A. Phần mở đầu
Phát triển và hội nhập là một trong những xu thế lớn của thời đại. Đối với
Việt Nam, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đa
nền kinh tế đi lên theo định hớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập cùng nền kinh tế
thị trờng thế giới là nhiệm vụ rất quan trọng. Đó không chỉ là thời cơ, điều
kiện cần thiết để sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đợc có mặt nhiều hơn trên
thị trờng quốc tế mà còn là thử thách lớn về nhiều mặt đối với các doanh
nghiệp và doanh nhân Việt Nam.
Tại Đại hội VI ban chấp hành trung ơng Đảng đã quyết định một bớc
ngoặt vĩ đại đối với đất nớc đặc biệt là việc quyết định đa nền kinh tế chuyển
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN.
Để khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong phát triển kinh
tế, Nhà nớc ta đã và đang khuyến khích thành lập các doanh nghiệp theo hiến
pháp và pháp luật Việt Nam quy định. Nhng khi chuyển sang nền kinh tế thị
trờng các doanh nghiệp Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc sản
xuất, lu thông, tìm kiếm đối tác và thị trờng, đòi hỏi nhà nớc phải có sự hỗ trợ,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Sản xuất đóng vai trò quan trọng
trong hoạt động của doanh nghiệp, trong đó ba vấn đề: sản xuất cái gì? sản
xuất nh thế nào? sản xuất cho ai? đặt ra các doanh nghiệp trong suốt quá trình
hoạt động sản xuất, vốn, hàng hoá hoạt động hiệu quả hay không là do quá
trình sản xuất, lu thông có tuần hoàn không. Vai trò sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp rất quan trọng, nó tạo ra một cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã
hội cho nên đòi hỏi nhà nớc phải có sự quản lý hợp lý tạo điều kiện tốt nhất để
doanh nghiệp cạnh tranh đợc trên thị trờng quốc tế. Khó khăn rất nhiều và đòi
hỏi phải có một cơ sở lý luận để dẫn đờng có tác động tích cực thúc đẩy sản
xuất phát triển, mở rộng. Đó cũng là lý do em chọn đề tài: Trình bày lý
thuyết về tuần hoàn và chu chuyển t bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi
nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của nớc ta
khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN cho đề án Kinh tế
chính trị.
1
Giai đoạn đầu T - H tức là nhà t bản dùng t bản tiền tệ ứng ra ban đầu để
mua hàng hoá ở trên hai thị trờng đó là thị trờng sức lao động và thị trờng t
liệu sản xuất (đó là những nhân tố của sản xuất).
Slđ (sức lao động)
T - H
TLSX(t liệu sản xuất)
Nh vậy tiền của nhà t bản phải chia làm hai phần theo tỷ lệ thích hợp:
Một phần mua sức lao động, một phần mua t liệu sản xuất. Sau khi mua đợc
hàng hoá (Slđ - TLSX) thì t bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ mà mang hình thức
hiện vật. Với hình thức hiện vật đó nó không thể tiếp tục lu thông đợc. Nhà t
(
1)
Kinh tế chính trị: NXB giáo dục - 1998, trang 102
3
3
bản phải đa hàng hoá vào trong quá trình sản xuất, để tạo ra hàng hoá cung
cấp cho thị trờng thì toàn bộ công nhân phải tham gia vào quá trình sản xuất
để tạo ra sản phẩm. Kết quả là nhà t bản có đợc một số hàng hoá mới mà giá
trị của chúng lớn hơn giá trị của những nhân tố đã dùng để sản xuất ra số hàng
hoá đó. Hàng hoá này (H) có thể cạnh tranh đợc ở trên thị trờng, đáp ứng đợc
nhu cầu của ngời tiêu dùng tức là có giá trị sử dụng cao. Nhà sản xuất mang
hàng hoá (H) đó ra thị trờng để bán nhằm thu về đợc vốn và lợi nhuận tức là
T - T là hình thái chuyển hoá của H, sự chuyển hoá này đợc thực hiện là do
một hành vi đơn giản của lu thông hàng hoá, do sự đổi chỗ giữa hình thức
hàng hoá và tiền, hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình thái bị gây nên, nh-
ng xét về mặt lợng phải lớn hơn hình thái ban đầu. Sau một chu kỳ sản xuất
nhà t bản thu về cả vốn lẫn lãi từ T một phần trả lơng cho công nhân, một
phần dự trữ để tiếp tục đầu t sản xuất. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại, tuần hoàn
một cách liên tục và hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận thu về
ngày càng tăng nó đợc quy định bởi một loạt những sự biến hoá hình thái của
= H + h = Sx + h. Trớc kia chức năng của t bản hàng hoá H - T là giai đoạn
thứ hai của lu thông bị gián đoạn và là giai đoạn kết thúc của tổng tuần hoàn.
Bây giờ nó là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn nhng lại là giai đoạn thứ nhất
của lu thông. Tuần hoàn thứ nhất kết thúc bằng T và cũng có thể trở lại mở
đầu tuần hoàn thứ hai với t cách là t bản - tiền tệ. Tính chất của tuần hoàn thay
đổi các cách giải quyết để biết đợc công thức mà ta đang xét đại biểu cho tái
sản xuất giản đơn hay mở rộng. Nếu xét tái giản đơn của t bản sản xuất, nếu
mọi tình hình khác không thay đổi và hàng hoá đợc mua vào và bán ra theo
đúng giá trị của chúng thì toàn bộ giá trị thặng d sẽ đi vào tiêu dùng cá nhân
của nhà t bản. Sau khi t bản - hàng hoá H đã chuyển hoá thành tiền, thì bộ
phận của tổng số tiền đại biểu cho giá trị - t bản vẫn tiếp lu thông trong tuần
hoàn của t bản công nghiệp; còn bộ phận kia, tức giá trị thặng d đã chuyển
hoá thành tiền, thì đi vào lu thông chung của hàng hoá.
Trong hành vi H- T giá trị t bản và giá trị thặng d nằm trong H, cả hai
đều có thể tồn tại tách riêng ra đợc, tức là tồn tại thành những số tiền riêng
biệt; trong cả hai trờng hợp T và t đều là hình thái chuyển hoá của cái giá trị
mà lúc đầu, ở H với t cách là giá cả hàng hoá, có một biểu hiện riêng của nó,
một biểu hiện trên ý niệm mà thôi. Lu thông h - t - h là một lu thông giản đơn
của hàng hoá; giai đoạn thứ nhất của lu thông này tức là h - t thì nằm trong lu
thông của t bản - hàng hoá H - T, do đó nằm trong trong tuần hoàn của t bản;
5
5
ngợc lại đoạn bổ sung của nó t - h thì lại nằm ngoài tuần hoàn ấy, đợc thực
hiện với t cách là một hành vi lu thông chung của hàng hoá tách rời khỏi tuần
hoàn âý. Lu thông H và h tức là của giá tri t bản và của giá trị thặng d, sẽ tách
đôi ra sau khi H chuyển hoá thành T. Do đó:
Một là: sau khi t bản - hàng hoá đợc thực hiện bằng hành vi H - T = H
(T +t) thì vận động của giá trị - t bản và vận động giá trị thặng d trớc đó vẫn là
một trong H - T và đều nằm trong cùng một lợng hàng hoá, sẽ có thể tách rời
nhau ra, vì từ nay trở đi cả hai giá trị đó, với t cách là hai món tiền, đều có
t bản - hàng hoá H. Bởi vậy chỉ có một sự tồn tại của thân nó, h này cũng đã
gắn liền với tuần hoàn của giá trị - t bản đang tiến hành quá trình của mình;
nếu tuần hoàn ấy bì đình chỉ hoặc xảy ra một sự rối loạn nào đó nói chung, thì
không phải chỉ việc tiêu dùng h, mà đồng thời cả việc tiêu thụ cái loạt hàng
hoá đem trao đổi với h, cũng đều bị thu hẹp lại hoặc đình chỉ hẳn, h - t - h chỉ
gia nhập lu thông của t bản chừng nào mà h còn là một phần giá trị của H.
Mối quan hệ giữa tuần hoàn của t bản với t cách là một bộ phận của lu
thông chung, và tuần hoàn của t bản với t cách là một trong những khâu của
một lu thông độc lập, cũng biểu lộ ra khi chúng ta tiếp tục xem xét lu thông
của T = T + t. Là t bản tiền tệ, T tiếp tục tuần hoàn của t bản; t bị tiêu dùng đi
với t cách là thu nhập (t - h) thì đi vào lu thông chung, nhng lại tách khỏi tuần
hoàn của t bản. Chỉ có bộ phận t hoạt động làm t bản - tiền tệ phụ thêm mới
gia nhập tuần hoàn này mà thôi. Trong h - t - h tiền chỉ làm chức năng tiền
đúc, mục đích của lu thông này là sự tiêu dùng cá nhân của nhà t bản. Khoa
kinh tế chính trị tầm thờng cho rằng lu thông ấy không gia nhập tuần hoàn của
t bản - tức là lu thông của bộ phận sản phẩm - giá trị bị tiêu dùng đi với t cách
là thu nhập - là tuần hoàn đặc trng của t bản.
Trong giai đoạn thứ hai, T - H thì giá trị t bản T = SX lại tái hiện nhng đã
bị tớc mất giá trị thặng d chỉ, tức là có cùng một lợng giá trị nh khi nó ở trong
giai đoạn thứ nhất của tuần hoàn của t bản - tiền tệ T - H. Mặc dù t bản tiền tệ
ở vào một vị trí khác trớc, nhng chức năng của số t bản - tiền tệ mà giờ đây t
bản hàng hoá đã chuyển hoá thành thì cũng vẫn nh cũ: chuyển hoá thành
TLSX và SLĐ.
Nh vậy chức năng của t bản - hàng hoá H - T, giá trị t bản, cùng một lúc
với h - t, đã tiến hành xong giai đoạn H - T và sau đó nó đi vào giai đoạn bổ
sung:
7
7
Slđ
Tlsx;
T - H
H- T - H
Tlsx
Do đó tổng lu thông của nó là
lu thông. Việc chuyển hoá trở lại này đợc chuyển hoá nhờ sự biến hoá hình
thái giản đơn của hàng hoá. Nhng xét về mặt nội dung của nó thì việc chuyển
hoá trở lại này là một yếu tố của quá trình tái sản xuất.
Trong T T, T là hình thái ban đầu của giá trị t bản; giá trị t bản trút bỏ
hình thái này đi để rồi sau đó lại mang lấy nó. Trong Sx H - H Sx, T là một
hình thái chỉ hiện ra trong quá trình tuần hoàn, rồi sau đó lại trút bỏ đi ngay
trong giới hạn của chính quá trình ấy. Nếu sự biến hoá hình thái thứ hai T - H
gặp trở ngại thì tuần hoàn tức là tiến hành của quá trình tái sản xuất, bị đứt
quãng, hoàn toàn giống nh trong trờng hợp t bản bị đọng lại dới hình thái t bản
- hàng hoá. Khi t bản không còn làm chức năng t bản tiền tệ thì nó vẫn luôn
luôn là tiền; nhng nếu nó bị giữ quá lâu trong chức năng t bản - hàng hoá, thì
nó sẽ không còn là hàng hoá nữa và nói chung không còn là giá trị sử dụng
nữa. Slđ
Trong hình thái I, hành vi T - H Tlsx chỉ chuẩn bị cho sự chuyển
hoá đầu tiên của t bản tiền tệ thành t bản sản xuất, trong hình thái II, hành vi
ấy chuẩn bị cho sự chuyển hoá trở lại của t bản hàng hoá thành t bản sản xuất.
Bởi vậy, ở đây cũng nh trong hình thái I, hành vi này xuất hiện thành giai đoạn
chuẩn bị cho quá trình sản xuất nhng nó lại thể hiện nh là bớc quay trở về quá
trình ấy, nh là việc lặp lại quá trình ấy, do đó nh là bớc mở màn cho quá trình
tái sản xuất, và vì vậy mở màn cho việc lặp lại quá trình làm tăng thêm giá trị.
Một lần nữa T - Slđ là việc mua bán hàng hoá sức lao động dùng để sản
xuấta ra giá trị thặng d, còn T - Tlsx là một công việc không thể thiếu đợc về
mặt vật chất để đạt đợc mục đích đó. Sau khi T - H Slđ
hoàn thành,thì T đợc chuyển hoá thành t bản sản xuất thành Sx và tuần hoàn
lại bắt đầu trở lại.
Do đó, hình thái đầy đủ của Sx H - T - H Sx là:
nằm trong tuần hoàn của t bản đã sản sinh ra hàng hoá ấy. Tuần hoàn của giá
trị - t bản mà nhà sản xuất t bản chủ nghĩa đó là đại biểu vẫn không bị gián
đoạn. Còn nếu quá trình ấy mở rộng - điều này bao hàm việc mở rộng tiêu
dùng sản xuất các t liệu sản xuất - thì sự tái sản xuất đó của t bản có thể kèm
theo việc mở rộng tiêu dùng cá nhân của công nhân, vì quá trình đó sở dĩ bắt
đầu đợc và có thể tiến hành đợc, là do tiêu dùng sản xuất. Nếu nh những hàng
hoá Tlsx và Slđ - mà T chuyển hoá thành để hoàn thành chức năng t bản - tiền
tệ của nó, tức là chức năng của số giá trị - t bản phải chuyển hoá ngợc trở lại t
bản sản xuất, nếu nh những hàng hoá ấy cần đợc mua vào hoặc đợc trả tiền
theo những kỳ hạn khác nhau. Trong tuần hoàn của t bản công nghiệp t bản -
tiền tệ không thực hiện một chức năng nào khác ngoài chức năng tiền, và
những chức năng tiền này đồng thời có ý nghĩa là những chức năng của t bản,
chỉ là do mối liên hệ chung của chúng với các giai đoạn khác của tuần hoàn ấy
mà thôi.
Tích luỹ và tái sản xuất trên quy mô mở rộng.
Vì các tỷ lệ theo đó quá trình sản xuất cos thể mở rộng ra không phải đợc
định đoạt một cách tuỳ tiện mà là do một nền kỹ thuật nhất định quy định, cho
nên giá trị thặng d đã thực hiện, tuy đợc dành để t bản hoá, nhng lắm lúc chỉ
nhờ sự lắp đi lắp lại của một số tuần hoàn, mới có thể đạt tới quy mô có thể
10
10
thực tế làm chức năng t bản phụ thêm, hay gia nhập vào tuần hoàn của giá trị
t bản đang hoàn thành quá trình của mình.
Nếu trong các giao dịch của nhà t bản nói trên, tiền làm chức năng ph-
ơng tiện thanh toán (thành thử ngời mua chỉ phải trả tiền cho hàng hoá sau
một kỳ hạn hoặc dài hoặc ngắn), thì sản phẩm thặng d dùng để biến thành t
bản không chuyển hoá thành tiền mà chuyển hoá thành trái vụ, thành chứng từ
về quyền sở hữu đối với một vật ngang giá mà có thể là ngời mua đã có trong
tay, hoặc hy vọng đã có. Cũng hệt nh tiền đem gửi thành các chứng khoán có
lãi sản phẩm thặng d đó không gia nhập vào quá trình tái sản xuất của t bản
hai tuần hoàn đó hoàn toàn không có ý nghĩa giống nhau. Bản thân T T với t
cách là một tuần hoàn cô lập, chỉ nói lên rằng T tức là tiền tệ (hay t bản công
nghiệp đang thực hiện tuần hoàn của nó dới hình thái t bản - tiền tệ). Trái lại
trong tuần hoàn của Sx khi gian đoạn thứ nhất, tức là giai đoạn quá trình sản
xuất chấm dứt, thì quá trình làm tăng giá trị đã hoàn thành rồi, còn khi giai
đoạn thứ hai. H - T kết thúc, thì giá trị - t bản + giá trị thặng d đã tồn tại
thành t bản - tiền tệ đã đợc thực hiện, thành T, là các xuất hiện thành cái cực
cuối cùng trong tuần hoàn thứ nhất. Điều này nói nên rằng giá trị thặng d đã
đợc sản xuất ra.
Trong Sx Sx, Sx không nói nên đợc việc giá trị thặng d đã đợc sản
xuất ra, mà nói nên việct bản hoá giá trị thặng d đã sản xuất ra, do đó nói nên
rằng tích luỹ t bản đã xảy ra, khác với Sx, Sx gồm có giá trị - t bản ban đầu
cộng thêm giá trị của một t bản cho sự vận động của giá trị - t bản ban đầu
tích luỹ lại. T và H, dới hình thức mà nó xuất hiện trong tất cả các tuần hoàn
ấy, tự bản thân chúng không biểu thị sự vận động, mà biểu hiện kết quả của
cuộc vận động: việc làm tăng giá trị - t bản đợc thực hiện dới hình thái hàng
hoá hay dới hình thái tiền; vì vậy chúng biểu hiện giá trị - t bản thành T + t,
hoặc thành H +h.
Một khi T hoặc H cố định thành T +t hoặc H + h, tức là cố định lại dới
dạng quan hệ giữa giá trị - t bản với giá trị thặng d, con đẻ của giá trị - t bản,
thì mối quan hệ ấy biểu thị một lần dới hình thái tiền, lần kia dới hình thái
hàng hoá. Trong cả hai trờng hợp ấy, thuộc tính đặc trng của t bản, tức là thuộc
tính làm một giá trị đẻ ra giá trị. H bao giờ cũng chỉ là sản vật của chức năng
sản xuất, và T bao giờ cũng chỉ là sản vật của chức năng sản xuất, và T bao
giờ cũng chỉ là hình thái của H đã trải qua một sự chuyển hoá trong tuần hoàn
12
12
của t bản công nghiệp. Vì thế, khi t bản - tiền tệ đã thực hiện làm trở lại chức
năng đặc thù của nó là t bản - tiền tệ, thì nó không còn biểu hiện mối quan hệ
t bản chứa đựng trong T = T+t nữa. Một khi T T đã tiến hành xong rồi, và
ấy mới đóng một vai trò nào đó với t cách là mục đích tự thân.
Quỹ dự trữ.
Bản thân tiền tích trữ là điều kiện tích luỹ. Nhng quỹ tích luỹ cũng có thể
đảm nhiệm những công việc đặc thù, có tính chất phụ, tức là có thể gia nhập
quá trình tuần hoàn của t bản mà không cần phải mang hình thái Sx Sx và
do đó không cần mở rộng quy mô tái sản xuất t bản chủ nghĩa. Quỹ tích luỹ đ-
ợc dùng làm quỹ dự trữ khác với quỹ dùng làm phơng tiện mua và phơng tiện
thanh toán đã đợc nghiên cứu trong tuần hoàn Sx Sx. Quỹ dự trữ là một bộ
phận cấu thành của t bản nằm trong giai đoạn chuẩn bị của sự tích luỹ của nó,
tức là một bộ phận cấu thành của giá trị thặng d cha chuyển hoá thành t bản
tích cực.
Quỹ tích luỹ bằng tiền vốn đã là sự tồn tại của t bản - tiền tệ tiềm năng,
do đó nó đã là sự chuyển hoá của tiền thành t bản - tiền tệ. Công thức chung
của tuần hoàn của t bản sản xuất. Slđ
Sx H - T. T - H Sx (Sx)
Tlsx
2.3. Tuần hoàn của t bản - hàng hoá.
Công thức chung của tuần hoàn của t bản hàng hoá là:
H - T - H Sx H
H không những là sản phẩm mà còn là tiền đề của hai tuần hoàn đã nói
ở trên, bởi vì cái là T - H của một t bản thì đã bao hàm H - T của một t bản
khác, ít ra là trong chừng mực bản thân một bộ phận t liệu sản xuất là sản
phẩm hàng hoá của những t bản cá biệt khác đang thực hiện tuần hoàn của
chúng.
Tuần hoàn của t bản - hàng hoá không phải bắt đầu đơn thuần bằng một
giá trị - t bản, mà bằng một giá trị - t bản đã đợc tăng lên và nằm dới hình thái
hàng hoá, do đó ngay từ đầu nó đã bao hàm tuần hoàn không những của giá trị
- t bản dới hình thái hàng hoá mà còn bao hàm cả tuần hoàn của cả giá trị
14
14
đây là H, biểu hiện mối quan hệ t bản chủ nghĩa, nó có tác dụng quyết định
15
15
đối với toàn bộ tuần hoàn. Sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cũng nh phân
phối đặc thù về sản phẩm của một t bản - hàng hoá cá biệt, sự phân phối, một
mặt thành quỹ tiêu dùng cá nhân, và mặt khác thành quỹ tái sản xuất - đều
nằm trong tuần hoàn của t bản.
Trong T T có khả năng mở rộng tuần hoàn theo đại lợng của các phần t
sẽ gia nhập tuần hoàn mới. Trong Sx Sx, Sx có thể mở đầu tuần hoàn mới với
một giá trị nh cũ. Trong H H, t bản dới hình thái hàng hoá là tiền đề của
sản xuất, và với t cách là tiền đề, hình thái đó lại quay trở lại cũng trong tuần
hoàn ấy. Cả ba tuần hoàn đều có điểm chung: t bản kết thúc quá trình tuần
hoàn của nó dới đúng cái hình thái mà nó mở đầu quá trình tuần hoàn đó, nhờ
thế nó lại mang hình thái ban đầu trong đó nó lại mở đầu một tuần hoàn giống
nh vậy. Hình thái của điểm xuất phát T, Sx, H đều đợc cho trớc đối với mỗi
tuần hoàn; hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình thái bị gây nên, và do đó bị
quy định bởi một loạt những sự biến hoá hình thái cảu bản thân tuần hoàn. H
với t cách là điểm kết thúc một tuần hoàn của t bản công nghiệp cá biệt, chỉ
giả định là có hình thái Sx ở bên ngoài lu thông của t bản công nghiệp đã sản
sinh ra nó, T là điểm kết thúc của hình thái I, là hình thái chuyển hoá của H
(H - T) giả định là T nằm trong tay ngời mua, tồn tại ở ngoài tuần hoàn T T
và chỉ do việc bán H mới bị cuốn vào trong tuần hoàn đó, trở thành hình thái
kết thúc của bản thân tuần hoàn ấy.
3. Quan điểm của Mác - Lênin về vấn đề chu chuyển của t bản.
Nếu nh nghiên cứu tuần hoàn của t bản, chúng ta nghiên cứu các hình
thức mà t bản trút ra và khoác vào qua ba giai đoạn vận động của nó, thì khi
nghiên cứu chu chuyển của t bản, chúng ta nghiên cứu tốc độ vận động của t
bản nhanh hay chậm. Theo Mác - Lênin thì: Sự tuần hoàn của t bản, nếu xét
nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lắp đi lắp lại chứ không phải là quá
trình cô lập, riêng lẻ, thì gọi là chu chuyển của t bản
của các t bản cá biệt nếu xem xét trong mối quan hệ với sự vận động của t bản
xã hội. Nhng hình thái này không thích hợp cho việc nghiên cứu sự chu
chuyển của một t bản bao giờ cũng đợc bắt đầu bằng việc ứng trớc giá trị t bản
dới hình thái tiền tệ hay dới hình thái hàng hoá, và bao giờ cũng đòi hỏi giá trị
- t bản đang lu thông phải quay trở lại hình thái mà nó đã đợc ứng ra.
Những nhà kinh tế học không phân biệt các hình thái tuần hoàn khác
nhau, đã không xét chúng riêng ra trong mối quan hệ của chúng đối với chu
chuyển của t bản. Có những nhà kinh tế học khác lại xuất phát từ những chi
phí dới hình thái yếu tố sản xuất, và xem xét sự vận động cho đến lúc quay trở
về, nhng họ tuyệt nhiên không hề nói đến hình thái quay trở về đó, không hề
tự hỏi xem chúng sẽ quay trở về dới hình thái hàng hoá hay hình thái tiền. Sau
(
3)
Kinh tế chính - NXB giáo dục - 1998, trang 104
17
17
khi toàn bộ giá trị t bản mà một nhà t bản cá biệt bỏ vào một ngành sản xuấta
nào đó hoàn thành tuần hoàn trong sự vận động của nó, thì nó lại trở lại hình
thái ban đầu của nó và lại có thể diễn lại cùng một quá trình nh thế. Muốn
cho giá trị đợc bảo tồn mãi mãi và tiếp tục tăng thêm giá trị với t cách là giá trị
t bản, thì nó phải lắp lại tuần hoàn ấy. Trong đời sống của t bản, mỗi tuần hoàn
cá biệt chỉ là một giai đoạn không ngừng đợc lắp đi lắp lại, nghĩa là một giai
đoạn cấu thành một định kỳ. Hình thái T T t bản tiền tệ sẽ đi qua cái chuỗi
những chuyển hoá bao gồm quá trình tái sản xuất ra nó, hay quá trình tăng
thêm giá trị. Khi định kỳ Sx Sx kết thúc, t bản mang hình thái những yếu tố
sản xuất nó là tiền đề của việc lặp lại tuần hoàn. Tuần hoàn của t bản khi đợc
coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải một hành vi cá biệt thì đợc gọi là
vòng chu chuyển của t bản. Thời gian của vòng chu chuyển ấy đợc quyết
định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời gian lu thông cộng lại. Tổng số thời
gian ấy là thời gian chu chuyển của t bản. Do đó, thời gian chu chuyển của t
Còn t bản lu động là một bộ phận t bản sản xuất mà giá trị của nó sau
một thời kỳ sản xuất, có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà t bản dới hình thức
tiền tệ, sau khi hàng hoá đã bán xong (5). Đó là bộ phận giá trị t bản dới hình
thức sức lao động và những t liệu sản xuất khác. Nguyên liệu, vật liệu phụ bị
tiêu dùng toàn bộ vào sản xuất và cũng chuyển toàn bộ gia trị vào sản phẩm
mới. Chia t bản ra thành t bản cố định và t bản lu động cũng là một sự phân
chia khoa học, cần thiết về mặt quản lý kinh tế.
T bản cố định chu chuyển chậm hơn t bản lu động. Trong khi t bản cố
định chu chuyển đợc vòng thì t bản lu động đã chu chuyển đợc nhiều vòng.
Ngay trong t bản cố định, thời gian chu chuyển của các yếu tố khác nhau cũng
không giống nhau, có thời gian hoạt động dài, ngắn khác nhau, nghĩa là hao
mòn khác nhau. Hao mòn hữu hình là do sử dụng và do tác động của thiên
nhiên làm cho những bộ phận t bản đó dần dần hao mòn đi đến chỗ hỏng,
không dùng đợc nữa. Còn hao mòn vô hình là nói về những trờng hợp máy
móc mới tốt hơn tối tân hơn xuất hiện (6). Để tránh hao mòn vô hình, nhà t
bản còn tìm cách nâng cao tỷ suất khấu hao t bản cố định.
Dựa trên hai hình thức hao mòn mà C.Mác phân chia chu chuyển của t
bản thành Chu chuyển chung của t bản ứng trớc là con số chu chuyển trung
bình của những thành phần khác nhau của t bản. Chu chuyển thực tế là thời
gian để tất cả các bộ phận của t bản ứng trớc đợc khôi phục toàn bộ về mặt giá
trị, cũng nh về mặt hiện vật
(7)
. Chu chuyển thực tế do thời gian tồn tại của t
(
4)
, (5), (6): NXB Giáo dục: Kinh tế chính trị - 1998, trang 105, 106
(
7)
Kinh tế chính trị - NXB giáo dục - 1998 trang 109
19
Việt Nam lúc này còn quá nhỏ bé chủ yếu là các xí nghiệp dới sự che chở của
nhà nớc, nhà nớc bao cấp và chịu gần nh toàn bộ hậu quả mà doanh nghiệp
nhà nớc và xí nghiệp gặp phải. Hàng Việt Nam đợc sản xuất ra có khi không
đúng thời vụ, hàng cha về đến nông thôn thì đã hết. Nhà nớc lại không có
chính sách, biện pháp mở rộng sản xuất, không thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu là do nhà nớc cấp, doanh nghiệp không tồn
tại loại hình doanh nghiệp t nhân t bản, doanh nghiệp nhà nớc hoạt động rất
kém hiệu quả, năng suất cha cao, chất lợng thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật rất
hạn chế.
Đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc đi vào khôi phục xây dựng đất nớc.
Đảng và Nhà nớc ta xác định nhiệm vụ đầu tiên là phải phát triển kinh tế, đa
đất nớc đi lên. Tại Đại hội IV Đảng ta đã đề ra đờng lối xây dựng nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa: Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đa nền kinh tế nớc ta từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn XHCN, u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên
cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công
nghiệp và nông nghiệp cả nớc thành một cơ cấu công - nông nghiệp, vừa xây
dựng kinh tế trung ơng, vừa phát triển kinh tế địa phơng trong một cơ cấu kinh
tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lợng sản xuất với xác lập và
21
21
hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng
(8)
. Đến đại
hội lần thứ V (tháng 3 - 1982) của Đảng lại khẳng định đờng lối chung và đ-
ờng lối kinh tế do Đại hội IV của Đảng đã đề ra là hoàn toàn đúng đắn và đợc
tiếp tục thực hiện.
Thời kỳ này các doanh nghiệp tồn tại chủ yếu dới hình thái các xí nghiệp.
Đảng ta chủ trơng đối với xí nghiệp con đờng công ty hợp doanh. Thực hiện
chủ trơng đó, công cuộc cải tạo công nghiệp t bản t doanh ở miền Nam đã đợc
(tháng 12 - 1986) đến nay.
Đại hội VI của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng trên con đờng đổi
mới toàn diện và sâu sắc ở nớc ta; trong đó có sự đổi mới về các quan điểm
kinh tế. Đảng chỉ ra mục tiêu quan trọng là phát triển kinh tế trong đó khẳng
định vai trò của các doanh nghiệp trong nền kinh tế mới với cơ chế quản lý
mới đó là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Cơ chế mới gắn sản xuất
với thị trờng thông qua tín hiệu giá cả đợc hình thành theo quan hệ cung cầu,
đi đôi với thực hiện chế độ tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và mọi
đơn vị kinh tế trong môi trờng hợp tác và cạnh tranh bình đẳng. Nhà nớc quản
lý nền kinh tế thông qua hệ thống, thể chế rõ ràng, nghiêm chỉnh kết hợp đúng
đắn tính kế hoạch với việc sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ, sử dụng hợp lý
các đòn bẩy kinh tế nh giá cả, chính sách tài chính, tín dụng công tác kế
hoạch hoá đợc đổi mới theo hớng chuyển từ tính pháp lệnh sang tính hớng dẫn
là chính, từng bớc phân biệt quản lý Nhà nớc với quản lý sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Có thể nói cơ chế mới nhằm chuyển hoá nền kinh tế
Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp, hiện vật, tự cấp tự túc, sang nền kinh
tế thị trờng, theo định hớng XHCN. Đây cũng là con đờng chủ yếu để nâng
cao hiệu quả của mỗi đơn vị sản xuất - kinh doanh, cũng nh của toàn bộ nền
kinh tế.
Việc chuyển sang kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có sự đổi mới một cách
căn bản chức năng quản lý kinh tế của Nhà nớc. Từ chỗ trực tiếp làm kinh tế
can thiệp rất sâu vào quá trình sản xuất kinh doanh, Nhà nớc chuyển sang điều
tiết vĩ mô nền kinh tế chủ yếu bằng công cụ pháp luật, kế hoạch hoá định h-
ớng và các công cụ quản lý vĩ mô khác. Chính sách phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần của Đảng đã đợc thể chế hoá trong hiến pháp và đ-
ợc cụ thể hoá bằng hệ thống các luật: luật doanh nghiệp nhà nớc, luật khuyến
khích đầu t trong nớc, Luật đầu t nớc ngoài, Luật hợp tác xã, Luật công ty,
Luật doanh nghiệp t nhân, các luật thuế và luật ngân sách, Luật đất đai, Luật
dân sự, Luật phá sản, Pháp lệnh ngân hàng Đó chính là cơ sở pháp lý để
các chủ thể kinh tế và mọi ngời dân đầu t phát triển sản xuất, kinh doanh,
kỹ thuật ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Mặt khác, tỏo chức lại nền kinh tế đa các thành phần kinh tế vào hoạt động có
hệ thống để mục đích đạt đợc hiệu quả sản xuất cao hơn, tăng thu nhập và đời
sống dân c. Song nền kinh tế thị trờng không phải là một hệ thống đợc tổ chức
một cách hoàn hảo, không có những khuyết tật. Vì vậy, để cho nền kinh tế này
24
24
hoạt động có hiệu quả ở nớc ta và để khắc phục, hạn chế những tiêu cực của
cơ chế thị trờng cần có sự can thiệp của nhà nớc vào nền kinh tế thị trờng.
Trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, nhà nớc định hớng ngày
càng rõ ràng những chức năng quản lý nhà nớc, quản lý hành chính đối với
doanh nghiệp và đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ, chính xác
quyền lực của nhà nớc. Đó là con đờng để xoá bỏ những quy định không rõ
ràng, chồng chéo trong trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nớc với
các tổ chức, đoàn thể quần chúng, và sự lãnh đạo tổ chức của Đảng, nhằm hạn
chế tối đa sự sơ hở, dẫn đến tham nhũng lãng phí, vi phạm lợi ích chính đáng
của nhà nớc và bản thân doanh nghiệp. Sự vận động của nền kinh tế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc là tuân theo sự điều khiển song hành, tức là sự tác
động cùng một lúc của hai yếu tố, hai bàn tay: vô hình và hữu hình cơ
chế thị trờng và nhà nớc. Trong đó nhà nớc thực hiện chức năng quản lý của
các doanh nghiệp trên hai mặt tổ chức sản xuất và tổ chức bộ máy quản lý.
Tổ chức sản xuất
Một là: tổ chức sản xuất, lấy các hoạt động sản xuất kinh doanh làm đối
tợng, dựa trên cơ sở phân tích kinh tế - kỹ thuật và lấy hiệu quả kinh doanh
phù hợp với chính sách và pháp luật nhà nớc làm tiêu chuẩn cơ bản. Nhà nớc
hớng các doanh nghiệp nên sản xuất một loại sản phẩm có chất lợng cao đáp
ứng nhu cầu trong nớc và có thể đợc đem ra thị trờng nớc ngoài. Trong quá
trình sản xuất không đợc ngừng trệ, các dây chuyền sản xuất phải nối tiếp
nhau, tuần hoàn và liên tục dựa trên cơ sở trang thiết bị vốn có và đầu t mới.
Hai là: tổ chức sản xuất là cơ sở để sử dụng hợp lý mọi tài nguyên, xây