NGỘ ĐỘC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM
(ANTIDEPRESSANT OVERDOSE) 1/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM ĐƯỢC XẾP LOẠI NHƯ
THẾ NÀO VÀ CƠ CHẾ TÁC DỤNG CHÍNH CỦA CHÚNG ?
Các thuốc chống trầm cảm có thể được chia thành 3 loại lớn, gồm có
các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (tricyclic antidepressants = TCAs ),
monoamine oxidase inhibitors (MAOIs) và các thuốc mới hơn được gọi là
các thuốc chống trầm cảm không điển hình (atypicals), dị vòng
(heterocyclic) hoặc thế hệ thứ hai (second-generation).
Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCAs) được xếp loại thành amines
đệ nhị hoac đệ tam và chứa một chuỗi bên với một số thay đổi nhóm methyl.
Những thuốc này cản sự tái thu hồi (reuptake) các chất dẫn truyền thần kinh
(neurotransmitters) và đối kháng các thụ thể serotonin sau khớp thần kinh
(postsynaptic serotonin receptors).
MAOIs phong bế enzyme monoamine oxidase ở ty lạp thể
(mitochondrie) trong tế bào. Các enzyme này bình thường khử amine
(deaminate) các amines như epinephrine, norepinephrine (NE), serotonin và
dopamine (DA).Các thuốc chống trầm cảm không điển hình (atypicals) đa
dạng về cấu trúc nhưng tất cả cùng chung khả năng cản sự tái thu hồi của
serotonin trước khớp thần kinh (presynaptic) (ngoại trừ bupropion là một
chất ức chế sự tái thu hồi NE và DA). Nhiều chất có thêm các tác dụng, như
ức chế sự tái thu hồi của DE và NE và phong bế serotonin hay alpha-
adrenergic.
Cơ chế tác dụng của các thuốc chống trầm cảm
2/ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LIÊN KẾT VỚI NGỘ ĐỘC
THUỐC CHỒNG TRẦM CẢM ?
Căn cứ trên báo cáo thường niên của Hiệp hội Hoa Kỳ của các trung
tâm kiểm tra độc chất (Poison Control enter), các thuốc chống trầm cảm chỉ
giảm mức độ tri thức, co giật và tim nhịp nhanh. Tất cả các SSRIs đều có
khả năng gây nên hội chứng serotonin (serotonin syndrome) ở liều lượng
độc và điều trị. Chẩn đoán này thường khó nhận ra và nên dựa vào chẩn
đoán phân biệt khi bệnh nhân uống các thuốc trầm cảm loại mới.
5/ HỘI CHỨNG SEROTONIN LÀ GÌ ?
Hội chứng serotonin (serotonin syndrome) là một chùm những triệu
chứng và dấu chứng thể hiện bởi trạng thái tâm thần bị biến đổi, loạn năng
hệ thần kinh tự trị và tăng hoạt tính thần kinh-cơ.
CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA HỘI CHỨNG SEROTONIN
Trạng thái tâm thần bị biến đổi - Toát mồ hôi
Giật rung cơ (myoclonus) - Sốt
Tăng phản xạ (hyperreflexia) - Run rẩy
Thất điều (ataxia) - Ỉa chảy
CÁC THUỐC GÂY NÊN HỘI CHỨNG KHI ĐƯỢC DÙNG PHỐI
HỢP
MAOIs Meperidine
TCAs Dextromethorphan
SSRIs Tryptophan
6/ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SEROTONIN ?
Điều trị hỗ trợ và nhận diện sớm là rất quan trọng. Benzodiazepines
được khuyến nghị bởi vài tác giả và có thể có một vài trò bảo vệ do tác dụng
ức chế lên sự dẫn truyền serotoninergic của nó. Sốt có thể được điều trị với
acetaminophen và những biện pháp chườm lạnh. Cyproheptadine, một chất
phong bế thụ thể histamine-1 thế hệ thứ nhất với sự đối kháng không đặc
hiệu các thụ thể serotonin, đã được chấp thuận bởi FDA để sử dụng như một
chất kháng histamine và có thể hữu ích trong sự làm giảm các triệu chứng
serotoninergic.
7/ LIỆT KÊ NHỮNG TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU CHỨNG CỦA
NGỘ ĐỘC THUỐC CHỒNG TRẦM CẢM BA VÒNG (TCA).
Những triệu chứng và dầu chứng khởi đầu
khác có thể gây nên các triệu chứng chống tăng tiết cholin (anticholinergic
symptoms) là antihistamines, phenothiazines, scopolamine, belladonna.
11/ CÓ NHƯNG CHỈ DẤU SỚM ĐÁNG TIN CẬY ĐỂ NHẬN
DIỆN NGUY CƠ ĐỘC TÍNH SAU KHI NGỘ ĐỘC THUỐC CHỒNG
TRẦM CẢM KHÔNG ?
Ngộ độc thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những cấp cứu đe dọa
mạng sống, như sốc, hạ huyết áp, loạn nhịp tim, co giật, và suy nhiều hệ cơ
quan (multiple organ system failure), trong vòng vài giờ sau khi đến viện.
Tuy nhiên hầu hết các bệnh nhân không bị những biến chứng như thế. Nhiều
công trình nghiên cứu đã sử dụng các tiêu chuẩn của ADORA
(Antidepressant Overdose Risk Assessment) để xác định tiên lượng khả dĩ.
Những tiêu chuẩn này gồm có khoảng QRS dài hơn 0,10 giây, loạn nhịp tim,
trạng thái tâm thần bị biến đổi, co giật, giảm áp hô hấp, và hạ huyết áp. Các
bệnh nhân được xếp loại có nguy cơ thấp (low risk) (không có các tiêu
chuẩn) hay nguy cơ cao (high risk) (hiện diện một hoặc hơn các tiêu chuẩn),
căn cứ trên sự phát triển các triệu chứng và dấu chứng trong vòng 6 giờ. Một
công trình nghiên cứu cho thấy độ nhạy cảm 100% trong việc nhận diện
những bệnh nhân đã phát triển những vấn đề độc tính đáng kể. Nếu không có
triệu chứng hay dấu hiệu được quan sát trong 6 giờ, các bệnh nhân có thể
được cho xuất viện khỏi phòng cấp cứu để được đánh giá tâm thần.
12/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ CHUNG CỦA NGỘ ĐỘC THUỐC
CHỐNG TRẦM CẢM NHƯ THẾ NÀO ?
Ổn định bệnh nhân sau khi uống thuốc cấp tính là quan trọng, bao
gồm xử lý ABC (đường khí, airway, thở, breathing, và tuần hoàn,
circulation) và điều trị hỗ trợ. Nên cho bệnh nhân oxy. Sau khi ổn định, nên
khử nhiễm đường tiêu hóa (gastrointestinal decontamination), tiếp theo sau
bởi cho than hoạt hóa cùng với một thuốc tẩy. Những bệnh nhân ngộ độc
TCA có nguy cơ phát triển một liệt ruột (ileus) do tác dụng chống tiết cholin.
Việc sử dụng than hoạt hóa cho nhiều lần (serial-dosed charcoal) còn bị
tranh cãi và có thể đặt bệnh nhân vào tình trạng nguy cơ bị tắc ruột. Điều
thêm vào dịch duy trì. Tiêm truyền tĩnh mạch được thực hiện bằng cách
thêm 3 ống sodium bicarbonate vào 1L D5W, tạo nên 132 mEq Na/L.
Lidocaine hiệu quả đối với tim nhịp nhanh thất nhưng có thể làm giảm tính
co bóp của tim. Phenytoin đã được sử dụng trong bloc nhĩ thất độ một và rối
loạn dẫn truyền trong tâm thất ; tuy nhiên thuốc này được vài tác giả nhận
thấy làm gia tăng tần số và thời gian của tim nhịp nhanh thất. Các thuốc
chống loạn nhịp nhóm Ia (quinidine, procainamide, và disopyramide) bị
chống chỉ định bởi tác dụng hợp lực của chúng lên các màng tế bào, làm gia
tăng độc tính của thuốc chống trầm cảm. Physostigmine bị chống chỉ định
trong điều trị loạn nhịp thất.Tim nhịp nhanh xoang và loạn nhịp trên thất
thường không cần một điều trị đặc biệt nào ngoài điều trị hỗ trợ.
Hạ huyết áp. Hạ huyết áp nên được điều trị ban đầu với dịch và tư thế
Trendelenburg ; bicarbonate có thể hữu ích nếu hạ huyết áp không đáp ứng.
Các chất tăng áp mạch (Vasopressors) nên được sử dụng thận trọng bởi vì
chúng làm gia tăng tính kích thích của tâm thất. NE và phenylephrine là
những thuốc tăng áp mạch được chọn lựa do tác dụng alpha-adrenergic.
QRS rộng. Bicarbonate hữu ích trong việc làm hẹp một QRS rộng
(>120 msec), có thể mang lại một tác dụng bảo vệ tim.
14/ HÃY TÓM TẮT NHỮNG ĐIỀU TRỊ ĐỐI VỚI ĐỘC TÍNH
THẦN KINH.
Ảo giác (hallucinations). Physostigmine đã được chứng tỏ là hủy bỏ
các ảo giác; tuy nhiên bởi vì chúng có thể gây nên co giật và vô tâm thu, nên
không được khuyến nghị. Các thuốc an thần kinh (neuroleptics) nên tránh
bởi vì chúng có thể làm hạ ngưỡng co giật.
Hôn mê. Imipramine, amitriptyline, doxepin, và trazodone là những
thuốc an thần nhất trong số các thuốc trầm cảm. Điều trị hỗ trợ với xử lý tích
cực đường hô hấp là căn bản. Hôn mê kéo dài hơn 24 giờ là hiếm xảy ra và
gợi ý những biến chứng do các chất uống vào đồng thời hay do sự khử
nhiễm đường tiêu hóa không thích đáng. Sự sử dụng flumazenil bị chống chỉ
định.