Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
51
Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm
qua diễn ra ổn định, ngoại trừ năm 1998 là năm khó khăn không chỉ đối với
Công ty dệt may Hà Nội mà còn với cả toàn ngành dệt may Việt Nam mà
nguyên nhân là do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính
trong khu vực từ cuối năm 1997. Cụ thể đã làm cho sức mua của các bạn hàng
chủ chốt như : Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Qu
ốc, Hồng Kông giảm mạnh và khả
năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam yếu đi do các nước có khủng
hoảng. Tuy nhiên sang năm 1999 trở đi công ty đã có những tiến bộ đáng kể. Có
được kết quả như vậy là do sự chỉ đạo chặt chẽ của ban lãnh đạo công ty kết hợp
với sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, công nhân viên trong công ty mà đặc biệt là
nhờ
những cán bộ phòng xuất nhập khẩu vừa năng động vừa nhanh nhạy trong
việc tiếp cận và đáp ứng những yêu cầu của công tác hoạt động kinh doanh.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và trong kinh doanh xuất khẩu hàng
dệt may nói riêng, việc tìm kiếm thị trường là rất quan trọng đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh diễn ra liên tục và đạt hiệu quả cao. Kinh doanh xuất nhập
khẩu vượt ra khỏi biên giới quố
c gia nên thị trường càng trở nên phức tạp. Đến
nay công ty dệt may Hà Nội đã có quan hệ làm ăn với khoảng trên 20 nước trên
thế giới và đang tìm cách mở rộng hơn nữa thị trường quốc tế của mình .
a. Tình hình xuất khẩu theo thị trường.
Bảng 5 dưới cho biết sự biến động của công ty cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu, các nước nhập khẩu sản phẩ
m của công ty ngày càng tăng lên cả về số
khẳng định: kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc năm 2001 là 3.415.774 USD
gấ
p 142.3 lần năm 2000. Từ khi Việt Nam kí hiệp định thương mại với Mỹ thì
kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ năm 2001 tăng vọt lên 1.590.107 USD t và bước
sang năm 2002 con số này nên mức 14.097.970 USD trong khi đó năm 2000 là
29.769 USD năm 1998 là 16.200 USD và năm 1997 là 591 USD.
Bảng 5: Kết quả kinh doanh xuất khẩu theo thị trường của công ty
(Theo giá FOB: 1000USD)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tổng KNXK 14.137 13.667 14.135 16.745 18.085 23.540,67041
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
53
Nhật Bản
Đài Loan
Cộng hoà Czech
Anh
Pháp
Đức
Italia
Singgapore
Nam Phi
Thuỵ Sĩ
Hàn Quốc
Mỹ
Argentina
ÚC
39
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
9.804
1.283
428
1.221
20
506
27
-
-
-
53
16
3
59
27
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
8.204
3.002
402
901
97
724
804
79
1
288
24
29
49
21
22
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
3.442,21
2.175,94
-
1.052,47
0
50,47
-
-
-
-
1.928,98
14.047,97
-
-
-
45,15661
-
-
254.1129
-
10,8675
-
118,46624
10,77126
0,18227
9
198.305
194.095
4.210
288.429
239.576
48.453
311.781
245.500
66.281
355.889
268.755
87.134
Vải
-Trong
nước
-Xuất khẩu
Tính vào
sản phẩm
khăn
1.967
1.967
-
2.918
2.918
-
7.255
4.608
2.647
168.121
23.501
144.620
138.974
33.095
105.879
148.842
34.792
114.050
250.103
46.578
203.525
Lều 26.441 2.416 816 0 0
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
55
-Trong
nước
-Xuất khẩu
3.363
23.048
0
2.416
0
816
0
0
0
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
56
Số lượng(chiếc) Trị giá (USD) Sốlượng(chiếc) Trị giá( USD)
Hàn Quốc
Mỹ
Cuba
103.680
204.784
0
120.770
157.386
0
0
1.718.848
12.000
0
3.098.200,15
7.740
Tổng 308.464 278.156 1.730.848 3.105.940,15
(Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu)
2 Phân tích khả năng cạnh tranh của công ty
Hơn 10 năm qua nhờ thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa nền kinh tế của
Đảng và Nhà Nước, ngành dệt may đã không ngừng phát triển cả về qui mô,
năng lực sản xuất, trình độ trang thiết bị, diện mặt hàng, chất lượng sản phẩm.Từ
chổ các doanh nghiệp dệt may chỉ lo sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của
nhân dân trong nước và thực hi
sau sẽ phân tích khả năng cạnh tranh giữa một số công ty dệt may thuộc tổng
công ty dệt may Việt Nam.
Bảng8: Các thông số so sánh khả năng cạ
nh tranh của một số công ty
thuộc tổng công ty dệt may Việt Nam (năm 2002)
(Đơn vị: tỷ đồng)
Tỷ suất lợi nhuận Công
ty
Doanh
thu
Lợi
nhuận
TSC
Đ
Vốn
CSH
Chi
phí
Trên
DT
Trên
CP
Trên
TS
Trên
vốn
May
Chiến
Thắng
82.76 1.8786
9.344 74 42.2 142.84 0.0614 0.0654 0.126
27
0.2214
2
May
Đức
Giang
122.75 5.3609 60.8 13.911 117.38
91
0.0437 0.0456
6
0.088
17
0.3857
5
Dệt
may
Hà Nội
670.49
2
23 224.
18
159.6 647.49
6
0.0343 0.0355
2
0.102
596
0.1441
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Tổng công ty dệt may Việt Nam 2002)
i nhuận trên tài sản và trên nguồn vốn là cao chứng tỏ tính hiệu quả
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và khả năng tổ chức sắp xếp
các yếu tố đầu vào, nguồn nhân lực, khai thác tốt nhất công xuất hoạt động của
máy móc thiết bị và đây là yếu tố có thể giảm chi phí giá thành của sản phẩm
nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty. Chính vì vậy mà doanh thu của công
may Việt tiế
n thấp hơn doanh thu của công ty dệt may Hà Nội tuy nhiên mức tỷ
xuất lợi nhuận trên doanh thu của công ty may Việt tiến lại cao hơn công ty dệt
may Hà Nội. Ta tiếp tục so sánh sức cạnh tranh của công ty dệt may Hà nội với
công ty may Chiến Thắng và công ty may Mười nhận thấy rằng tỷ xuất lợi
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
59
nhuận trên doanh thu và chi phí của công ty là cao hơn chứng tỏ công ty đã có
những ưu thế hơn hẳn trong việc điều tiết các yếu tố chi phí, giảm chi phí trong
sản xuất tiêu thụ sản phẩm tạo ra mức lợi nhuận cao và nâng cao sức cạnh tranh
của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi xem xét bảng số liệu ta nhận thấy việc sử dụng
đồng vốn chủ sở hữu và sử dụng tài sản cố đị
nh của doanh nghiệp là chưa hiệu
quả, mặc dù công ty may Chiến Thắng có nguồn vốn chủ sở hữu và tài sản cố
định thấp hơn công ty dệt may Hà Nội nhưng hiệu quả sử dụng lại cao hơn. Điều
này chứng tỏ công ty dệt may Hà Nội chứa dụng tối đa những lợi thế cạnh tranh
sẵn có của mình nhiều khi gây thất thoát, láng phí và đây cũng là nguyên nhân
dẫn t
ới việc tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và chi phí của công ty thấp.
Như vậy, không hẳn một doanh nghiệp có doanh thu lớn, hay có lợi nhuận
lớn thì đã có nghĩa doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp
khác cùng ngành. Điều quan trọng là khả năng kết hợp các nguồn lực sẵn có và
may của công ty nói riêng và của toàn ngành dệt may nói chung có khả năng
cạnh tranh về giá cả do giá nhân công của ta thấp nhưng gần đây điều này không
còn đúng nữa vì giá nhân công của Trung Quốc còn thấp hơn của ta, hơn nữa ta
còn phải chịu chi phí cao vì phải nhập nguyên liệu và máy móc. Như vậy, giá
của ta chỉ có thể cạnh tranh được với giá của Thái Lan, Indonesia, Malasia, Hàn
Quốc, Hồng Kông. Tuy nhiên, sức cạnh tranh này cũng đang giảm dần vì s
ự sụt
giá của đồng tiền của các nước này so với đồng đoola Mỹ trong khi đồng Việt
Nam lại giảm rất ít. Còn so với Trung Quốc giá hàng dệt may của ta không thể
cạnh tranh được. Giá hàng của Trung Quốc chỉ bằng khoảng 80% so với giá
hàng tương ứng của Việt Nam. Ưu thế này do: giá nhân công thấp, giá nguyên
liệu đầu vào thấp (hầu hết sản xuất tại Trung Quốc), thiết bị sản xu
ất được lựa
chọn tối ưu, các doanh nghiệp có kinh nghiệm quản lý kỹ thuật và sản xuất
Điểm hạn chế của công ty chính là ở chỗ công ty chưa khẳng định đuợc
mình qua nhãn hiệu hàng hoá danh tiếng hay nghệ thuật marketing. Không đựoc
như các công ty may mặc khác trên thế giới, nhãn hiệu của dệt may Hà Nội chưa
bao giờ đuợc gắn trên sản phẩm mà mình sản xuất. Các khách hàng thuê công ty
gia công là lự
c lượng tiêu thụ chính và cũng là người có quyền gắn nhãn hiệu
nên sản phẩm, đối với các sản phẩm bán theo giá FOB cũng chưa có ngoại lệ.
Đây là một bất lợi rất lớn của công ty vì công ty không thể tự quảng cáo mình
trên thị trường thế giới. Như vậy, so với các đối thủ cạnh tranh trên các thị
truờng có khả năng thanh toán cao thì công ty có sức cạnh tranh yếu, vì trên thị
trường này yếu tố ch
ất lượng và nhãn mác sản phẩm đước chú ý hơn là giá cả.