Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh pot - Pdf 18

Lợi thế so sánh và lợi
thế cạnh tranh
Tôi nhận được một số phản hồi từ bài
phỏng vấn GS Porter. Đa phần tỏ ra
không đồng ý với câu trả lời của ông về
khái niệm “cái bẫy trào lưu mậu dịch tự
do” và tỏ ý chờ đợi xem Báo cáo Năng
lực Cạnh tranh Việt Nam có đưa ra được
gì mới không.
Có một số bạn nhân đó hỏi vì sao có lúc
nói lợi thế so sánh, có lúc nói lợi thế
cạnh tranh. Về điểm này, tôi từng viết
một bài (bài “Đi tìm lợi thế cạnh tranh”
– đăng trên TTCT từ năm 2004 khi Việt
Nam chưa vào WTO).
Xin trích lại ở đây để lưu trên blog này
luôn thể:
Đi tìm lợi thế cạnh tranh
Trước những thất bại thấy rõ của
những chương trình như mía
đường, ximăng lò đứng , nhiều
người tự hỏi nên chăng chúng ta
chỉ làm những gì chúng ta có ưu
thế, còn lại thà nhập khẩu hơn là
sản xuất ra hàng hóa bán không
ai mua vì giá thành quá cao?
Vấn đề càng cấp bách khi VN
trước sau gì cũng gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới
(WTO) và phải gỡ bỏ hầu hết
mọi rào cản thương mại, đầu tư,

tiến thêm một bước chế biến các
sản phẩm này để kiếm thêm tiền
nhờ giá trị gia tăng. Theo dòng
suy nghĩ này, chúng ta cũng
không nên tính đến chuyện xa
vời như sản xuất linh kiện máy vi
tính hay tivi vì người ta đã làm
giỏi hơn, rẻ hơn ta nhiều.
Sự đời không đơn giản như thế.
Xin lấy một ví dụ từ cuộc sống
bình thường để dễ hình dung.
Giả thử có ông bác sĩ tay nghề
chuyên môn giỏi mà công việc
quản lý sổ sách văn phòng cũng
giỏi luôn. Như thế ông này có
nên áp dụng lý thuyết lợi thế
tuyệt đối để tự mình làm hết mọi
chuyện, từ khám chữa bệnh đến
quản lý phòng khám? Chắc chắn
là không; ông ta sẽ thuê cô thư
ký để lo chuyện sổ sách mặc dù
cô này làm chậm hơn ông - để
ông tận dụng hết thời giờ khám
chữa bệnh, vừa cứu được nhiều
người vừa thu tiền nhiều hơn
chứ.
Với lập luận tương tự, David
Ricardo triển khai lý thuyết lợi
thế tuyệt đối thành lợi thế so
sánh, khi các nước phải nhường

mặc cảm thua thiệt “tuyệt đối”.
Điều này cũng giải thích nguyên
nhân của các dòng chảy vốn đầu
tư, như Cannon vào VN để sản
xuất máy in cho nhiều thị trường
khác; hay lý do đằng sau nhiều
dự án khác vì lợi thế cạnh tranh
tùy thuộc rất nhiều yếu tố, kể cả
có hay không rào cản thương
mại.
Tuy nhiên, lý thuyết lợi thế so
sánh xem chừng cũng chỉ gán
cho mỗi nước một công việc một
cách khiên cưỡng, trong cái gọi
là phân công lao động toàn cầu.
Không lẽ các nước không đóng
vai trò gì để cải thiện số phận đã
được phân công cho mình? Cho
dù toàn cầu hóa đã đạt đến qui
mô chưa từng có, vẫn còn đó
những rào cản rất lớn như khác
biệt văn hóa, cách trở địa lý,
quyền lợi dân tộc, nhất là sự lan
rộng của chủ nghĩa khủng bố và
nỗ lực chống khủng bố hiện nay.
Nhìn lại chính sách bảo hộ nông
nghiệp của nhiều nước, chúng ta
thấy ngay quyền lợi người dân
gắn liền với sinh mệnh chính trị
của các đảng phái làm cho lý

nền công nghiệp phụ trợ.
Từ việc nhận ra nhu cầu của thị
trường, trước tiên là thị trường
trong nước, kết hợp với các lợi
thế trong lao động, tài nguyên,
vốn liếng, kỹ thuật, một ngành
công nghiệp sẽ có lợi thế cạnh
tranh nếu có thêm những ngành
công nghiệp liên quan hỗ trợ.
Lợi thế cạnh tranh này càng
củng cố nếu được sự hỗ trợ của
chính quyền trong việc tháo bỏ
những rào cản hành chính, xây
dựng một môi trường kinh
doanh bình đẳng, tiên liệu được
để doanh nghiệp ngày càng hoàn
thiện mình qua cạnh tranh, nâng
cao năng suất tổng thể.
Dĩ nhiên, toàn cầu hóa đóng vai
trò quan trọng trong việc xác
định các yếu tố này; chẳng hạn,
nhu cầu thị trường không nhất
thiết đến từ trong nước mà từ
xuất khẩu, vốn hay công nghệ
vẫn có thể mua hay thu hút từ
nhà đầu tư nước ngoài và công
nghiệp phụ trợ phải hiểu trên qui
mô toàn khu vực hay toàn cầu –
linh kiện có thể nhập dễ dàng để
cung ứng cho sản xuất trong

hay chuyển đồng tiền của mình
đi nơi khác; còn nếu tín hiệu tích
cực, Nhà nước không cần kêu
gọi nhiều, người ta cũng sẽ
nhanh chóng lập dự án, tận dụng
thời cơ. Ngược lại, mọi nỗ lực
như đổ tiền thuế của người dân
vào dự án xây dựng công nghiệp
xe hơi nội địa như ở Malaysia
chỉ làm méo mó thị trường một
thời gian rồi kết thúc trong thất
bại.
Xét cho cùng, lợi thế cạnh tranh
sẽ không có ý nghĩa gì nếu chỉ
dựa vào việc tạo ra những ưu thế
giả tạo, chỉ tồn tại trong thời
gian ngắn hay những ưu thế bất
lợi cho người dân như giá công
nhân rẻ hay tận dụng tài nguyên
bất kể hậu quả môi trường.
Nếu đọc bài trên, các bạn sẽ thấy câu hỏi
về “cái bẫy trào lưu mậu dịch tự do” chỉ
là một cách để GS Porter nói thêm về lý
thuyết “lợi thế cạnh tranh” của ông như
một giải pháp vượt ra “lời nguyền” lợi
thế so sánh.
Bởi lý thuyết lợi thế cạnh tranh cho rằng
một nước không thể cứ cạnh tranh mãi
dựa trên nguồn lao động rẻ, tài nguyên
dồi dào mà phải từng bước trèo lên các

mới gọi nó là "serious mistake",
chứ tôi thấy chuyện chuyển từ
"free trade" sang "managed
trade" là xu hướng chung rồi.
Đó cũng là lí do người ta chuyển
từ đồng thuận Washington
(Washington consensus, nhấn
mạnh đến tự do hóa tài chính,
thương mại, ) sang đồng thuận
Santiago (Santiago consensus,
không nhấn mạnh đến tự do
thương mại hay dân chủ, mà chú
trọng đến đầu tư nhân lực, giảm
nghèo, ).
Một nhận xét khác:
Tôi có cảm giác nhiều bài báo
kinh tế ở Việt Nam dùng "lợi thế
so sánh" với "lợi thế cạnh tranh"
khá tùy hứng, nên bản thân tôi
(vốn không hiểu rõ về lý thuyết
của GS Porter lắm) cũng thấy
bối rối khi đọc. Đôi khi tôi không
rõ khi nhà báo viết "lợi thế cạnh
tranh", họ đang dùng theo nghĩa
mà GS Porter nói hay chỉ xài
theo thói quen và trực giác (kiểu,
muốn thành công thì phải có lợi
thế, mà vì đây là nền kinh tế thị
trường nên mình gọi là "lợi thế
cạnh tranh", chứ cũng không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status