Tiểu luận:Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lao động nông thôn Việt Nam pot - Pdf 18

TRƯỜNG
KHOA……………………………
TIỂU LUẬN
Thực trạng và giải pháp phát triển
nguồn lao động nông thôn Việt Nam
t
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của chuyên đề
Sau hơn 20 năm đổi mới, với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã vạch ra, nền kinh tế
nước ta đã có những bước tiến đáng kể, đang hoà mình vào sự phát triển chung của
nền kinh tế thế giới. Việt Nam ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế
giới, là điểm dừng chân lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là điều kiện
thuận lợi để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào trong nước. Với tốc độ phát
triển trung bình đạt trên 8% một năm, quá trình CNH-HĐH đất nước đang có
những bước tiến đáng kể thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từ
kinh tế Nông nghiệp sang kinh tế Công nghiệp,thương mại, dịch vụ. Quá trình phát
triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, chủ động hội nhập kinh tế thế giới
đang đặt ra hàng loạt những vấn đề bức xúc cần được giải quyết trong đó có vấn đề
việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước
cùng các cấp, các ngành quan tâm đưa ra những chủ trương, giải pháp thiết thực để
giải quyết việc làm cho người lao động. Với một đất nước hơn 80 triệu dân như
nước ta hiện nay nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm là tiền đề quan trọng để sử
dụng hiệu quả nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Với đặc thù là một nước Nông nghiệp thì việc phát triển kinh tế nông thôn đã và
đang là vấn đề cần được quan tâm ở nước ta hiện nay.
Lao động là một nguồn lực, là trung tâm của sự phát triển, nguồn lực lao
động tốt là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nhanh và bền vững, ngược
lại nguồn lao động kém sẽ là rào cản cho quá trình phát triển kinh tế diễn ra. Nhận
thức được tầm quan trọng, tình hình thời sự và những hạn chế của công tác giải

kết hợp đồng lao động.
- Nguồn lao động: là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế
tham gia lao động (đang có việc làm) và những người không có việc làm nhưng
đang tích cực tìm việc làm.
- Nguồn lao động trong nôn nghiệp là toàn bộ những người có khả năng
tham gia lao động trong ngành nông nghiệp. Nguồn lao động nông nghiệp được
nhìn ở hai góc độ toàn ngành nông nghiệp và từng nông trại.
Nói đến nguồn lao động nhất là nguồn lao động trong nông nghiệp thông
thường xét đến hai khía cạnh là số lượng lao động và chất lượng lao động
Số lượng lao động: là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động
(nam từ 15- 60, nữ từ 15 – 55 tuổi) có khả năng tham gia lao động. Ngoài ra, do
quá trình sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp những người không nằm trong độ
tuổi quy định nhưng vẫn có khả năng tham gia lao động thì vẫn được coi là bộ
phận của của nguồn lao động. Tuy nhiên, do khả năng lao động của họ hạn chế nên
họ được coi là lao động phụ.
Chất lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao động, chất lượng
sức lao động thể hiện ở sức khỏe, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa, nhận thức,
hiểu biết khoa học kỹ thuật và trình độ kinh tế tổ chức.
- Cơ cấu lao động: Là quan hệ tỷ lệ lao động được phân chia theo một tiêu
thức kinh tế nào đó.
- Thị trường lao động: là nơi thực hiện các quan hệ xã hột giữa người bán
sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng
lao động) thông qua hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công hoặc tiền lương) và
các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động cụ thể bằng văn
bản, bằng miệng hoặc thông qua các thỏa thuận khác.
2.1.2 Việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và
nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy theo
cách tiếp cận mà người ta có những quan niệm khác nhau về việc làm:
- Việc làm là công việc mà người lao động tiến hành nhằm có thu nhập

thân người lao động.
3.1.4 Chất lượng nguồn lao động nông thôncòn thấp
Nhìn chung trình độ văn hóa của nguồn lao động nông thôn của chúng ta đã được
cải thiện trong những năm qua. Số người trong độ tuổi lao động không biết chữ
gần như không còn. Trình độ lao động học hết cấp I, II ngày càng tăng nhất là ở thế
hệ trẻ. Tuy nhiên, số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ
lệ khá cao khoảng 80%, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa thì tỷ lệ này còn cao hơn
nhiều.
Về trí lực thì nguồn lao động nông thôn của chúng ta được đánh gia là có truyền
thống cần cù, thông minh ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh các kiến thức
khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiệ đại. Đây là một lợi thế của chúng ta khi đất nước
nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng tham gia quá trình hội nhập quốc tế và
thực hiện chủ trương “đi tắt, đón đầu”.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là những mặt mạnh từ trước tới nay của người
dân Việt Nam vẫn được nhắc đến như truyền thống lao động cần cù, thông minh
sáng tạo, đoàn kết, có khả năng thích ứng với nhiều tình huống phức tạp. Nhưng
thực tế cũng cho thấy yếu điểm không thể không thừa nhận là trình độ kỹ thuật, tay
nghề, trình độ quản lý của lao động nông thôn còn thấp.
Khả năng tư duy của lao động nông thôn: Nguồn nhân lực nông thôn của Việt Nam
có xuất phát điểm thấp, nên phong cách tư duy của lao động nông thôn mặc dù
được cải thiện rất nhiều song vẫn mang tính chất thủ công, nhỏ lẻ, lạc hậu. Sản
xuất, quản lý vẫn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm và thâm niên làm việc.
3.2 Những thuận lợi và thách thức để phát triển nguồn lao động nông thôn
*Thuận lợi
Nước ta có nguồn lao động ở nông thôn đông, đặc biệt là nhóm lao động trẻ lớn sẽ
có ưu thế về sức khỏe, năng động sáng tạo, vươn lên làm chủ trong tương lai gần.
Số lao động được học tập nâng cao trình độ văn hóa ngày càng cao. Nhà nước ngày
càng quan tâm tới công tác giáo dục nhất là đào tạo cho khu vực nông thôn cả về
trình độ văn hóa lẫn chuyên môn tay nghề. Đây là lợi thế rất cơ bản để tiếp thu
nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho lao động nông thôn.

phát huy được những điểm mạnh, khắc phục, hạn chế những điểm yếu và đưa ra
những yêu cầu về giáo dục và đào tạo cho nguồn nhân lực. Một mặt phải giải quyết
vấn đề chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn về trình độ văn hóa và trình độ
chuyên môn kỹ thuật, mặt khác phải giải quyết vấn đề nâng cao thể lực người lao
động và phân phối nguồn lao động hợp lý.
3.3.1 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Trong trình tự đào tạo cho người lao động nông thôn phải đi lần lượt theo
trình tự phổ cập tiểu học đến phổ cập trung học cơ sở, trang bị những kiến thức cơ
bản, đào tạo nghề từ bậc sơ cấp đến các bậc cao hơn.
- Cần lồng ghép vốn hỗ trợ đào tạo từ các chương trình khuyến nông, sự hỗ
trợ của các tổ chức quốc tế để tổ chức các khóa tập huấn, đào tạo kinh nghiệm thực
tế ngắn hạn về canh tác, sản xuất nông nghiệp hiệu quả bền vững.
- Xây dựng các trường nghề tại ngay các địa phương để người lao động ở đó
có điều kiện theo học nghề.
- Hỗ trợ kinh phí cho con em nông thôn theo học các trường chuyên nghiệp,
đại học …… để học nâng cao trình độ về phục vụ quê hương hoặc xin vào các lĩnh
vực công nghiệp, dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn.
Việc đào tạo nghề cho người lao động nông thôn thực sự có hiệu quả cần chú
ý một số điểm sau:
- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao
động thật sự của các doanh nghiệp trên địa bàn, đồng thời dựa trên nhu cầu nghề
nghiệp thực tế của về nghề nghiệp của người nông dân chứ không phải theo trào
lưu, thành tích. Vì vậy, khi tổ chức các khóa học, khóa tập huấn cho người dân cần
tiến hành điều tra nhu cầu thực tế của họ ở từng địa phương, của các doanh nghiệp
trên địa bàn.
- Công tác đào tạo cần có sự tham gia của các cấp chính quyền, đoàn thể tại
địa phương. Cần lồng ghép vốn hỗ trợ cho các tổ chức ở địa phương như: Hội
Nông dân, Hội phụ nữ …… để tổ chức các khóa học tập huấn. Thực tế cho thấy,
địa phương nào có sự quan tâm, tham gia sát sao của chính quyền địa phương thì
có phong trào đào tạo đạt kết quả cao.

phù hợp.
3.3.4 Một số biện pháp khác
Bên cạnh các biện pháp tập trung cho công tác đào tạo nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực nông thôn như đã trình bày ở trên thì để phát triển tốt nguồn lực
này cũng cần tiến hành một số biện pháp khác như:
- Tuyên truyền thực hiện tốt biện pháp Kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ gia
tăng dân số ở nông thôn để trong tương lai giảm áp lực về nhu cầu việc làm cho
người lao động nông thôn.
- Có sự liên kết tốt giữa chính quyền địa phương, người dân và các doanh
nghiệp công nghiệp trên địa bàn. Trước khi thu hồi chuyển giao đất giải phóng mặt
bằng cần có những văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp và địa phương về công
tác hỗ trợ đào tạo và ưu tiên sử dụng lao động địa phương khi doanh nghiệp đi vào
hoạt động.
- Nhà nước cần hỗ trợ hơn nữa cho các đối tượng nghèo, đối tượng có hoàn
cảnh khó khăn ở nông thôn để họ có điều kiện vươn lên trong cuộc sống, cải thiện
thu nhập của gia đình.
- Các địa phương cần thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước về trợ giúp người nghèo, đảm bảo công bằng xã hội như bảo trợ, ưu đãi đối
tượng khó khăn, chế độ cho gia đình có công với cách mạng, đối tượng hưu
trí……
- Thực hiện tốt chủ trưpng chính sách về phát triển giáo dục, y tế văn hóa
cho đồng bào các dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa vùng biên giới hải đảo để
tránh thiệt thòi cho họ. Đồng thời tạo cơ hội phát triển đồng đều giữa các vùng, các
khu vực tránh hiện tượng phân hóa giầu nghèo sâu sắc trong xã hội.
PHẦN IV: KẾT LUẬN
Trong bất kỳ một xã hội nào, một quốc gia nào thì nguồn lao động cũng
đóng vai trò quan trọng, trung tâm của quá trình sản xuất kinh tế, xã hội. Việt Nam
là nước nông nghiệp có lực lượng lao động ở nông thôn đông đảo. Họ là những
người đã đóng góp nhiều cống hiến quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
trước đây và công cuộc xây dựng đất nươc hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status