XỬ TRÍ NGỪNG TIM VÀ HỒI SỨC - Phần 1 pot - Pdf 18

XỬ TRÍ NGỪNG TIM VÀ HỒI SỨC
Phần 1
(MANAGEMENT OF CARDIAC ARREST
AND RESUSCITATION)

1/ ABC CỦA HỒI SỨC (RESUSCITATION) LÀ GÌ ?
- Airway, breathing, và circulation.
2/ HỒI SỨC TIM-PHỔI (CPR : CARDIOPULMONARY
RESUSCITATION) ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO ?
1. Khởi động hệ EMS (emergency medical service) 911 nếu ở ngoài
bệnh viện hay đội đáp ứng ngừng tim (cardiac arrest response team) nếu ở
trong bệnh viện.
2. Khai thông đường khí bằng thao tác nghiên đầu-nâng cằm (head
tilt-chin lift) hay nghiên đầu-đẩy mạnh hàm (head tilt-jaw thrust). Những
thao tác này đưa hàm dưới ra trước và nâng lưỡi và nắp thanh quản
(epiglottis) ra khỏi lỗ thanh môn (glottic opening). Để cải thiện sự thông
thương đường khí, hút miệng và khẩu-hầu (oropharynx) và đưa vào một
canun khẩu-hầu hay tỵ-hầu (oropharyngeal or nasopharyngeal airway).
3. Giúp thở bằng cách thực hiện sự thông khí miệng-miệng (mouth-to-
mouth breathing), miệng-mặt nạ (mouth-mask breathing), hay quả bóng-
van-mặt nạ (bag-valve-mask breathing). Kỹ thuật được khuyến nghị tùy
thuộc vào bối cảnh lâm sàng, thiết bị có sẵn, và kỹ năng và đào tạo của
người sơ cứu.
4. Sau khai thông đường khí và khởi đầu thông khí cứu nguy (rescue
breathing), kiểm tra sự tuần hoàn tự phát (spontaneous circulation) bằng
cách ấn chẩn mạch cảnh hay đùi. Nếu bệnh nhân không có mạch, hãy bắt
đầu xoa bóp lồng ngực. Hãy bóp lồng ngực một cách nhẹ nhàng và mạnh 80-
100 lần mỗi phút. Nếu có hai người sơ cứu, hãy xen một thông khí nhân tạo
(artificial breath) sau mỗi 5 lần xoa bóp lồng ngực (chest compression). Nếu
chỉ có một người sơ cứu, sự nối tiếp được khuyến nghị là 30 lần xoa bóp
lồng ngực, theo sau bởi 2 lần thông khí.

làm mạch máu không bị xẹp lại và bởi vì sự chảy máu ngược lại bị ngăn cản
trong các tĩnh mạch lớn bởi các van một chiều (one-way valves). Những
khía cạnh của hai mô hình đã được chứng minh trên các mô hình động vật,
và cả hai bơm có lẽ góp phần vào sự lưu thông máu trong hồi sức tim-phổi.
5/ LƯU LƯỢNG MÁU ĐẾN NÃO VÀ TIM CÓ ĐẦY ĐỦ
TRONG HỒI SỨC TIM-PHỔI KHÔNG ?
Trong mô hình bơm tim và mô hình bơm ngực, lưu lượng máu đến
não tỷ lệ với hiệu số áp lực giữa động mạch chủ và tĩnh mạch cổ trong thời
kỳ thu tâm (giai đoạn đè ép ngực của CPR). Lưu lượng máu được đo trong
thí nghiệm khoảng 30% lưu lượng bình thường. Lưu lượng máu đến tim xảy
ra trong giai đoạn giãn (relaxation phase) của CPR và tỷ lệ với hiệu số áp lực
giữa động mạch chủ và tâm nhĩ phải trong kỳ trương tâm. Lưu lượng máu cơ
tim qua các động mạch vành là zero trong hồi sức tim-phổi ngực kín (closed-
chest CPR), và máu chảy ngược động mạch vành cũng đã được chứng tỏ.
6/ NÓI VỀ VAI TRÒ CỦA LIỆU PHÁP DƯỢC LÝ TRONG HỒI
SỨC TIM-PHỔI (CRP).
Mục đích tức thời của liệu pháp dược lý là cải thiện lưu lượng máu cơ
tim, tham số chủ chốt dẫn đến sự trở lại của tuần hoàn tự phát (spontaneous
circulation). Các chất chủ vận alpha-adrenergic, như epinephrine, làm gia
tăng gradient trương tâm động mạch chủ-tâm nhĩ phải bằng cách gia tăng
trương lực mạch máu động mạch. Các báo cáo gợi ý rằng các chất chủ vận
thụ thể không adrenergic (nonadrenergic receptor agonists), bao gồm
vasopressin, có thể hiệu quả hơn epinephrine trong việc cải thiện lưu lượng
máu cơ tim. Những nghiên cứu lâm sàng khác gợi ý rằng amiodarone có thể
cải thiện tỷ suất khử rung. Tác dụng chống rung (antifibrillatory) này của
amiodarone có thể độc lập với tác dụng của nó lên lưu lượng máu cơ tim.
7/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG NHẤT CỦA
NGỪNG TIM-HÔ HẤP ?
Hầu hết các ngừng tim-hô hấp (cardiopulmonary arrest) trong khung
cảnh trước bệnh viện và bệnh viện là do rung thất (ventricular fibrillation),

- Chèn ép tim (cardiac tamponade). Chọc màng ngoài tim
(pericardiocentesis) hay khâu màng ngoài tim dưới xương ức (subxyphoid
pericardiorrhaphy) là những động tác cứu sống bệnh nhân.
-Tràn khí màng phổi tăng áp (tension pneumothorax). Cần giảm áp
ngay lồng ngực (chest decompression).
- Giảm thể tích máu (hypovolemia). Điều trị gồm có tiêm truyền tĩnh
mạch tức thời dung dịch crystalloids. Trong ngừng tim do chấn thương
(traumatic arrest), các sản phẩm máu (máu toàn thể hay packed cells) nên
được cho đồng thời với dung dịch crystalloid.
- Xoắn đỉnh (torsades de pointes). Điều trị gồm có khử rung
(cardioversion), tiếp theo cho magnesium, isoproterenol, và tạo nhịp tâm thất
(ventricular pacing) nhanh chóng.
- Ngừng tim-hô hấp do độc chất. Ngộ độc CO xảy ra sau khi tiếp xúc
kéo dài với khói hay hít các chất thải (exhaust) từ một nguồn đốt cháy không
hoàn toàn. Oxy với lưu lượng cao và oxy tăng áp (hyperbaric oxygen) và
điều trị nhiễm toan là những trụ cột của điều trị. Ngộ độc cyanide thường
xảy ra, nhất là những hỏa hoạn có liên quan đến các chất tổng hợp. Thuốc
giải độc (antidote) trong trường hợp này là sodium nitrite và sodium
thiosulfate, cho bằng đường tĩnh mạch. Các thuốc chống trầm cảm ba vòng
(tricyclic antidepressants) tác dụng như các thuốc chống loạn nhịp loại Ia và
gây nên sự làm chậm dẫn truyền trong tim, loạn nhịp thất, hạ huyết áp, và co
giật. Cần kiềm hóa tích cực và chống co giật.
- Ngạt nguyên phát (primary asphyxia) : ngoài phản vệ (anaphylaxis),
ngạt đo tắc có thể xảy ra sau khi hít phải vật lạ, những tình trạng viêm của hạ
hầu (hypopharynx) như viêm nắp thanh quản (epiglottis) hay áp xe sau hầu
(retropharyngeal abscess), hay chấn thương cổ-mặt (cervicofacial trauma).
Chấn thương cổ-mặt dẫn đến phù nề hay máu tụ, khí phế thủng dưới da,
hoặc vỡ thanh quản hay khí quản. Điều trị gồm có thiết lập đường khí thông
suốt qua thông nội khí quản hay bằng mở sụn nhẫn-giáp (cricothyrotomy) và
thông khí hỗ trợ (assisted ventilation) với oxy 100%.

cơ tim phì đại (hypertrophic cardiomyopathy), sa van hai lá (mitral valve
prolapse), các bất thường điện giải, các loại thuốc, và viêm cơ tim.
11/ ĐIỀU TRỊ RUNG THẤT VÀ TIM NHỊP NHANH THẤT VÔ
MẠCH ?
Khử rung với 200/300/360 J.
12/ RUNG THẤT ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THỂ NÀO ?
Điều trị nhanh là thiết yếu; tiên lượng xấu đi với mỗi phút chậm trễ.
Một liều khử rung ban đầu 200J đối với máy khử rung dạng sóng một pha,
được khuyến nghị để làm giảm thiểu thương tổn cơ tim và để ngăn ngừa sự
phát triển những loạn nhịp chậm hay nhanh vô mạch sau sốc điện
(postcountershock pulseless brady or tachyarrhythmias). Năng lượng được
phát ra gia tăng lên 300 joules, sau đó lên 360 joules nếu bệnh nhân vẫn còn
rung thất. Nếu máy khử rung dạng sóng 2 pha được sử dụng, 150 joules
thường là mức năng lượng được khuyến nghị . Những nghiên cứu động vật
và các báo cáo lâm sàng gợi ý rằng trong ngừng tim kéo dài, sự gia tăng lưu
lượng máu cơ tim với epinephrine hoặc vasopressin trước sốc điện
(countershock) có thể cải thiện sự thành công của khử rung. Một thử nghiệm
lâm sàng gợi ý rằng amiodarone làm gia tăng tỷ lệ thành công của khử rung
ngoài bệnh viện và tỷ lệ sống sót ở phòng cấp cứu tuy nhiên amiodarone
không liên kết với một sự cải thiện tỷ lệ tử vong.
13/ LÀM GÌ NẾU RUNG THẤT KÉO DÀI ?
1. Thực hiện thông nội khí quản và đảm bảo thông khí phổi.
2. Tiêm amiodarone (300mg tĩnh mạch), có thể là một tác nhân chống
rung có hiệu quả.
3. Tiêm epinephrine hay vasopressin (40 đơn vị tiêm tĩnh mạch) để
làm gia tăng huyết áp thu tâm động mạch chủ và cải thiện tưới máu cơ tim.
4. Tiêm procainamide (20 đến 30 mg/phút, liều tối đa 17 mg/kg) hay
lidocaine (1-1,5 mg/kg). Cả lidocaine lẫn procainamide đã không chứng tỏ
hiệu quả trong sự cải thiện tỷ lệ khử rung thành công hay trong sự phục hồi
một nhịp tưới máu (a perfusing rythm) nơi những bệnh nhân với rung thất.

gia tăng, và hạ huyết áp), điều trị bằng chọc màng ngoài tim
(pericardiocentesis).
3. Giảm thể tích máu (hypovolemia), điều trị bằng thay thế thể tích.
4. Nghẽn mạch phổi, điều trị bằng liệu pháp tan sợi huyết
(fibrinolysis).
5. Suy bơm tim, thứ phát nhồi máu cơ tim to lớn, điều trị bằng liệu
pháp tan sợi huyết hay hỗ trợ cơ học (intra-aortic balloon pump).
6. Tăng kali-huyết, điều trị bằng calcium và bicarbonate.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status