LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đào Thị Phúc
Trang1
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Trang
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH…………………………… 1
1.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH…………………………………1
1.1. Khái niệm về kinh tế ngoài quốc doanh………………………………1
1.2. Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.2
1.3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta…3
2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH………………5
2.1. Tín dụng ngân hàng………………………………………………………5
2.1.1. Khái niệm…………………………………………………………………………5
2.1.2.Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng……………………………………………6
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng……………………………………………6
3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG………………………………………………7
3.1. Chất lượng tín dụng ngân hàng………………………………………….7
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng………… 8
3.2.1. Về phía ngân hàng…………………………………………………………… 8
3.2.2. Về phía khách hàng…………………………………………………………… 9
3.2.3.Các nhân tố khác………………………………………………………………10
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH
TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI
PHÒNG ……………………………………………………………………….11
1. KHÁI QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG……………………11
1.1. Giới thiệu
chung………………………………………………………… 11
1.2. Cơ cấu tổ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đào Thị Phúc
Trang3
LỜI MỞ ĐẦU
Việc thực hiện thương mại Việt Mỹ và những cam kết khi gia nhập tổ
chức thương mại quốc tế WTO buộc các thành phần kinh tế nước ta phải chấp
nhận cạnh tranh bình đẳng theo luật chơi chung do cộng đồng quốc tế quy định.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
có vai trò đặc biệt quan trọng tạo việc làm, tạo thu nhập, góp ph
ần ổn định đời
sống xã hội.
Tuy nhiên, ngoài những điều kiện kinh tế xã hội như thị trường, thiết bị
công nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lý, trình độ tay nghề…để đảm bảo phát
triển nhanh, mạnh và có hiệu quả đối với các đơn vị ngoài quốc doanh trong quá
trình hội nhập thì một điều không thể không nhắc đến là điều kiện về vốn. M
ọi
hoạt động kinh doanh đều cần vốn tài chính, trong khi các đơn vị này lại rất hạn
hẹp và gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại còn e ngại
khi cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vay, nguyên nhân chính là do chất
lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế này còn chưa cao. Điều này đã ảnh
hưởng ít nhiều đến sự phát triển kinh tế.
Bởi vậy, sau khi thực tập tại NHTM Cổ phần Á châu Hả
i Phòng và nhận
nước… Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, năm 1986, tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định đường lối phát triển kinh
tế theo hướng: “kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý củ
a nhà nước theo định hướng XHCN”. Sự khẳng định
này khiến cho kinh tế quốc doanh không còn vị trí độc tôn như trước nữa, thay
vào đó là chủ sở hữu tư nhân được thừa nhận, kinh tế ngoài quốc doanh được
tồn tại và phát triển bình đẳng với kinh tế Nhà nước.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các đơn vị kinh doanh có tính chất tư
hữu (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài). Xét về loại hình doanh nghiệ
p
bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và các đơn vị
theo hình thức hợp tác xã (HTX).
Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng con
đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi sự khác
nhau của các thành phần kinh tế. Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đã tăng lên nhanh chóng và tham gia ngày càng tích cực vào thị trường, làm tăng
sự sôi động trong nền kinh tế.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đào Thị Phúc
Trang5 1.2. Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều tự chủ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình. Chính sách kinh tế mở đã tạo cơ hội cho
kinh tế ngoài quốc doanh phát huy hết khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phầ
n kinh tế đều có quyền bình đẳng,
chính điều này đã tạo nên sức mạnh và những thế mạnh riêng cho thành phần
mô hoạt động khá bé nhỏ, song đó lại là một lợi thế cho các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tăng vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Chi phí gián tiếp thấp:
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một người chủ và số
nhân viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp. Chi phí gián tiếp
th
ấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng. Chủ doanh nghiệp
có tinh thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của
doanh nghiệp. Cũng chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên làm việc nghiêm túc và
hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở các doanh nghiệp
quốc doanh. Do vậy khối luợng vốn để hỗ
trợ cho từng doanh nghiệp sẽ không
lớn, hiệu quả và sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tuy nhiên, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng có không ít những hạn
chế của nó.
. Khả năng tài chính còn nhỏ bé: Trong giai đoạn đầu, phần lớn các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh đều gặp phải vấn đề thiếu vốn. Các tổ chức tài chính
thường e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh này vì họ chư
a
có quá trình kinh doanh, chưa có uy tín và chưa thể tạo lập được khả năng trả
nợ. Do vậy, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phần lớn dựa vào nguồn vốn
chính từ bạn bè, thu hút vốn qua hình thưc mua bán chịu…Việc mở rộng doanh
nghiệp luôn bị hạn hẹp về nguồn vốn.
. Trình độ công nghệ sản xuất còn ở mức thấp: Trình độ công nghệ là yếu tố
quyết định
đến năng suất, chất lưọng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên
thị trường. Hiện tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có công nghệ hiện đại
không nhiều, chỉ có một số công ty liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước
ngoài được trang bị máy móc và dây truyền tiên tiến, còn lại sử dụng các công
cụ thủ công , thiếu đồng bộ.
Thứ hai, kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, là động lự
c
phát triển của nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề sản xuất kinh doanh
đều do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận. Sự phát triển của kinh tế ngoài
quốc doanh đã tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh
nghiệp này phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại
và đứng vững trong cơ
chế thị trường. Như vậy, sự phát triển của khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vị trí của chủ
thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy nhanh việc hình
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đào Thị Phúc
Trang8
thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước,
cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, nâng
cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển góp phần tăng thu ngân sách Nhà
nước.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu ngân sách Nhà
nước. Do vậy, để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan tr
ọng nhất là
không ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh tồn tại và phát triển là phần đóng góp to lớn cho ngân sách Nhà nước(
khoảng 30%) thông qua thuế và các khoản khác. Khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh có vai trò điều hoà thu nhập cũng như đóng góp vào ngân sách Nhà nước.
Thứ tư, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp cho nền kinh tế một khối
lượng hàng hoá lớn, dịch vụ phục vụ
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bằng việc sản xuất hàng hoá, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần