Nghệ thuật tả cảnh của thi hào Nguyễn Du
trong "Truyện Kiều"
Hãy xem cảnh Kiều và Thúc Sinh chia tay nhau:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Đó là sự phân ly buồn bã tuy chỉ giữa hai người , nhưng đã làm ảm đạm
cả một vùng cảnh vật chung quanh.
Hay cảnh Kiều thất vọng cuộc đời , mở cửa phòng nhỏ bé để gieo mình
xuống dòng bao la của sông Tiền Đường :
Cửa bồng vội mở rèm châu
Trời cao sông rộng một màu bao la.
Nói về nghệ thuật tả cảnh tượng trưng này, giáo sư Dương Quảng Hàm
đã viết: “ tả cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt.”
Lối tả cảnh dùng màu sắc.
Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu
sắc như bức tranh của một người họa sĩ. Trước tiên phải là ánh sáng ,
một yếu tố cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự c pha chế sao
cho làm nổi được cảnh chính và cảnh phụ .
Hãy xem một cảnh Xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh
đầy màu sắc của Nguyễn Du:
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Nói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên,
đặc biệt là của hoàng hôn ,của cây cỏ , của trăng và của nước là những
màu sắc thi vị, nhưng lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm , cũng
chỉ vì truyện Kiều mang bản chất nhiều nỗi buồn hơn vui.
Giáo sư Hà Như Chi dẵ nhận định về lối dùng màu sắc của cụ Nguyễn
Du như sau :” Nguyễn Du khi tả ánh sáng không những chỉ trực tiếp mô
tả ánh sáng ấy , mà lại còn tả một cách gián tiếp , cho ta thấy sự phản
chiếu trên ngọn cỏ , lá cây mặt nước,đỉnh núi ”(Việt NamThiVăn
Giảng Luận)
Đúng như thế, hãy xem cảnh khu vườn với hoa lựu nở đỏ như ánh lửa
lập lòe trong mùa hạ , khi mùa nắng đã được đón chào bởi tiếng quyên
ca lúc khởi một đêm trăng :
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
Lối dùng chữ trang nhã và bình dân trong tả cảnh.
Nguyễn Du là một thi nhân thuộc dòng dõi quan quyền phú quý , nhưng
gặp phải cảnh loạn lạc đổi chúa thay ngôi giữa nhà Lê và nhà Nguyễn ,
đã phải về quê cũ ở Huyện Tiên Điền để ẩn cư. Cụ đã trải qua những
ngày sống trong phú quý và những ngày sống thanh đạm nơi thôn dã ,
nên trong tâm hồn đã thu nhập được hai cảnh sống . Cụ đã hài hòa kết
hợp được hai cảnh sống đó , nên trong lãnh vực văn chương tả cảnh
trong truyện Kiều , cụ có khi dùng những chữ thật trang nhã quý phái ,
có khi lại dùng những chữ thật giản dị bình dân.
Và đêm xuống ánh trăng soi “ quạnh quẽ “ lẻ loi nơi vườn vắng, tri âm
chỉ còn là những cọng cỏ dại mọc lưa thưa:
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Chính vì Nguyễn Du đã kết hợp được cả hai lối hành văn bác học và
bình dân một cách tài tình nên truyện Kiều đã được tất cả mọi giai tầng
trong xã hội đón nhận thưởng thức một cách nhiệt thành. Những chữ
mộc mạc bình dân đã chứng tỏ một bước tiến của nền văn chương Việt
Nam trên con đường xa dần ảnh hưởng của chữ Hán chữ nôm mà ï
Nguyễn Du đã tiên phong dấn bước.
Lối dùng điển tích trong tả cảnh .
Nguyễn Du là một thi hào dùng rất nhiều điển tích trong tác phẩm của
mình. Nhưng khác với những nhà thơ khác , thường dùng điển tích chỉ
vì chưa tìm được chữ quốc ngữ thích đáng để thay thế . Nguyễn Du thì
khác , cụ đã dùng điển tích để “ làm câu thơ thêm có ý vị đậm đà mà vẫn
lưu loát tự nhiên, không cầu kỳ thắc mắc “như Giáo sư Hà Như Chi đã
nhận định. (Việt Nam Thi Văn Giảng Luận) Nhưng phải nói, những điển
tích mà Nguyễn Du dùng chính đã làm giàu cho nền văn chương quốc
ngữ Việt Nam , thậm chí nhiều điển tích đã trở thành ngôn ngữ hoàn
toàn Việt Nam , mà nói tới ai ai cũng hiểu ý nghĩa đại cương của nó .
Chẳng hạn những chữ Biển dâu, Gót sen, Sư tử Hà Đông, kết cỏ ngậm
vành , mây mưa, ba sinh, chắp cánh liền cành v v .
Những điển tích thường nằm nhiều trong những đoạn thơ tả người, tả
tình , tả tâm trạng , tả tiếng đàn , trải dài trong suốt truyện Kiều .
Chữ Khóa Xuân lấy từ điển tích Châu Du bị gió đông cản việc phóng
hỏa đốt trại Xích Bích , nên Đài Đồng Tước không bị cháy , nhưng
chính vì đó mà đã khóa chặt tuổi xuân hai chị em tên Đại Kiều và Tiểu
Kiều ,một người vợ Tôn Sách và một người vợ Châu Du
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều .
Hai câu thơ trên ngụ ý tả cảnh lầu Ngưng Bích như là nơi đã khóa kín
tuổi xuân của Thúy Kiều.
Một đoạn khác khi Kim Trong trở về vườn Thúy để tìm Kiều , nhưng
nàng đã không còn ở đó, chỉ còn ngàn cánh hoa đào hồng thắm đang
cười như tiễn biệt gió đông:
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Hai câu này lấy từ điển tích nho sinh Thôi Hộ đời nhà Đường , trở về
Đào Hoa Trang để thăm người con gái năm xưa đã dâng cho chàng nước
uống trong lúc dự hội Đạp Thanh. Nhưng người đẹp đã vắng bóng dù
cảnh cũ vẫn còn đấy, chìm ngập trong ngàn cánh hoa đào phe phẩy dưới
nắng xuân . Thôi Hộ đã viêt hai câu thơ nguyên văn văn :
Nhan diện bất tri hà xứ khứ ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Kết luận .