7
- Các chương trình kích thích kinh tế trọn gói: Đây là một giải pháp
truyền thống mà Chính phủ Nhật Bản thường sử dung để khác phục khủng
hoảng chu kỳ. Đó là việc dựa vào ngân sách bổ sung hoặc các chương trình
kích thích kinh tế trọn gói nhằm kích cầu trong nước thông quq việc mỏ
rộng các công trình công cộng. Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ,
Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện rất nhiều biệ
n pháp cả gói với tổng chi
phí lên tới 107.000 tỷ Yên. Đây chính là những biện pháp can thiệp của
Chính phủ mà theo lý thuyết của Kêyn thì có thể tạo ra những đòn bẩy cho
nền kinh tế.
- Cắt giảm thuế và xoá matt phần nợ cho các công ty kinh doanh bất
động sản: Đây cũng là một giải pháp quan trọng nhằm trợ giúp các công ty
đang đứng trước bờ vực thẳm của sự phá sản sau sự sụp đổ của n
ền kinh tế
bong bóng. Ví dụ, Nội các của thủ tướng Obuchi đã thực hiện giảm thuế
thu nhập 9.000 tỷ Yên (2%GDP). Mức thuế thu nhập cao nhất của cả cấp
quốc gia và cấp địa phương đã được giảm từ 65% xuống còn 50%. Sự giảm
thuế này được hy vọng là sẽ thúc đẩy tiêu dùng cá nhân và kích thích tinh
thần làm việc chung. Việc giảm thuế để khuyến khích xây dựng nhà ở cũng
đã
được tiến hành một cách rộng rãi. Hơn nữa, Chính phủ Nhật Bản đã
quyết định giảm tỷ lệ thuế kinh doanh kết hợp cả quốc gia và địa phương từ
mức 46,36% xuống 40,87% tương đương với 2,4 tỷ tỷ Yên (0,4% GDP).
Thông qua các cuộc cải cách và giảm thuế này, Chính phủ hy vọng giảm
gánh nặng thuế xuống bằng mức trung bình của các nước đã công nghiệp
hoá.
Cùng với quá trình này, việ
c lập quyết định về ngân sách quốc gia và
cải cách thuế đã đưa vấn đề cơ cấu vào bàn nghị sự. Chính phủ đã tăng
trước bối cảnh mới của tình hình kinh tế quốc tế, sự lạc hậu của hệ thống
ngân hàng tài chính mang nặng tính bao cấp, sự cứng nhắc cũng như thiếu
minh bạch của bộ máy hành chính trong việc quản lí và điều hành nền kinh
tế… Chính vì vậy, để khắc phục một cách triệt để tình trạng kinh tế suy
thoái đòi hỏi phải tiến hành những cải cách toàn di
ện hệ thống kinh tế Nhật
Bản. Tuy nhiên, không phải vấn đề này đã được nhận thức và thực hiện
ngay từ đầu thập kỷ1990 sau khi những “bong bóng” kinh tế bất đông sản
sụp đổ đẩy nền kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng
và kéo dài. Mà phải đến 1996, sau khi hàng loạt các chương trình kích thích
kinh tế trọn gói, như đã đề cập đến ở trên, không đem lại hiệu qu
ả, Chính
phủ Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hashimoto mới ban hành
một loạt các chương trình cải các liên quan đến nhiều mặt hoạt động của
nền kinh tế xã hội Nhật Bản. Có 6 chương trình cải cách lớn đã được đưa
ra, trong đó có 3 chương trình liên quan đến cải cách kinh tế. Đó là: Điều
9
chỉnh chính sách kinh tế; Cải cách cơ cấu kinh tế; và Cải cách hành chính.
Sau đây là một số nội dung cơ bản nhất của các chương trình cải cách này.
Thứ nhất, để thực hiện cải cách cơ câu kinh tế, Chinh phủ Nhật Bản
một mặt đã áp dụng các giải pháp hỗ trợ đối với một số nghành công
nghiệp đang bị sa sút như luyện kim, đóng tầu, hoá chất… nhằm ng
ăn chặn
nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực
này. Các giải pháp chủ yếu như tài trợ qua ngân sách, kích thích đổi mới
trang thiết bị qua thực hiện khấu hao nhanh, áp dụng giải pháp miễn thuế
và hỗ trợ thất nghiệp… Mặt khác, Chính phủ đã thực thi các giải pháp để
khuyến khích đầu tư vào các nghành công nghệ mới như ưu đãi về thuế để
khuyến khích các hoạt động đầu tư nghiên cứu triển khai (R&D), thực hiện
chuyển chúng sang các nước Đông Á. Đó là các nghành sản xuất phụ tùng
ô tô, lắp ráp đồ điện, điện tử
, dệt… Hướng thích ứng này đã dẫn tới nguy
cơ của sự “trống rỗng” nền công nghiệp trong nước mà các sách báo đã đề
cập đến rất nhiều. Theo các số liệu thống kê của 14 nghành công nghiệp, tỷ
lệ đầu tư ra nước ngoài trong những năm giữa thập kỷ 90 bình quân đều đạt
trên 27%, vượt xa mức 1,8% vào năm 1986. Trong đó công nghiệp chế tạo
tăng mạnh nhất. Ví dụ
, đằu tư ra nước ngoài trong ngành chế tạo ô tô đã
tăng từ 4,8% năm 1986 lên 38,1% năm 1995 (Tạp chí “Kinh tế hệ” số
tháng 7/1996). Tỷ trọng sản xuất ở nước ngoài (chỉ mối quan hệ giữatổng
ngạch tiêu thụ của các xí nghiệp ở nước ngoài thuộc ngành chế tạo với tổng
ngạch tiêu thụ của ngành chế tạo trong nước) đã tăng từ 3% năm 1985 lên
6,4% nă
m 1990 và 7,4% năm 1993, trong đó nghành sản xuất máy điện
tăng lên 12,6%, máy móc vận tải tăng lên 17,3% (Sách trắng đầu tư, Hội
Chấn hưng mậu dịch Nhật Bản năm 1995).
+ Tăng cường nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, bán thành
phẩm, và linh kiện, đặc biệt là những sản phẩm được sản xuất từ những cơ
sở chế tạo của Nhật B
ản ở nước ngoài và nâng cao hơn nữa giá cả hàng
xuất khẩu để bù lại những thiệt hại do sư tăng giá của đồng Yên gây ra. Ví
dụ trong năm 1995, nhiều công ty xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng giá hàng
xuất khẩu từ 10 – 15%. Điều này đã khiến cho hàng nhập khẩu dễ có điều
kiện thâm nhập hơn vào thị trường Nhật Bản trong khi đó hàng xuất khẩ
u
từ Nhật Bản lại khó được chấp nhận hơn đối với người tiêu dùng nước
ngoài. Theo số liệu thống kê, xuất khẩu của Nhật Bản trong name 1995 chỉ
tăng có 2,6%so với 5,1% vào năm 1994, trong khi đó, nhập khẩu tăng tới
9,2% so với 8,4% vào năm 1994. Do xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng,
cậy cho sự giao dịch bình đẳng, minh bạch.
Trên cơ sở những hướng cải cách cơ bản nói trên, Chính phủ Nhật
Bản đã ban hành và thực hiện hàng loạt các chính sách và biện pháp cải
cách cụ thể đối với từng lĩnh vực của hệ thống tài chính. Trong đó, đặc biệt
là các chính sách cơ cấu lại Bộ Tài Chính, chính sách tăng cường vai trò
của Ngân hàng trung ương Nhật Bản, chính sách cơ cấu lại các ngân hàng
thương mại, chính sách nới lỏng các quy chế tạo điều kiện cho sự phát triển
của các thị trường vốn độc lập và sự thâm nhập vào các công việc kinh
doanh lẫn nhau của các cơ quan tài chính nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh của chúng, các chính sách về lãi suất tín dụng, tỷ giá đồ
ng Yên, và thị
12
trường chứng khoán, các chính sách về thuế, thu chi ngân sách và bảo
hiểm…(Hệ thống tài chính Nhật Bản: những đặc trưng cơ bản và cuộc cải
cách hiện nay; chủ biên Trần Quang Minh, Nxb KHXH, Hà Nội, 2003).
Chi tiết quá trình thực hiện cải cách tài chính “Bing Bang” của Nhật Bản
được chỉ rõ trong bảng sau:
Tiến trình thực hiện “Big Bang” của Nhật Bản
Các khoản mục
1997 1998 1999 2000 2001
1. Mở rộng sự lựa chọn cho các
nhà đầu tư và các tổ chức tăng
nguồn vốn
- Tự do hoá giao dịch vốn và
kinh doanh noại hối trong
nước cũng như ngoài nước
- Thực hiện tài khoản chứng
khoán chung
10/98
12/98
12/98
9/98
12/98
2. Cải tiến chất lượng các loại
dịch vụ và đẩy mạnh cạnh
tranh
- Khai thác sử dụng các công