Vai trò vốn đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam - Pdf 18

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC ĐÀO
TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
)0( TIỂU LUẬN
MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊ NIN
VAI TRÒ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Người hướng dẫn: Lê Hùng
Sinh viên thực hiện:Võ Tiến Nam
Lớp : CĐ19E1
T/P Hồ Chí Minh 2005
MỤC LỤC

Trang
1- Lời mở đầu : 3
2- Phần I : Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài và tác dụng 4
của nó đối với phát triển kinh tế Việt Nam.
3- Phần II : Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt 8
Nam trong thời gian qua
4- Phần III : Những khó khăn thách thức và đề xuất kiến nghò. 13
5- Kết lận : 16
CHỮ VIẾT TẮT
1- Công nghiệp hoá – hiện đại hoá : CHN
– HĐH
2- Các nước Công nghiệp mới :
NEIS
3- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài :
FDI

- Phần II : Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam
trong thời gian qua
- Phần III : Những khó khăn thách thức và đề xuất kiến nghò.
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận không thể tránh
khỏi những thiếu sót.
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Hùng đã hướng dẫn và giúp
đỡ bản thân em hoàn thành bài tiểu luận này.
T/P Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 3 năm
2005
NGƯỜI VIẾT
Võ Tiến Nam
(1) (Đảng Cộng Sản Việt Nam : văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb CTQG, HN
2001 Tr 89).
3
PHẦN I
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI
VÀ TÁC DỤNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT
NAM
1- Tại sao cần vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam :
Việt nam đang trong quá trình phát triển mạnh về kinh tế, nhưng vì
mức khởi điểm ban đầu của chúng ta quá thấp, cho nên cần phải duy trì tốc
độ tăng trưởng 9% đến 10%/1 năm liên tục trong nhiều năm. Nếu có mức
tăng trưởng như thế liên tục 25 năm nữa thì theo một chuyên gia dự báo
đến năm 2020 nước ta sẽ có thu nhập tính trên đầu người khoảng 200 USD
( tính theo giá 1990 và mức tăng trưởng dân số kìm ở mức 1,7%/năm) .
Mức thu nhập tính trên đầu người như vậy cũng vẫn thấp hơn nhiều so với
các thành viên của khối ASEAN và so với rất nhiều nước trên Thế giới.
Muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao 9 đến 10%/năm thì yếu tố vốn đầu tư có ý
nghóa quyết đònh, trong đoá vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn quan trọng
chiếm 1/3 tổng số vốn đầu tư quốc gia.

không một dân tộc nào, không một nền kinh tế nào có thể phát triển một
cách biệt lập. Sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều, tuy thuộc lẫn nhau trên
cơ sở bình đẳng cùng có lợi đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi nước,
mọi nền kinh tế.
Việt Nam cũng hiểu rằng hoạt động thu hút vốn và kỹ thuật nước
ngoài đang là một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước, các khu vực. Do
vậy, hai năm sau khi thống nhất đất nước Việt Nam đã ban hành “Điều lệ
về đầu tư nước ngoài của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghóa Việt nam”
đây là văn bản đầu tiên đánh dấu quan điểm mới của Nhà nước Việt Nam
đối với vấn đề vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam. Tuy nhiên do
hoàn cảnh chính trò – xã hội sau đó (điển hình là cuộc chiến tranh biên giới
Tây Nam) mà điều lệ này chưa được triển khai.
Sau khi việc khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng đã lan tràn ở Việt
Nam 1985 kéo theo sự sụp đổ của chương trình tập thể hoá nông nghiệp;
Nạn lạm phát kéo theo nhiều rối ren trong đời sống kinh tế – xã hội đã
buộc Việt Nam đã thay đổi quan điểm về cái gọi là nền kinh tế thò trường.
Chương trình đổi mới 1986 như một hồi chuông đầy sức sống đã mở đầu
cho một thời kỳ mới của đất nước. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
được Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghóa Việt Nam thông qua
tháng 12/1987 (Gọi tắt là luật 1987) đã thế hiện tính thoáng đảng, hấp dẫn,
tạo ra những lợi thế so sánh trong cuộc cạnh tranh. Đặc điểm này được thể
hiện trên các điểm cụ thể sau :
1/ Luật 1987 cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào
các lónh vực của nền kinh tế quốc dân, trong đó đặc biệt khuyến khích họ
đầu tư vào những ngành nghề nhằm thực hiện các chương trình kinh tế lớn.
Những dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng mức thuế lợi
tức ưu đãi 15% hoặc 20% (mức thuế phổ thông là 25%) , đồng thời miễn
thuế lợi tức 2 năm kể từ khi bắt đầu có lãi và được giảm 50% thuế này cho
2 đến 4 năm tiếp theo. Đối với những dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư
phải chia lợi tức 10% đồng thời được miễn thuế lợi tức 4 năm kể từ khi bắt

lớn :
 Một là : Cho phép các tổ chức kinh tế tư nhân có tư cách pháp nhân
được trực tiếp hợp tác kinh doanh với nước ngoài.
 Hai là : Mở rộng hình thức liên doanh “Hai bên” (Bên Việt nam và
bên Nước ngoài) thành liên doanh có nhiều bên; Cho phép nhiều tổ
chức cá nhân được đứng thành một bên độc lập trong liên doanh.
 Ba là : Cho phép các Xí nghiệp liên doanh sản xuất hàng thay thế
nhập khẩu thiết yếu cũng được hưởng các quyền ưu đãi tài chính
như các Xi nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
Đến ngày 23/12/1992 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lại được
quốc Hội sửa đổi bổ sung lần thứ hai. Mặc dù là sửa đổi năm 1990 đã
cho phép các tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân được hợp
tác với nước ngoài nhưng theo đònh nghóa các tổ chức kinh tế Việt Nam
6
có tư cách pháp nhân chỉ là Công ty Cổ phần và Công Ty TNHH. Như
vậy, các doanh nghiệp tư nhân phải đứng ngoài cuộc. Luật sửa đổi bổ
sung tháng 12/1992 đã khắc phục mặt hạn chế đó, cho phép các doanh
nhgiệp tư nhân được quyền hợp tác kinh doanh với Nước ngoài.
Quốc Hội cũng đã bổ sung vào luật đầu tư các quy đònh về đầu tư
vào các khu chế xuất, chính thức “luật hoá” hoạt động đầu tư vào các
khu chế xuất tại Việt Nam, đồng thời bổ sung thêm một hình thức đầu
tư mới, đó là hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) .
Các dự án đầu tư vào khu chế xuất và đầu tư theo hình thức BOT được
hưởng những quy chế riêng biệt cả về những mặt quản lý Nhà nước lẫn
chính sách ưu đãi tài chính.
Do đặc thù của Việt Nam, các bên Việt Nam, khi bắt đầu tham gia
liên doanh thường chỉ có khả năng đóng góp 25 – 30% vốn pháp đònh.
Do đó, đã bổ sung vào luật đầu tư một điều khoản : “Đối với cơ sở kinh
tế quan trọng do Chính Phủ quyết đònh các bên được thoả thuận tăng
dần tỷ trọng góp vốn của bên Việt Nam trong vốn pháp đònh của Xí

Ngoài tại Việt Nam một sự ổn đònh và thông thoáng với nhiều ưu đãi
hơn. Ví dụ : Như trong Điều 21 “Các trường hợp thay đổi của Pháp luật
Việt Nam làm thiệt hại lợi ích của các Bên và các biện pháp giải quyết
thoả đáng của Nhà Nước” ; Điều 33 bổ sung thêm “Quyền được mua
ngoại tệ đáp ứng cho các giao dòch vẵng lai , các giao dòch được phép
khác theo quy đònh của Pháp luật về quản lý ngoại hối ……” ; Điều 43
sửa đổi theo hướng “giảm mức thuế trên lợi nhuận chuyển ra Nước
Ngoài từ 5%, 7%, 10% (Luật đầu tư Nước Ngoài 1996) giảm còn 3%,
5%, 7% tương ứng” ; Điều 60 sửa đổi “thời hạn cơ quan cấp giấy phép
đầu tư xem xét đơn và quyết đònh cho nhà đầu tư từ 60 ngày (Luật đầu
tư Nước Ngoài 1996) còn 30 – 45 ngày” và các sửa đổi bổ sung quan
trọng khác.
Có nhà đầu tư Nước Ngoài đã phàn nàn rằng Việt Nam luôn thay
đổi các điều khoản của Luật đầu tư làm cho tính pháp lý của nó không
ổn đònh. Đúng là Việt Nam đã có những thay đổi có tính bổ sung và
Luật đầu tư nhưng là để làm cho nó thông thoáng hơn có sức hấp dẫn
hơn đối với các nhà đầu tư Nước ngoài, chứ không phải là ngược lại.
PHẦN II
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI
VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
1- Quy mô nhòp độ và cơ cấu đầu tư trong vòng thập kỷ vừa qua,
đầu tư trực tiếp Nước ngoài vào Việt nam đã đóng góp khoảng 25% - 30%
tổng nguồn vốn đầu tư của toàn Xã hội. Nguồn thu ngân sách từ khu vực
đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên theo từng năm : Năm 2000 đạt 80,8% ;
năm 2001 đạt 7,8% ; năm 2002 đạt 8,6%, tình hình tổng thu ngân sách từ
khu vực đầu tư này năm 1996 – 2000 ; Việt Nam đạt gần 1,45 tỷ USD tăng
gấp 4,5lần giai đoạn năm 1990 – 1995. Nếu tình hình cả nguồn thu từ dầu
khí thì tỷ lệ này chiếm đến 30% ngân sách nếu như 2 năm 2001 và 2002 bò
coi là dừng lại thì đến năm 2003 đầu tư trực tiếp Nước Ngoài tại Việt Nam
có dấu hiệu khởi sắc hơn cả về tình hình thu lẫn tình hình thực hiện.

tổng số vốn đăng ký 658 triệu USD và có 1,009 dự án giải thể trong thời
hạn với vốn đăng ký là 12,3 tỷ USD. Như vậy số dự án giải thể trước thời
hạn chiếm gần 18,6% tổng số dự án được cấp phép, vốn đăng ký của các
dự án giải thể trước thời hạn chiếm 23% tổng vốn đăng ký của tất cả các
dự án được cấp phép.
Thu thập số liệu vào tháng 2/2004 nước ta đã có thêm 30 dự án
được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 159,2 triệu USD, tính
chung 2 tháng đầu năm 2004 cả nước có 80 dự án nước cấp giấy phépđầu
tư mới, với tổng số vốn đăng ký là 200 triệu USD giảm 26,6% về số dự án
và tăng 30,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2003. Cũng trong 2
tháng đầu năm 2004 tổng số vốn cấp mới và tăng thêm đạt 554,2 triệu
USD, tăng 98,1% so với cùng kỳ năm 2003.
2 – Phân bổ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành :
Về cơ cấu ngành, trong năm 2003 phần lớn các dự án đầu tư mới
vẫn tập trung vào lónh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 69,6% số các
dự án và 67,9% số vốn đầu tư đăng ký mới , như vậy cơ cấu vốn đầu tư để
vào các ngành không hợp lý và hiệu quả tổng thể về kinh tế xã hội chưa
9
cao trong lónh vực nông, lâm, thuỷ sản mặc dù đã có những chính sách ưu
đãi nhưng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành này. Lónh vực
nông, lâm, ngư nghiệp vào năm 2003 chỉ chiếm 19,1% số dự án và 10,4%
số vốn đăng ký cấp mới. Trong khi đó thực tế cho thấy Việt Nam từ trước
đến nay sống dựa vào nông nghiệp với hơn 70% dân số, điều này cho thấy
sự phân bổ khá bất hợp lý.
Ngành công nghiệp luôn chiếm ư thế vì thu hút được khá nhiều
nguồn vốnh đầu tư trực tiếp nước ngoài vào. Trong khi đó ngành nông,
lâm, ngư nghiệp có vốn đầu tư thực hiện mới chỉ bằng một nửa tổng số vốn
đầu tư . Ngành dòch vụ tình hình còn ảm đạm hơn, tuy số dự án ngành
nông, lâm, ngư nghiệp với tổng đầu tư khá nhiều (14.838 triệu USD) nhưng
tình hình thực hiện chỉ có hơn 1/3 tổng vốn (5.746 triệu USD). Tình hình

diễn ra trên phạm vi rộng từ nông thông đến miền núi xa xôi nên càng có
ý nghóa cao so với các lónh vực khác.
Do những hạn chế nên vai trò thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài của ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn mờ nhạt, chưa tác động tích
cực đối với sự phát triển đất nước. Do nông dân Việt Nam là cần thiết cho
sự phồn vinh của đất nước nên việc cải thiện môi trường ngành sản xuất
nông nghiệp ngày càng hấp dẫn là điều cần thiết để thu hút trực tiếp nước
ngoài.
Ngành Công nghiệp tính từ năm 1998 đến hến năm 2002 lónh vực
công nghiệp và xây dựng đã thu hút được 607 dự án được cấp phép đầu tư
trực tiếp nước ngoài, chiếm 81,4% và số dự án, tổng vốn đăng ký 1.204,7
triệu USD chiếm 80,5% tổng vốn đăng ký. Trong đó công nghiệp nặng và
công nghiệp nhẹ luôn chiếm ưu thế, với 524 dự án và 1.019 triệu USD vốn
đăng ký. So với năm 2001, số dự án đầu tư vào lónh vực công nghiệp và
xây dựng tăng 35% .
Tính đến tháng 2 /2004 các lónh vực công nghiệp và xây dựng vẫn
luốn giữ vò trí đầu bảng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Chỉ tính riêng ngành công nghiệp nhẹ số dự án đã gần bằng tổng số
dự án của cả ngành nông nghiệp và dòch vụ (số dự án ngành công nghiệp
nhẹ là 1.205 triệu, trong số dự án của ngành nông nghiệp là 604 công với
số dự án của ngành dòch vụ là 858 cũng chỉ là số 1.426 dự án).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã góp phần hình thành các khu
công nghiệp đã sản xuất ra những sản phẩm công nghiệp phục vụ cho tiêu
dùng và cho xuất khẩu, góp phần phân bổ công việc hợp lý nâng cao hiệu
quả đầu tư. Các doanh nghiệp khu công nghiệp đóng góp vào việc tăng
năng lực sản xuất ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu, năm 2002 giá trò
sản xuất đạt 5.660 triệu USD , tăng 24% so với năm 2001 và chiếm 18%
tổng thu nhập của cả nước và bằng 60% kim ngạch xuất khẩu của khu vực
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các KCN ra đời tạo điều kiện phát triển công
nghiệp theo quy hoạch, tránh được tình trạng tự phát, phân tán.

xây dựng các khu đô thò đến nay chỉ mới thu hút được một lượng dự án ít ỏi
gồm 3 dự án, tổng vốn đầu tư hơn 2 tỷ nhưng cũng chỉ mới thực hiện với số
vốn hơn 6 triệu USD.
NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN QUA.
1.1/ Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư
phát triển , tạo ra thế lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế .
Trong thời kỳ đầu, khi đất nước tiến hànhcông nghiệp hoá – hiện
đại hoá trong điều kiện hậu quả nặng nề của của Ngân Hàng năm chiến
tranh còn chưa khắc phục, trình độ tổ chức quản lý cũng như điều kiện để
sử dụng vốn vay còn hạn chế, mức tích lũy và khả năng huy động vốn
trong nước rất thấp thì đầu tư nước ngoài đã đóng vai trò là lực đầy khởi
động cho guồng mày kinh tế đi vào qũy đạo, là sức đẩy giúp nước ta thoát
khỏi tình trạng đói nghèo, khủng hoảng kinh tế – xã hội, xoá bỏ cấm vận
nước ngoài. Chỉ trong vòng vài năm, đất nước gần như sắp bò nạn đói đe
dọa đã trở thành một nước xuất khẩu lương thực mà không cần có sự an
thiệp của Chính Phủ. Việt Nam đã đạt tăng trưởng kinh tế hiện thực trạng
giai đoạn 1990 – 1997. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã góp phần làm độ tăng trưởng được GDP năm 1992 tăng lên 3,4%
và 1993 là 5,3%, năm 1994 là 7,9%.
12
Trong giai đoạn 1992 – 1997, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trung
bình mỗi năm tạo ra 3,4 điểm % trong tăng trưởng GDP.
Những năm gần đây, đầu tư nướ ngoài là một nhân tố quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện qua tốc độ tăng trưởng của
khu vực này luôn cao hơn tốc độ bình quân của cả nước. Nếu như năm
2002, giá trò ản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp Nhà nước chỉ
tăng 11,7% tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI là 14,5% tốc độ gia tăng
kim ngạch xuất khẩu của khu vực này là 23,7% so với năm 2001 trong khi
kim ngạch xuất khẩu của nó là 16,5 tỷ USD, tăng 9,3%. Tỷ lệ đóng góp

kinh doanh mới, làm cho cơ cấu kinh tế nước ta từng bước chuyển biến theo
hướng của một nền kinh tế thò trường hiện đại :
13
Nếu những năm đầu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ
yếu vào lónh vực kinh doanh thì bất động sản thì thời kỳ 1996 – 2000 tập
trung vào lónh vực sản xuất với cơ cấu ngành nghề hợp lý hơn, xây dựng cơ
sở hạ tầng, dòch vụ kỹ thuật viễn thông cũng tăng lên. Đầu tư nước ngoài
vào công nghiệp nghiệp chiếm 56% tổng số vốn đăng ký so với 52,7% tổng
vốn đăng ký trong năm trước đó . Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
trong giai đoạn 1996 – 2000 tăng 1,4 lần so với giai đoạn 1991 – 1995 các
công nghiệp sử dụng trong thăm dò khai thác dầu khí viễn thông hoá chất
…… đều thuộc công nghiệp hiện đại.
Có sự đồng biến giữa tỷ trọng công nghiệp trong GDP với tỷ trọng
đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP
điều này chứng tỏ có sự có mặt của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chi
phối đáng kể quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Nếu như
trong năm 2002 giá trò sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp
Nhà nước chỉ tăng 11,7% , của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 19,2%
thì tốc độ tăng trưởng của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là
21,8% . Đầu tư nước ngoài đã góp sức mình trong việc đánh thức các tiềm
năng kinh tế ở đòa phương, góp phần xây dựng nên những trung tâm công
nghiệp lớn từ những vùng đất nông nghiệp như Bình Dương, Đồng Nai,
Vónh Phúc, Bìa Ròa – Vũng Tàu ……
Tác động của các dự án FDI đối với nền kinh tế là rất lớn. Tuy
nhiên,thực tế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang đặt ra nhiều vấn
đề cần tiếp tục giải quyết.
PHẦN III
NHỮNG KHÓ KHĂN THÁCH THỨC VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
1/ Khó khăn và thách thức :
Trên con đường phát triển, chúng ta cũng ghi nhận những khó khăn

các nhà đầu tư. Đặc biệt sự phối hợp ngành , liên vùng trong quản lý còn
nhiều bất cập.
Câu hỏi đặt ra là : Làm thế nào để có thể thu hút và sử dụng các
nguồn vốn này có lợi cho cả bên đầu tư và cho đất nước?
Trước hết chúng ta phải lưu ý xem xét ý kiến của các nhà đầu tư
nước ngoài và nguyện vọng của họ khi đầu tư vào nước ta.
Nhìn chung, hình ảnh của Việt Nam không ngừng được cải thiện
trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài; Họ ủng hộ chính sách đổi mới và
rất mong muốn Việt Nam sớm gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
nhằm tạo thêm thuận lợi cho họ tại Việt Nam trên cơ sở hoàn chỉnh hệ
thống pháp luật phù hợp với tập quán đầu tư và kinh doanh quốc tế. Hội
nghiên cứu mới nhất của Hội nghò Liên Hiệp Quốc về hợp tác thương mại
và Phát triển – UNCTAD cho thấy Việt Nam được xếp trong tốp thứ 4 và
trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương sau Trung Quốc (Tốp 1), n Độ
(tốp 2) , Thái Lan (tốp 3) và ngang với Hàn Quốc (tốp 4) về triển vọng thu
hút vốn FDI trong năm 2004 – 2005. Các nhà đầu tư và kinh doanh bao giờ
cũng mong muốn lợi nhuận, nhưng đó là lợi nhuận thu được do họ có điều
kiện phát huy được các sở trường thế mạnh của mình, phù hợp với pháp
luật Việt Nam và Quốc Tế. Do đó khi hoạch đònh chính sách thu hút và sử
dụng FDI cần phải chú ý thích đáng hơn nữa đến các thông tin rất đa dạng
về các đối tác. Chẳng hạn , chúng ta muốn ưu tiên thu hút đầu tư các dự án
từ các nước G7. Điểm nhấn này là đúng đòa chỉ, nhưng trên thực tế nếu đầu
tư vào nước ta , nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá, các dự án này chỉ
tham gia trong một số khâu của quá trình phân công trong mạng lưới sản
15
xuất toàn cầu, tạo nên một số mắc xích trong “Chuổi giá trò”. Mục tiêu nội
đòa hoá mà chúng ta đặt ra cho đầu tư nước ngoài trong một số lónh vực
công nghiệp, nhất là các Công ty xuyên Quốc gia sẽ gặp khó khăn. Các
nước gọi là “Công nghiệp phát triển” nhưng lónh vực phát triển mạnh nhất
tạo ra nhiều giá trò gia tăng nhất không phải là khu vực công nghiệp mà là

án Quốc Gia gọi vốn FDI . Cải tiến hướng xây dựng chương trình xúc tiến
đầu tư Quốc Gia có bài bản hơn, được phối hợp liên ngành, liên vùng tốt
hơn. Gắn kết tốt hơn nữa giữa việc huy động và sử dụng vốn ODA với
nguồn vốn FDI nhất là trong việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội,
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.
16
- Chú trọng cải tiến quản lý đầu tư trên các lónh vực : Cấp giấy phép
đầu tư, đăng ký giấy phép tăng cường việc theo dõi, giám sát và xử lý vấn
đề “hậu giấy phép”. Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý đầu tư trong và
ngoài nước gắn với tăng cường phối hợp, giám sát đầu tư nước ngoài, đẩy
mạnh công tác xúc tiến đầu tư, đi sâu vào các loại hình, các đối tác khác
nhau để khai thác các lợi thế đặc thù của từng đối tác cũng như mở rộng
đòa bàn thu hút ra các ngành, các lónh vực và các đòa phương lâu nay còn
thu hút được ít FDI.
- Sơm xây dựng một luật đầu tư thống nhất của Nhà nước Việt Nam
trong đó tập trung vào một số điều chỉnh về hình thức góp vốn, huy động
vốn, tỷ lệ góp vốn, chuyển nhượng vốn, từng bước chuyển việc thẩm đònh
cấp giấy phép sang chế độ đăng ký giấy phép đầu tư. Thực hiện công khai
minh bạch và bình đẳng gữa các thành phần kinh tế, mở rộng quyền tự do
kinh doanh.
- Phát huy vai trò của thò trường chứng khoán. Cho phép các nhà
đầu tư được đầu tư gián tiếp, thông qua việc mua cổ phần của doanh
nghiệp Việt Nam. Cũng như thành lập các công ty hợp doanh trong các lónh
vực kinh doanh co chuyên môn nghiệp vụ cao như Tư vấn pháp luật, Kiểm
toán. Cho phép thành lập cả Công ty quản lý vốn, điều phối cùng lúc nhiều
dự án đầu tư tại Việt Nam.
* *
*
17
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status