọn
bút" và "thấu nghìn đời". Xin giới thiệu với các em bài viết của nhà phê bình Trần
Ngọc về Nghệ Thuật Tả Cảnh của Thi Hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một áng
văn chương tuyệt tác trong lịch sử văn học nước ta. Truyện Kiều có giá trị về mọi
mặt : tư tưởng , triết lý , luân lý , tâm lý và văn chương.
Truyện Kiều vì thế đã trở thành quyển truyện thơ phổ thông nhất nước ta: từ
các bậc cao sang quyền quý , trí thức khoa bảng , văn nhân thi sĩ , cho đến những
người bình dân ít học , ai cũng biết đến truyện Kiều , thích đọc truyện Kiều , ngâm
Kiều và thậm chí bói Kiều.
Giá trị tuyệt hảo của truyện Kiều là một điều khẳng định mà trong đó giá trị
văn chương lại giữ một địa vị rất cao. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin
được bàn đến nghệ thuật tả cảnh của thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Đoạn
Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều ..
Nghệ thuật tả cảnh của ï Nguyễn Du rất đa dạng , tài tình và phong phú.
Chính Nghệ thuật tả cảnh này đã làm tăng rất nhiều thi vị và giá trị cho truyện Kiều.
1. Lối tả cảnh diễm tình .
Đây là lối tả cảnh mang tính cách chủ quan , man mác khắp trong truyện Kiều
. Cảnh vật bao giờ cũng bao hàm một nỗi niềm tâm sự của nhân vật chính hoặc phụ
ẩn chứa trong đó.Nói một cách khác , Nguyễn Du tả cảnh mà thâm ý luôn luôn đem
cái cảm xúc của người đối cảnh cho chi phối lên cảnh vật. Điều này khiến cho cảnh
vật trở thành linh hoạt như có một tâm hồn hay một nỗi xúc cảm riêng tư nào đó.
Chính Nguyễn Du đã tự thú nhận sự chủ quan của mình trong lúc tả cảnh qua hai câu
thơ:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Trong khuynh hướng này , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn
các thi nhân khác , kể cả những thi sĩ Tây Phương , vốn rất thiện nghệ trong lối tả
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Lần thứ hai , Kim Trọng tìm về nhà Vương Viên Ngoại để hỏi thăm Kiều thì cảnh nhà
bây giờ thật sa sút , sân ngoài cỏ hoang mocï dại, ướt dầm dưới cơn mưa , tiêu điều
như nỗi buồn tênh trong lòng chàng:
Một sân đất cỏ dầm mưa
Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường
Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích , nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm , với
những cánh buồm xa xa lại tưởng tới thân phận bọt bèo không định hướng của mình :
Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Lúc Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri , thì lòng nàng cũng chẳng thực sự là vui
mà buồn hiu hắt như hàng lau bên vệ đường:
Gió chiều như gợi cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu
Và khi theo Sở Khanh để trốn Tú Bà , thì cảnh một đêm thu có trăng sáng , nhưng
cũng lạnh lùng cũng chẳng khác chi tâm sự rối bời của Kiều :
Lối mòn cỏ nhạt màu sương
Lòng quê đi một bước đường một đau
Lúc thất vọng não nề , muốn gieo mình xuông sông Tiền Đường cho rũ nợ trần, tâm
sự Kiều cũng như mảnh trăng sắp tàn , chẳng còn chút gì lưu luyến nơi thế gian:
Mảnh trăng đã gác non đoài
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong
2 . Lối tả chân.
Ngoài lối tả cảnh diễm ï tình, Nguyễn Du còn điểm trang cho truyện Kiều bằng nhiều
bức tranh tả chân, tả rất thực, và thuần túy là những họa xinh đẹp, không ngụ tình.
Những bức tranh bằng thơ có khi tươi tắn, có khi sầu mộng được viết theo lối văn
tinh xảo .Chỉ cần một vài nét phác họa với những điểm chính hiện hữu .
Đây là cảnh một túp lều tranh bên sông vắng lúc hoàng hôn , vừa giản dị , mộc mạc
đon sơ giữa trăng , nước và sân nhà đã đủ diễn tả một khung cảnh tuyệt nhã đẹp như
một bức tranh :
Gương nga chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước , cây lồng bóng sân
3 . Lối tả cảnh tượng trưng:
Nguyễn Du cũng rất nhiều khi phô diễn lối tả cảnh tượng trưng, nghĩa là chỉ dùng
một vài nét chấm phá, thành một nghệ thuật đã đạt đến mức uyển chuyển và tinh tế .
Hãy nghe hai câu thơ :
Vi lô san sát hơi may
Một trời thu để riêng ai lạnh lùng
Đó là một cảnh một rừng vi lô trong mùa thu xám có gió heo may, lành lạnh. Lối tả
cảnh này có thể Nguyễn Du chỉ viết theo nghệ thuật cảm quan của mình chứ không hề
nghĩ rằng mình đang tạo ra một lối vẽ cảnh một cách tượng trưng bằng những vần
thơ . Mãi đến hơn một thế kỷ sau ,tức vào thế kỷ 19 , lối tả cảnh tượng trưng nay mới
phát triển thật mau tại Pháp mà các nhà phân tích văn học gọi là “Symbolists”. Đó
là sự nhận định của Giáo sư Hà Như Chi.
Nên để ý nghệ thuật của Nguyễn Du là mang cái gì rộng lớn mênh mông , để rồi đem
vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé ( luận giải của Giáo Sư Hà Như Chi trong Việt
Nam Thi Văn Giảng Luận ) . Trong hai câu thơ trên, “một trời thu”mang một ý niệm
không gian rộng lớn bao la , trong khi bốn chữ “ riêng ai một mình”lại chỉ một phạm
vi nhỏ bé , một tâm tình đơn lẻ cá nhân.
Một vài câu thơ khác cũng mang cùng một khuynh hướng như :
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình
Đó là cảnh mặt trời chiều bâng khuâng nghiêng mình soi bóng trước mái hiên nhà để
rồi chuyển sang , ẩn vào tâm tư riêng của một cõi lòng Kiều cô đơn. ( Cần chú ý
thêm là cách dùng điệp ngữ một cách tài tình khéo léo của Nguyễn Du , với chữ “
nghiêng và “riêng”được lập đi lập lại nhiều lần mà vẫn cảm thấy hay .)
Có khi Nguyễn Du lại dùng một lối tả cảnh tượng trưng ngược lại , nghĩa là đem tấc
lòng nhỏ bé của con người cho tỏa rộng bay hòa vào cái rộng lớn của trời đất.