Mở đầu
Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây (Bouton, 1996; Blum-kulka, 1989 v.v) đã chỉ ra rằng
việc rèn luyện phát triển kỹ năng giao tiếp, cụ thể là Nói và Nghe phải đi kèm với nâng cao vốn
hiểu biết về ngôn ngữ xã hội nếu muốn người học ngoại ngữ tăng cường được khả năng giao tiếp
trong ngôn ngữ đích. Theo các nghiên cứu Blum-Kulka và các cộng sự (1989), Kasper (1995) và
một số học giả khác, trong giao tiếp thường ngày hành động tại lời gián tiếp (Indirect
illocutionary act) được thực hiện nhiều hơn hành động tại lời trực tiếp (Direct illocutionary act).
Vì vậy, bên cạnh những khó khăn về ngữ pháp, cấu trúc, hay ngữ âm, người học ngoại ngữ còn
gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ một cách phù hợp liên quan tới các thành ngữ, hoặc
quy phạm văn hóa của ngôn ngữ đích, thể hiện qua lối nói gián tiếp. Theo Gumperz (1982, trích
dẫn bởi Tâm, 2005) “Người ở những nền văn hóa khác có cách giao tiếp khác nhau. Những khác
biệt về văn hóa có thể gây nên khó khăn dẫn đến thất bại trong giao tiếp”.
Chào hỏi, cũng như những hành động nói khác, thể hiện đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc. Mặc
dù ở tất cả các ngôn ngữ, chức năng cơ bản nhất của chào hỏi là để xác nhận việc nhận biết sự có
mặt của người giao tiếp, thể hiện sự quan tâm và khẳng định hoặc xác nhận mối quan hệ hoặc vị
thế của người cùng giao tiếp hoặc nhóm người cùng giao tiếp với nhau. Song ở những ngôn ngữ
khác nhau, cách thức cụ thể trong chào hỏi lại không như nhau. Việc đem quy ước sử dụng của
ngôn ngữ này vào ngôn ngữ khác (như người học ngoại ngữ thường làm) sẽ gây cho họ nhiều khó
khăn và dễ bị hiểu lầm.
Theo kết quả nghiên cứu về cách chào hỏi của người Mỹ do Eienstein và nhóm cộng sự tiến hành
vào năm 1996, người nước ngoài thường áp dụng một số cách chào hỏi không phù hợp với người
bản ngữ, và điều này trong một số trường hợp làm cho người ta bị yếu thế, gây cảm giác bế tắc
trong giao tiếp. Sự không phù hợp này do nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên
nhân là do ảnh hưởng của tiếng mẹ để về dụng học ngôn ngữ và dụng học xã hội.
Vì những lý do trên, tìm hiểu sự khác biệt và tương đồng trong cách thức chào hỏi của tiếng Việt
và tiếng Anh sẽ giúp người học Việt Nam học tiếng Anh có thêm thông tin cần thiết có thể khiến
họ thành công hơn trong giao tiếp với người bản ngữ. Vì lý do trên chúng tôi đã tiến hành khảo
sát cách chào hỏi của người Việt, rồi so sánh với cách chào hỏi của người Mỹ dựa trên nghiên
cứu của Eisenstein và nhóm cộng sự (1996) trong bảy tình huống giao tiếp phổ biến, không phân
tích so sánh các yếu tố phi ngôn ngữ như ngữ điệu, biểu hiện khuôn mặt, và ngôn ngữ cử chỉ.
Câu hỏi nghiên cứu:
quan hệ giữa những người giao tiếp.
Đóng vai: các cấp tín viên đã được yêu cầu đóng vai trong các tình huống nghiên cứu để thực
hiện hành động chào hỏi. Đôi khi cấp tín viên phải trả lời thêm một số câu hỏi liên quan tới từng
tình huống giúp có thêm thông tin cần thiết thực hiện việc phân tích số liệu.
Cấp tín viên
Trong nghiên cứu của Eisenstein, 50 người bản ngữ nói tiếng Anh Mỹ được sử dụng. Tuổi trung
bình là 23, thấp nhất là 19 và cao nhất là 65. Tất cả đều thuộc tầng lớp trung lưu. Tương tự như
vậy, các đối tượng người Việt Nam trong nghiên cứu này cũng từ 18 đến 65, là những người
thuần Việt, thuộc tầng lớp trung lưu và số lượng là 50 người.
Tình huống sử dung trong nghiên cứu
Tình huống 1: (bạn bè) (quan hệ ngang quyền) Hai người bạn đi về phía nhau. Cả hai đều rất vội.
(Họ nhìn thấy nhau và nói.)
Tình huống 2: (bạn bè) (quan hệ ngang quyền) Hai người bạn đi về phía nhau. Cả hai đều đang đi
tới chỗ hẹn nhưng không vội lắm. Họ có thời gian để trò chuyện với nhau. (Họ nhìn thấy nhau và
nói)
Tình huống 3: (bạn bè) (quan hệ ngang quyền) Một người bạn được mời đến bữa tiệc của người
kia. Người bạn đó ra mở cửa. (Họ nhìn thấy nhau và nói.)
Tình huống 4: (cấp trên và cấp dưới) (quan hệ không ngang quyền) Một nhân việc bị gọi vào
phòng lãnh đạo mà không rõ lý do. Người nhân viên đó gõ cửa và bước vào. (Họ nhìn thấy nhau
và nói.)
Tình huống 5: (cấp trên và cấp dưới) (quan hệ không ngang quyền) Một ông sếp đang đi qua bàn
làm việc của nhân viên. Vì một lý do nào đó, ông ta dừng lại. (Họ nhìn thấy nhau và nói.)
Tình huống 6: (Hai người lạ chào nhau) Hai sinh viên mới ngồi cạnh nhau trong buổi học đầu
tiên. (Một người quay lại và nói.)
Tình huống 7: (Hai người lạ chào nhau) Tại một bữa tiệc, một người thấy một người khác khá
thân thiện (cùng giới). (Họ đi về phía nhau và nói.)
Kết quả phân tích số liệu
Kết quả từ số liệu của người Mỹ
Trong nghiên cứu của mình, Einsenstein và các cộng sự đã nhận thấy người giao tiếp không phải
lúc nào cũng sử dụng những lời chào theo công thức. Kết quả của nghiên cứu cho thấy chào hỏi
A. Wow! That’s great. That’s pretty good. (Ồ! Tuyệt. Tốt quá.)
B. Look, I’ll see you later. (Thôi nhé, gặp cậu sau nhé.)
A. Okay. Bye. (Ừ. Tạm biệt.)
Chào hỏi dài (The long greeting)
Loại chào hỏi thứ tư được gọi là “chào hỏi dài” (long greeting). Kiểu chào hỏi này thường bao
gồm việc hâm nóng lại mối quan hệ giữa hai người sau một thời gian dài không gặp nhau. Tình
huống này thường bao gồm nhiều hành động chào hỏi xen kẽ với những lời kể về các sự kiện xảy
ra trong khi hai người không gặp nhau. Loại chào hỏi thứ tư rất đa dạng và tiềm ẩn nhiều đặc
trưng văn hóa.
M. Bea! (Bi)
B. Michelle! (Michel)
M. Where’ve you been? I haven’t seen you around. (Chị vừa đi đâu về thế? Lâu lâu tôi không
thấy chị)
B. We were away. We just got back. What’s new with you? What have you been up to? (Chúng
tôi đi nghỉ. Mới về. Có gì mới không? Đang làm gì thế?)
M. (Michelle reports on neighborhood news in detail) We missed you. How are you? It’s so nice
to see you. Where’d you go? (Michel kể lại cho người hàng xóm nghe những chi tiết về chuyến
đi. Nhớ chị quá. Chị có khỏe không? Được gặp lại chị mừng quá. Chị đi nghỉ ở đâu?)
B. (Bea described her vacation in detail) (Bi kể lại chuyến đi của mình)
M. Well, I’m glad you’re back. It’s so nice to see you. I missed talking to you. (Rất vui là chị đã
về. Gặp chị vui quá. Tôi rất thích nói chuyện với chị.)
B. Aw. Well, we’re back! How have you been doing? (Vâng. Chúng tôi cũng đã trở về. Mọi việc
của chị thế nào?)
Chào hỏi thân mật (The intimate greeting)
Loại chào hỏi thứ năm xuất hiện trong tình huống hai người biết nhau và thường xuyên có sự trao
đổi với nhau được gọi là “chào hỏi thân mật” (intimate greeting). Trong tình huống này hai người
biết quá rõ về nhau nên họ đã sử dụng rất nhiều thông tin được hàm ngôn, không diễn đạt bằng
lời. Đôi khi, trong tình huống này bản thân lời chào bị tỉnh lược chỉ còn lại những cử chỉ phi lời.
Ví dụ: người chồng bước vào, hôn vợ và nói “Well?” (Thế nào?) Người vợ đáp, “Yes.” (Vâng.)
Người chồng mỉm cười và nói “Great. What else did you do today?” (Tuyệt. Thế hôm nay em
better?” (Mary à? Khá hơn chưa?) và lời đáp lại là “Yes. Thanks!” (Đã khá hơn. Cảm ơn!)
Kết quả từ số liệu của người Việt Nam
Tình huống 1
Số lượng lời chào hỏi trong tình huống này khá lớn do tính chất đơn giản, nhanh chóng của nó.
Có thể chia ra làm 2 loại chào: a. Xuất hiện những câu hỏi chung chung, không cần câu trả lời; b.
Gọi tên nhau hoặc dùng hô ngữ, đại từ nhân xưng (không quá 1 lượt lời). Chiến lượt chào hỏi
giống kiểu chào lướt (greetings on the run).
Ví dụ:A: Ê! Đi đâu thế?
B: Ừ, chạy ra đây một chút.
Ví dụ:A: Hà!
B: Mày a! Nộp report à?
A: Ừ. Nộp chưa?
B: Đã xong đâu mà nộp.
Ví dụ: A: Anh!
B: Em!
Tình huống 2
Sự khác biệt duy nhất là ở tình huống 2 này so với tình huống 1 loại a là tăng thêm về lượng
thông tin trao đổi, bên cạnh những lời hỏi thăm xã giao. Có một vài trường hợp hai người hoàn
toàn bỏ qua lời chào hỏi xã giao mà đi thẳng vào một câu hỏi cụ thể hoặc vấn đề cụ thể mà cả hai
người đều biết. Chiến lược chào hỏi trong tình huống này khá giống với kiểu chào nhanh.
A: Huyền!
B: Ơ! Hôm trước trốn nhá!
Không dùng lời chào theo ước
lệ.
A: Ừ, chán quá. Vụ kia xong chưa?
B: Ối, còn lâu lắm! Đang bơi ra mà không biết có xong không ý
chứ!
Một vài thông tin được trao đổi
A: Thoa cũng thế. Thôi cố mà xong đi!
B: Ừ. Biết chuyện anh Thắng chưa?
A: Hạnh à, vào đi!
B: Chị!
Ví dụ:Trong văn phòng của một tổ chức phi chính phủ
A: Chị Thúy à
B: Huyền ơi, vào đây!
A: …
Chào hỏi bằng cách thu hút sự
chú ý.
B: Hôm trước em không đi Hòa Bình nhỉ? Có mấy đứa đi
thôi.
A: Vâng…
[A & B nói chuyện về chuyến đi Hòa Bình]
Phần trao đổi thông tin ban đầu
B: Huyền ơi, dạo này em có bận không?
A: Dạ, cũng bận chị ạ.
B: Ừ chị cũng đoán thế. Vì bài dịch lần này của em lại có
phần thông tin chính cần trao đổi
vấn đề. …
Tình huống 5
Phần lớn lời chào hỏi trong tình huống này đều liên quan tới công việc. Mối quan hệ thân sơ giữa
hai người đối thoại có ảnh hưởng rất lớn tới cách chào hỏi và hướng tiến triển của đoạn trò
chuyện tiếp theo. Có thể thấy chiến lược chào hỏi của người Việt trong tình huống này là sự kết
hợp của các kiểu chào hỏi nhanh, chào hỏi dài và hỏi thăm.
Ví dụ: Giáo viên – Học sinh
T: Ừ, Minh à. Đợt này em có đi dạy thêm không?
S: Cô à! Em vẫn dạy thằng bé ở chỗ Ngô Quyền ạ.
T: Thế này em ạ. Có người nhờ cô tìm một gia sư cho một em bé học trường Ams.
S: Vâng.
T: Cô định hỏi xem em có thể dạy được chỗ này không…
mà không có thời gian để dừng lại nói chuyện.
Chào nhanh khác với chào lướt ở nội dung thông tin. Nó thường “mở đầu và kết thúc đột ngột”.
Thăm hỏi, cũng bắt đầu tương tự như lời chào nhanh, và thường một vài thông tin được trao đổi
trước khi chia tay hoặc chuyển sang chủ đề chính. Nội dung thông tin trao đổi trong nhóm chào
hỏi này là lớn hơn hẳn so với hai nhóm chào hỏi trước
Lời chào hỏi dài, thuờng là một chuỗi những lời hỏi thăm, xen kẽ với việc lại những chuyện đã
xảy ra khi một người kia đi vắng và không chứng kiến được.
Lời chào hỏi thân mật, giữa những người có mối quan hệ thân thiết, và cũng đang tập trung suy
nghĩ, hoặc mối quan tâm vào cùng một vấn đề.
Lời chào hỏi giới thiệu, được sử dụng khi hai người mới quen gặp nhau. Tình huống số 6, khi cả
hai người đối thoại đang tìm kiếm sự hòa hợp, phản ánh rất rõ những câu chuyện khi ngồi ăn
cưới.
Lời chào hỏi vì công việc, thường những người tham gia vào câu chuyện chỉ chào hỏi lấy lệ, sau
đó chuyển ngay sang nội dung công việc. Trong đó có lời chào hỏi mang tính quy ước cao trong
một số tình huống giao tiếp lặp lại nhiều lần.
Lời chào lại (gặp nhau nhiều lần trong ngày), thường được sử dụng giữa những người đã hiểu rất
rõ nhau, có nhiều điều không chỉ được nói bóng gió hoặc không được nói đến.
Một số cách thức chào hỏi được sử dụng phổ biến trong hai ngôn ngữ:
Chiến
lược
Tiếng Việt Tiếng Anh
Chào
lướt
Anh !Em !Ê !Bác đi đâu đấy ?Cô Hường
hay trốn học lắm đấy nhé !
Hi !Hello !Hi , how ya doin ?Hey you !
Chào
nhanh
A : Đi đâu đấy ?B : Đá bóng.A : Làm
xong đề cương chưa ?B : Tối về làm.A :
A : Hi, Steve !B : How are you doing, Adina ?
A : Okay.B : What’s happening ?A : Uh…
cacation was really good.B : oh, yeah ?
Where’d you go ?A : Uh… skiing.B : lucky
you !A : yeah, and you ?B : Just stayed in
town, bored to tears.A : That’s too bad. B : I
know. I gotta get out teaching. There’s more
money elsewhere. Oh, are you taking a class
this semester ?A : Oh, yeah, four…B : Four ?
Are you out of your mind ?A : Yep.B : It’s
crazy.A : Yeah. Tell me about it.
Chào
hỏi
thân
mật
A : Sao rồi ?B : 75% thôi.
A : Well ?B : Yes !A : Great. What did you do
today ?
Chào
hỏi
giới
thiệu
A : Chắc chị là bạn cô dâu ?B : Không.
Nhà mình chơi với nhà cô dâu từ ngày
xưa.
* A : Great party !B : Yeah ! The food is
terrific !* C : Hi, how are you ?D : Good. It’s
nice to see the sunshine at last.C : yeah !
Chào
hỏi vì
nhé.’
Người Việt khi quen biết nhau nhiều có thể chào hỏi và phàn nàn về sức khỏe của bản thân nhưng
người Mỹ không bao giờ làm như vậy.
Người Việt trong chào hỏi làm quen có thể nói luôn về gia đình, bản thân nhưng người Mỹ không
nói về gia đình, bản thân mà nói về thời tiết, đồ ăn, những vấn đề không liên quan gì đến cá nhân.
Những khác biệt cơ bản trong chủ đề được nhắc đến giữa hai ngôn ngữ được tóm tắt trong bảng
dưới đây :
Chủ đề Tiếng Việt Tiếng Anh
1. Sức khỏe
- Người trẻ hỏi người già
√ √
- Người già hỏi người trẻ Hiếm
√
- có ít thời gian nói chuyện X
√
- có nhiều thời gian nói chuyện
√ √
2. Chủ đề liên quan tới thời điểm nói chuyện
- Nhận xét về việc người kia đang làm
√
X
- Nhận xét về vẻ bề ngoài của người kia, khen trực tiếp
√
X
- Nhận xét về đồ ăn, đồ uống, thời tiết, giao thông,
√ √
3. Vấn đề cá nhân
- Tuổi
thì lại ít khi sử dụng cách chào hỏi theo công thức. Thoạt trông có vẻ thấy chào hỏi trong tiếng
Anh dễ hơn tiếng Việt, song trong thực tế không phải như vậy. Điều rất khó với người học tiếng
Anh là những câu nói đi kèm, những chủ điểm được nêu lên trong khi chào hỏi lại rất linh họat và
khác nhiều so với tiếng Việt. Vì thế trong tình huống chào hỏi giữa một người bản ngữ và người
học tiếng, người ta thường cảm thấy người học tiếng thường chào hỏi một cách khá ‘cộc lốc’,
hoặc đưa ra những chủ điểm trao đổi không thật sự phù hợp làm cho cuộc đối thoại có thể bị kết
thúc đột ngột.
Gợi ý cho việc dạy và học cách chào hỏi bằng tiếng Anh Mỹ
Với giáo viên
- Giáo viên cần chủ động sử dụng các nguồn tài liệu có giới thiệu những cách chào hỏi sát với
thực tế của ngôn ngữ đích trong giờ học.
- Giáo viên cũng cần nắm vững kiến thức về chuyển di dụng học ở ngôn ngữ thứ hai để có thể sử
dụng những kiến thức này hỗ trợ học sinh học về dụng học ngôn ngữ thứ hai.
Với học sinh
- Học sinh cần phải ý thức được việc thông thạo ngữ pháp của một ngôn ngữ không đồng nghĩa
với việc giao tiếp thành công.
- Học sinh cũng nên tìm hiểu về lý do tại sao tồn tại sự khác biệt trong dụng học ở các nền văn
hóa khác nhau, điều này giúp các em hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề.
- Học sinh nên được khuyến khích tìm hiểu về lịch sử và thấy tự hào về ngôn ngữ tiếng Việt, lấy
đó làm nền tảng để có thể hiểu rõ hơn về ngôn ngữ tíếng Anh.