Những điều cần biết về ung thư dạ dày - Pdf 18

Những điều cần biết về
ung thư dạ dày

Dạ dày hay bao tử (stomach) là một phần của bộ máy tiêu hóa, một bộ
phận rỗng nằm trong khoang bụng, dưới các xương sườn.
Thành dạ dày có 5 lớp:
• Màng lót (mucosa): Những chất lỏng tiết ra qua cá tuyến tại màng
lót giúp tiêu hóa thực phẩm. Hầu hết mọi loại ung thư dạ dày đều xuất phát
từ đây.
• Màng “submucosa”: lớp mô liên kết chống đỡ màng lót.
• Lớp cơ: Những bắp thịt (cơ) tại đây tạo nên sự co thắt, nghiền nát và
trộn thức ăn.
• Lớp “subserosa”: là mô liên kết chống đỡ lớp màng bọc ngoài cùng
• Màng bọc (serosa): bao bọc dạ dày và giữ dạ dày tại vị trí của nó.
Thức ăn di chuyển từ miệng qua thực quản đến dạ dày. Trong dạ dày,
thức ăn được chế biến thành chất lỏng, rồi vào ruột non. Tại đây, thực phẩm
lại tiếp tục được chuyển hóa.
Tế bào ung thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô, mô tạo thành
bộ phận.
Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những
tế bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại,
chúng chết, và các tế bào mới thay thế.
Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất
hiện trong khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không chết
như đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối gọi là "khối
u“, bướu hay "tumor“.
Khối u (bướu) có thể "lành“ (benign) hoặc "độc“ (malignant). Bướu
lành thường không độc hại như bướu độc.
Bướu lành:
• Ít khi gây tử vong

dạ dày:
• Tuổi tác: Bệnh nhân thường ở tuổi 72 trở lên
• Phái tính: Nam phái có tỷ lệ ung thư dạ dày cao hơn so với nữ phái
• Chủng tộc: Ung thư dạ dày thường thấy ở người Á Đông, vùng biển
Thái Bình Dương, Tây Ban Nha, và da đen
• Cách ăn uống: Thống kê cho thấy những người quen ăn uống loại
thực phẩm xông khói, muối hay làm chua có tỷ lệ ung thư dạ dày cao hơn so
với những người khác
• Nhiễm trùng Helicobacteria pylori: H. Pylori là một loại vi khuẩn
thường sống trong dạ dày. Khi bị nhiễm trùng, dạ dày dễ bị viêm và lở;
nhiễm trùng H. pylori gia tăng nguy cơ bị ung thư dạ dày. Mặc dù nhiễm
trùng gia tăng nguy cơ bị ung thư nhưng ung thư không lây từ người này
sang người khác.
• Thuốc lá: Những người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư dạ dày
cao hơn những người khác
• Những chứng bệnh khác gây viêm dạ dày và có thể gia tăng nguy cơ
bị ung thư như giải phẫu, viêm dạ dày mãn tính (chronic gastritis) và
pernicious anemia (một chứng thiếu máu ảnh hưởng đến dạ dày)
• Thân nhân bị ung thư dạ dày: Một loại ung thư dạ dày rất hiếm tìm
thấy trong một số gia tộc.
Hầu hết những người có các yếu tố kể trên không bị ung thư dạ dày.
Thí dụ: nhiều người bị nhiễm trùng H. Pylori nhưng không hề bị ung thư dạ
dày. Ngoài ra, cũng có những người bị ung thư dạ dày nhưng không có một
yếu tố nguy hại kể trên nào cả.
Những người nghi rằng mình có thể bị ung thư dạ dày nên thảo luận
với bác sĩ. Bác sĩ có thể đặt chương trình truy tìm dấu vết ung thư định kỳ,
thảo luận cách giảm yếu tố nguy hại gây ung thư.
Triệu chứng
Ung thư dạ dày ở giai đoạn đầu thường không có triệu chứng rõ rệt.
Khi ung thư tăng trưởng, thường gây những triệu chứng sau:

• Tôi có phải ở lại bệnh viện không? Nếu có, thì bao nhiêu lâu?
• Tôi có phải làm gì để sửa soạn không?
• Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh
thiết? Có đau đớn lắm không?
• Làm sinh thiết có rủi ro không? Tôi có bị xuất huyết không? Nhiễm
trùng?
• Bao nhiêu lâu thì tôi sẽ hồi phục? Bao giờ thì tôi có thể ăn uống như
thường?
• Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho
tôi hiểu?
• Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước
sắp tới? Và bao giờ?
Định kỳ
Để hoạch định chương trình chữa trị thích hợp, bác sĩ cần định thời kỳ
của ung thư, xem ung thư đã lan chưa, nếu có, đã lan tới bộ phận nào trong
cơ thể trước khi chữa trị. Ung thư dạ dày thường lan đến hạch bạch huyết,
gan, tụy tạng và các bộ phận khác. Bác sĩ cũng có thể làm thêm một số thử
nghiệm khác như:
• Thử máu: tìm dấu vết của chứng thiếu máu, sự hoạt động của gan.
• Chụp quang tuyến phổi
• CT scan: tìm dấu vết ung thư tại gan, tụy tạng và các bộ phận khác.
• Siêu âm qua nội soi (endoscopic ultrasound)
• Laparoscopy : Bác sĩ cắt một vệt nhỏ trên bụng để chuyển dụng cụ
nội soi vào khoang bụng để quan sát trực tiếp, bác sị có thể trích mô hạch
bạch huyết trong khoang bụng.
Đôi khi việc định kỳ chỉ hoàn tất sau khi giải phẫu cắt bỏ khối u và
những hạch bạch huyết lân cận.
Thời kỳ của ung thư dạ dày bao gồm:
• Thời kỳ “sơ khởi” (stage 0): Tế bào ung thư tìm thấy tại màng lót
của dạ dày, thời kỳ này còn có tên là “carcinoma in situ”.

khiến người bệnh khó tập trung tinh thần để đặt câu hỏi với bác sĩ. Vì vậy,
hãy sửa soạn một danh sách các câu hỏi trước khi đi khám bệnh.
Để có thể nhớ nhiều chi tiết trong cuộc thảo luận với bác sĩ, người
bệnh hoặc thân nhân nên ghi chép hoặc xin phép bác sĩ để dùng máy ghi âm.
Quý vị không cần phải đặt mọi câu hỏi ngay trong một lần khám bệnh mà có
thể hỏi nhiều lần.
Bác sĩ có thể chuyển bệnh đến các bác sĩ chuyên khoa, những người
có kinh nghiệm chữa trị ung thư như bác sĩ về bệnh tiêu hóa
(gastroenterologist), bác sĩ giải phẫu (surgeon), bác sĩ chuyên về ung thư
(medical oncologist), hoặc bác sĩ chuyên về xạ trị (radiation oncologist).
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham khảo một bác sĩ
khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi
phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu.
Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử
nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường
không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể
thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình. Đôi khi, ung thư dạ dày
cần được chữa trị ngay.
Có nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của
mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y
khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Các phương cách trị liệu
Cách chữa trị tùy thuộc vào loại ung thư và thời kỳ của ung thư cũng
như sức khoẻ toàn diện của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể chịu giải phẫu,
dùng hóa chất, xạ trị, hoặc dùng nhiều cách cùng lúc.
Bác sĩ có thể mô tả những cách trị liệu, và kết quả.
Việc chữa trị được xếp loại theo “tại chỗ” (local therapy) hoặc “toàn
diện” (systemic therapy):
Chữa trị tại chỗ: Giải phẫu và xạ trị là hai loại chữa trị “tại chỗ”. Khối

tùy thuộc vào thời kỳ của ung thư. Có hai loại giải phẫu chính:
• Cắt bỏ một phần dạ dày (partial hoặc subtotal gastrectomy): bác sĩ
cắt bỏ khối u, hoặc cả một phần thực quản, một phần ruột non và cả những
hạch bạch huyết lân cận.
• Cắt bỏ dạ dày (total gastrectomy): Bác sĩ cắt bỏ dạ dày, hạch bạch
huyết lân cận, một phần thực quản và ruột non, và những mô chung quanh
khối u. Lá lách cũng có thể bị cắt bỏ. Sau đó, bác sĩ nối thực quản với ruột
non và “chế tạo” một dạ dạy từ những mô ruột non.
Trong cuộc giải phẫu, bác sĩ có thể đặt vào ruột non một ống chuyển
thức ăn (bên dưới nơi mổ) để cơ thể được nuôi dưỡng trong khi chờ vết mổ
lành.
Thời gian phục hồi thay đổi theo từng cá nhân. Nói chung, bệnh nhân
sẽ không thoải mái vài ngày sau khi mổ, thuốc giảm đau sẽ giúp dễ chịu hơn.
Trước khi giải phẫu, nên thảo luận với bác sĩ / y tá về cách giảm đau. Thuốc
men có thể được gia giảm để giúp bệnh nhân dễ chịu hơn hậu giải phẫu.
Nhiều bệnh nhân sau khi mổ thường có cảm giác mệt mỏi, mất sức
trong nhiều ngày. Cuộc giải phẫu có thể gây táo bón hoặc tiêu chảy. Những
triệu chứng này có thể chữa trị bằng thuốc men hoặc thay đổi cách ăn uống.
Bệnh nhân sẽ được theo dõi để tìm kiếm dấu hiệu của sự nhiễm trùng, xuất
huyết hoặc những chứng bệnh khác cần được chữa trị.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi giải phẫu:
• Bác sĩ sẽ thực hiện cách giải phẫu nào cho tôi?
• Bác sĩ có cắt bỏ hạch bạch huyết không? Cắt bỏ những mô khác? Lý
do tại sao?
• Tôi sẽ ra sao sau khi mổ?
• Tôi có cần ăn uống kiêng khem gì không?
• Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
• Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
• Toi có gặp trở ngại trong việc ăn uống không? Có cần ăn uống qua
ống dẫn không? Nếu cần thì phải dùng ống dẫn bao nhiêu lâu? Làm thế nào

• Khi nào thì bắt đầu? Khi nào thì xong? Bao nhiều lần chữa trị?
• Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
• Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Xạ trị
Chất phóng xạ, tia phóng xạ được dùng để hủy diệt tế bào ung thư
ngay tại khối u.
Tia phóng xạ đến từ một bộ máy phát xạ bên ngoài cơ thể. Bệnh nhân
được chữa trị tại bệnh viện hoặc trung tâm Y tế. Chương trình trị liệu thường
kéo dài 5 ngày mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại xạ trị, mức lượng, và phần thân thể
cần chữa trị. Xạ trị tại bụng có thể gây đau đớn tại dạ dày hoặc ruột non, gây
buồn nôn, ói mửa. Bệnh nhân thường mất sức, mệt mỏi. Vùng da nơi tia
phóng xạ đi vào cơ thể bị sưng tấy, đau rát.
Bác sĩ có thể chỉ dẫn cách giảm bớt phảm ứng phụ kể trên.
Quý vì có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc xạ trị:
• Tại sao tôi cần loại chữa trị này?
• Bác sĩ chọn loại xạ trị nào cho tôi?
• Khi nào thì việc chữa trị bắt đầu? Khi nào thì xong?
• Tôi sẽ bị ảnh hưởng ra sao?
• Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả hay không?
• Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Dinh dưỡng
Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để duy trì sức khỏe là điều quan
trọng. Bệnh nhân cần duy trì trọng lương, cần có đủ lượng chất đạm để nuôi
dưỡng các hoạt động của cơ thể. Đôi khi sau những lần chữa trị, bệnh nhân
bị mất sức, mệt mỏi và biếng ăn. Thực phẩm không còn sức hấp dẫn, và
những vết lở trong miệng gây khó khăn cho việc nhai nuốt… Những yếu tố
này khiến bệnh nhân bỏ ăn uống.
Các chuyên viên về dinh dưỡng có thể chỉ dẫn những món thức ăn có
nhiều calorie, nhiều chất đạm… để giúp bệnh nhân chóng hồi phục.

loại liệu pháp CAM có thể thay đổi cách chữa trị hiện hành, và sự thay đổi
này có thể nguy hại cho bệnh nhân. Vài cách CAM tự nó có thể gây nguy
hại cho bệnh nhân. Trước khi sử dụng, nên thảo luận với bác sĩ.
Một số liệu pháp CAM khá tốn kém và bảo hiểm thường không chịu
phí tổn.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ về CAM:
• CAM có lợi ích nào cho tôi?
• Rủi ro của CAM là những gì?
• Lợi ích có nhiều hơn rủi ro không?
• Phản ứng phụ của CAM là những gì?
• CAM có thay đổi cách chữa trị hiện nay của tôi không? Nếu có thì
những thay đổi này có nguy hại không?
• Liệu pháp CAM này có được khảo nghiệm qua thử nghiệm lâm sàng
không? Nếu có, ai là người bảo trợ?
• Bảo hiểm của tôi có trả những phí tổn này không?
Những nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư dạ dày có thể thay đổi cuộc sống của
người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp
nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường
trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt
hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những
chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ
hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm
hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân
nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác. Nguồn hỗ trợ có
thể bao gồm:
• Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu
hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status