SKKN- Rèn và nâng cao kỹ năng thực hành thông qua bài Vẽ theo mẫu - Pdf 18

Rèn và nâng cao kỹ năng thực hành thông qua bài Vẽ
theo mẫu
PHẦN I
NHẬN THỨC VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu của xã hội đối với nguồn
nhân lực ngày càng cao, để đáp ứng được nhu cầu đó của xã hội, những năm gần đây
Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều những quyết sách, đầu tư thích đáng cho giáo dục,
điều đó được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng mang tính vĩ mô và cụ thể
nhất đó là đã ban hành luật giáo dục (Ban hành 2005). Trước hết, nói về mục tiêu giáo
dục, theo chương I điều 2: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp …. Hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, ngay từ phần đầu của bộ luật ta đã
thấy sự quan tâm đến giáo dục, nâng vị thế của giáo dục lên một tầm cao mới, coi đầu
tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, đầu tư chiều sâu. Còn nguyên lý của giáo dục là
“Học đi đôi với hành, Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với
thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội”. “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; Phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Tất cả những
vấn đề trên đây đã được luật giáo dục đề cập đến một cách ngắn gọn, rõ ràng và dễ
hiểu, mục tiêu của giáo dục đề cập đến đào tạo con người phải có thẩm mỹ, nguyên lý
giáo dục thì nói học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liền với thực tiễn. Môn mỹ
thuật trong trường phổ thông cũng không nằm ngoài mục tiêu và nguyên lý giáo dục
đã đề ra, việc thông qua phân môn vẽ theo mẫu nhằm rèn và nâng cao kỹ năng thực
hành cho học sinh là mục đích chính khi xây dựng chương trình mỹ thuật đặc biệt là
trong chương trình đổi mới sách giáo khoa ở bậc THCS, việc thực hành trong môn mỹ
thuật là một việc không thể thiếu, nó tuân thủ theo một nguyên tắc vòng tròn lôgíc
nhất định: Quan sát - So sánh - Thực hành (vẽ) - Đánh giá (nhận xét) - Quan sát và
cứ như vậy cho đến khi nhận thức về thẩm mỹ được phát triển đến trình độ nhất định.

kích thước, đậm nhạt, màu sắc mà không quan tâm đến vị trí xa, gần, cao, thấp,
nghiêng hay chính diện, hơn nữa còn bỏ qua cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm thụ của
người vẽ, nhất nhất yêu cầu “mười người như một” phải vẽ giống nhau như đúc một
khuôn. Vì thế, để hiểu đúng kháI niệm về phân môn này, năm 1980 Hội đồng bộ môn
MT đã nhất trí dùng thuật ngữ Vẽ theo mẫu để dùng trong trường phổ thông .
Vẽ theo mẫu được hiểu như sau: VTM là tả lại, mô phỏng lại mẫu có thực bằng cách
nhìn, cách nghĩ và cách cảm thụ của người vẽ. Rõ ràng ở đây không có sự rập khuôn,
bắt tất cả vẽ như nhau mà vẽ theo cách nhìn, cách nghĩ và cách cảm thụ của người vẽ,
vì vậy bài VTM của cả lớp sẽ không giống hệt nhau , mà có thể chỉ giống nhau trên
những nét lớn, những đặc điểm chính về hình dáng chung còn kích thước, đậm nhạt,
bố cục sẽ khác nhau theo khả năng phân tích của học sinh, cuối cùng khi nhìn tổng thể
ta sẽ thấycó bài đẹp, bài chưa đẹp, bài đạt bài chưa đạt yêu cầu.
Trong trường phổ thông, vẽ theo mẫu gồm những nội dung cơ bản sau đây:
*/ Lý thuyết chung: Những bài này chỉ giới thiệu một lần, sau đó vận dụng vào suốt
quá trình học. Quá trình vận dụng sẽ củng cố bổ sung dần, tạo điều kiện cho phần thực
hành vững vàng và phong phú. Đó là những bài: Luật xa gần, Phương pháp vẽ theo
mẫu, vẽ mầu; vẽ tập hợp đồ vật; vẽtĩnh vật; vẽ người; ký hoạ…
*/ Bài tập thực hành gồm có: Vẽ mẫu đơn, mẫu ghép, vẽ tĩnh vật chì, tĩnh vật mầu,
xé dán, tranh phong cảnh, vẽ chân dung, vẽ tượng, ký hoạ người và vật… những kiến
thức trên được nâng cao dần theo kiến trúc đồng tâm, yêu cầu từ dễ đến khó- đơn vị
kiến thức được lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng có bổ sung nâng cao dần từ lớp dưới lên
lớp trên.
VD: ở lớp 6 chỉ vẽ đồ vật có khối đơn giản nhằm chỉ để học sinh nắm bắt được cách
nhìn hình và đặt bố cục trong trang giấy cho hợp lý, nhưng đến lớp 7, yêu cầu phải đạt
là hình và đậm nhạt phải gần sát với mẫu, lớp 8 ngoài yêu cầu về hình, bố cục còn
phải diễn tả được độ đậm nhạt của màu và đến lớp 9 ngoài những yêu cầu trên còn
phải diễn tả được không gian, tương quan của mẫu và phải giống mẫu (bài 2,3) .
Đây cũng là vấn đề khó mà người giáo viên cần phải truyền đạt được đến học sinh và
ngược lại học sinh muốn thực hiện được các yêu cầu trên thì phải thực hành thật
nhiều, nhưng điều này thì còn nhiều hạn chế từ phía học sinh.

phương pháp:
- Thực hành thông qua quan sát (bằng hệ thống câu hỏi) ;
- Thực hành thông qua kỹ năng vẽ (giáo viên vẽ lên bảng một số cách, ví dụ: dựng
hình, xác định đậm nhạt, cách gạch bóng với một số bề mặt, chất liệu…)
- Thực hành thông qua hệ thống bài tập ở lớp và giao nhiều bài tập cho các em
thực hành ở nhà.
Trước hết, nói về thực hành bằng hệ thống câu hỏi, Giáo viên có thể đưa ra một số câu
hỏi như sau:
VD: Trong bài luật xa gần ở lớp 6: GV có thể hỏi khi đưa ra một số mẫu đã chuẩn bị,
ví dụ cái bát.
- Theo em khi nhìn chính diện thì miệng bát hình gì?
- Học sinh trả lời – Hình tròn
- Nhưng tại sao khi thầy (cô) nghiêng bát đi, miệng bát lại là hình bầu dục (elíp)?
- Học sinh sẽ suy nghĩ và trả lời theo ý của mình.
Hoặc giáo viên đưa ra hình ảnh về nhà ga xe lửa hoặc hàng cột điện:
- Giáo viên hỏi: Tại sao những cột điện có cùng kích thước mà sao càng nhìn xa chúng
càng nhỏ và mờ dần?
- Học sinh suy nghĩ…trả lời theo ý hiểu của mình.
Qua những câu hỏi trên, học sinh sẽ ham thích quan sát cảnh vật xung quanh. đây
chính là kỹ năng thực hành quan sát, nhìn nhận để nhận xét, một kỹ năng không thể
thiếu trong VTM nói riêng và mỹ thuật nói chung, Từ những câu hỏi này khi đến bất
cứ đâu, ở bất cứ chỗ nào, các em cũng thường tự hỏi, tại sao chúng thế này, tại sao
chúng thế kia?…
Như vậy, đối với chương trình học lớp 6, học sinh chỉ mới dừng lại ở mức nhận thức
về lý thuyết, hình thành về cách nhìn nhận, đánh giá về sự vật, hiện tượng thông qua
thiên nhiên và những hình khối đơn giản.
Còn trong chương trình lớp 7 và lớp 8 các kỹ năng đã được tiến thêm một bước đó là:
Khi vẽ các em phải vận dụng những kiến thức đã học được để đưa vào bài vẽ.
VD: Trong bài vẽ theo mẫu lọ hoa và quả:
GV cho các em quan sát mẫu và hỏi:

- Học sinh sẽ đưa ra nhiều ý kiến.
- Sau đó Giáo viên treo bảng phụ các hình vẽ đã chuẩn bị về các dạng bố cục: Quá to,
quá nhỏ, lệch trên, lệch dưới, hoặc ngang, hoặc dọc…
Học sinh sẽ nhận thức được làm thế nào để bố cục bài vẽ có bố cục đẹp, hợp lý.
Như vậy qua cách hỏi của từng bài có thể rèn cho các em kỹ năng thực hành quan sát,
tự hỏi, tự trả lời, đó chính là kỹ năng mở đầu cho người học môn mỹ thuật.
Vậy là từ cách nhìn nhận, đánh giá sự vật đến kỹ năng thể hiện của bàI vẽ đã được
hình thành và vận dụng ngay từ trong những bài vẽ theo mẫu.
Phương pháp tiếp theo là thực hành thông qua các bài vẽ, đây là phần thực hành mà
bất cứ bài nào trong môn mỹ thuật cũng dùng tới cụ thể là:
Trong chương trình vẽ theo mẫu của hai khối lớp 7,8 còn có những bài về tỷ lệ khuôn
mặt người, vẽ chân dung bạn, vẽ dáng người, ký hoạ dáng người. Đây là những bài
mang ý nghĩa thực hành cao, ngoài những vấn đề mang tính chất công thức, các em
còn phải vận dụng chúng vào thực tiễn, làm sao phải diễn tả được cái có thực đang
hiển hiện ngay trước mắt, kỹ năng thực hành ở đây không chỉ mang tính đơn thuần là
chỉ có vẽ đúng theo tỷ lệ là được mà chúng còn thể hiện ở chỗ: bất cứ khi nào đặt bút
để vẽ một nét thì lại phải suy nghĩ xem nên bắt đầu từ đâu? khi nào thì dừng lại, khi
nào thì nhấn bút mạnh để tạo nét đậm, khi nào nhấn nhẹ để tạo nét nhạt? và nếu như
vẽ sai hoặc thừa nét có nên tẩy ngay không hay cứ để nguyên đến cuối bài mới chỉnh
sửa, lúc này giáo viên cần động viên các em là không nên vội sửa, mà cứ để nét thừa
đó để so sánh và chọn ra cái đúng, gần hoàn thiện hình ta mới nên sửa cho chuẩn hình,
đây là phương pháp thử và sửa - phương pháp luôn được các hoạ sỹ hay dùng, qua
nhiều lần sửa sai như vậy ta rút ra kinh nghiệm cho những nét vẽ sau, những bài sau .
Ví dụ: bài giới thiệu tỷ lệ khuôn mặt người, đây là một bài khó, thực ra khuôn mặt thì
ta thường xuyên nhìn thấy nhưng khi yêu cầu vẽ khuôn mặt cho đúng thì quả thực là
khó, đối với một bài mang tính công thức như vậy, ngoài kiến thức trong SGK cần
truyền đạt, giáo viên nên mở rộng thêm là khi vẽ gương mặt không nên vẽ tất cả các
nét đều nhau vì: Các em đã học luật xa gần, các em đã biết những vật ở xa thì nhỏ và
mờ hơn vật ở gần, vậy trên khuôn mặt các em thấy cái gì ở phía trước, cái gì ở phía
sau? Nếu ở phía trước nên vẽ đầy đủ chi tiết và rõ ràng hơn, và ngược lại ở sau thì mờ,

cơ bản của mặt người đã chiếm rất nhiều thời gian, vậy thực hành là không đủ, trong
khi đó các em lại không có mẫu và không được vẽ ở nhà khi không có mẫu, vậy là yêu
cầu của bài khó được thực hiện, nhưng cũng không phải không có cách, bài này giáo
viên có thể cho các em thực hành bằng cách: Cho các em làm bài tập phóng tranh chân
dung, ký hoạ người thân (đây là bài các em đã học từ lớp trước) từ đó các em sẽ thuộc
tỷ lệ cơ bản của mặt người vậy các em sẽ đỡ bỡ ngỡ khi vẽ tượng và giáo viên cũng
không mất thời gian cho việc ôn lại tỷ lệ nữa.
Ngoài ra ở các bài khác, nên giao cho các em nhiều bài tập để các em không bị động
trong các kỹ năng khi hoạt động thực hành ở lớp.
Như vậy, hệ thống lại toàn bộ chương trình vẽ theo mẫu ở các khối lớp ta thấy, kiến
thức đi từ lý thuyết đến thực tiễn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Sau khi
hàon thành chương trình, các em sẽ nhận thức được vẻ đẹp của thiên nhiên, của con
người và những sản phẩm do con người tạo ra, giáo dục cho các em tình yêu lao động,
tính kiên trì, óc tư duy sáng tạo không mệt mỏi.
Tóm lại: Để rèn và nâng cao kỹ năng thực hành của học sinh qua bài dạy vẽ theo mẫu
đòi hỏi giáo viên phải vất vả hơn nữa trong việc thiết kế và điều hành giờ học, bản
thân giáo viên cũng phải chủ động, sáng tạo thì mới khơi dậy trong các em sự hoạt
động tích cực, sáng tạo với một số việc cụ thể như sau:
- Hướng dẫn học sinh quan sát và nhận xét mẫu một cách cụ thể, tránh trường hợp
quan sát chưa kỹ đã cho học sinh vẽ.
- Động viện, khuyến khích học sinh tự tìm ra phương pháp nhìn nhận, phương pháp vẽ
riêng cho mình, tôn trọng ý kiến của các em, tránh không tạo cảm giác các em bị áp
đặt.
- Hướng dẫn tỷ mỷ khi cho các em học ngoài trời.
- Chuẩn bị mẫu vẽ, tư liệu đầy đủ, đa dạng, phong phú hết khả năng cho phép.
PHẦN III:
ĐÚC RÚT KINH NGHIỆM
Qua những năm giảng dạy ở địa phương, tôi nhận thấy:
1. Giáo viên phải nắm vững nội dung bài giảng, chuẩn bị tư liệu đầy đủ, phong phú
trước khi đến lớp.

mĩ thuật ở địa phương và đặc biệt là trong chương trình đổi mới sách giáo khoa mà bộ
giáo dục đã ban hành. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các vị lãnh đạo, các bạn đồng
nghiệp để đề tài của cá nhân tôi trở lên hoàn thiện và có thể được ứng dụng trong thực
tế cho những năm học tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn.

Đức Chính, ngày 20/5/2007
Người viết
Hồ Ngọc Dũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status