ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI MỘT SỐ LOÀI CHÂN BỤNG - Pdf 18

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KỸ THUẬT SẢN XUẤT
GIỐNG VÀ NUÔI MỘT SỐ LOÀI CHÂN BỤNG CÓ
GIÁ TRỊ KINH TẾ
2.1. Một số đặc điểm sinh học
2.1.1. Bào Ngư
a) Hình thái và phân bố
Có 4 loài Bào Ngư phân bố chủ yếu ở biển nước ta.
Chúng được phân biệt thông qua đặc điểm hình thái vỏ và
địa lý phân bố. Hình 40. Hình thái ngoài của Bào Ngư
Bào Ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846): Vỏ
có dạng hình vành tai người, chiều rộng bằng 2/3, chiều cao
bằng 1/4 chiều dài. Thông thường có 3 tần xoắn ốc. Bắt đầu
từ mép vỏ của tần xoắn ốc thứ hai có nhiều gờ nhô sắp xếp
có thứ tự đến tận mép của miệng vỏ, 7 - 9 gờ nhô cuối cùng
đầu không kín, dạng lỗ. Mặt ngoài vỏ gờ xoắn ốc và gờ
sinh trưởng cắt nhau có dạng mặt vải sợi thô. Mặt trong của
vỏ là tầng xà cừ phát triển óng ánh. Thường bắt gặp các cá
thể có vỏ dài 60 - 90 mm. Bào Ngư chín lỗ thường phân bố
ở khu vực biển phía Bắc, nhất là ven đảo Cô Tô, Minh
Châu, Quan Lạn (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng),
sống ở khu vực có độ sâu 5 - 10 m nước, nơi có sóng gió,
đáy đá sỏi, độ muối 25 - 32 ppt, nhiệt độ thích hợp 20 -
28
o
C.
Bào Ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791): Vỏ dạng
hình bầu dục, có 4 tầng xoắn ốc. Mặt vỏ gồ ghề có nhiều gờ
cong dạng phóng xạ, trong đó có 4 -6 ụ nhô cuối cùng trên

mm, cao 12 mm. Chúng phân bố ở ven các đảo, ở độ sâu từ
tuyến hạ triều đến một vài mét nước.
b) Phương thức sống
Phương thức sống của Bào Ngư thay đổi theo giai
đoạn phát triển của cá thể. ở giai đoạn ấu trùng sống bơi
lội, giai đoạn trưởng thành sống bán cố đinh (Sống bám và
giá thể nhưng có khả năng di chuyển nhờ chân có thể bò).
Bào Ngư có thể bò trên đá nhưng không thể bò trên cát.
Chân bám vào đá rất chắc, đặc biệt khi có kẻ thù. Bào Ngư
là loài sợ ánh sáng do đó ban ngày sống ẩn nấp, ban đêm
mới đi kiếm mồi
c) Thức ăn và phương thức bắt mồi
- Thức ăn của Bào Ngư phụ thuộc vào các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của cơ thể:
+ Giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophora), ấu trùng Diện
bàn (Veliger) không ăn thức ăn ngoài, sinh trưởng dựa vào
nguồn dinh dưỡng noãn hoàng của trứng. Ở Mỹ người ta đã
thành công ương ấu trùng trong nước vô trùng. Tuy nhiên,
theo quy trình truyền thống của Nhật Bản thì ấu trùng Bào
Ngư được ương trong môi trường có cung cấp tảo tươi cho
kết quả tốt hơn.
+ Khi kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du chúng chuyển
sang sống bám, ấu trùng bám (Spat) dùng lưỡi sừng để cạp
các tảo san hô (coralline) hoặc lớp chất nhầy trên bề mặt đá
(slime) lấy thức ăn. Chất nhầy trên mặt đá bao gồm các tảo
đơn bào và các vi khuẩn tạo thành. Các loài tảo đơn bào đó
là các loài tảo silic sống đáy như Navicula spp., Nitzschia
spp, có kích thước nhỏ tới 5 m. Khi miệng của ấu trùng
mở rộng và các cơ quan của cơ thể phát triển, ấu trùng ăn
nhiều tảo đáy. Khối lượng thức ăn tăng đáng kể khi Bào

Ngư vành tai nếu chỉ ăn một loại rong câu (Grạcilaria
salicornia) thì tốc độ sinh trưởng sẽ chậm lại 5 tháng tuổi.
Nguồn thức ăn đơn điệu làm thiếu chất dinh dưỡng thiết
yếu cho sinh trưởng của Bào Ngư trong một thời gian lâu
dài. thức ăn rong tảo còn đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển của buồng trứng Bào Ngư. Hai loài rong nâu
(Laminaria và Undaria) là thức ăn có khả năng kích thích
sự thành thục sinh dục của buồng trứng loài Bào Ngư Nhật
Bản (Haliotis discus Hannai). Rong câu chỉ vàng
(Gracilaria verrucosa) cũng kích thích buồng trứng Bào
Ngư vành tai thành thụ sinh dục. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, trong điều kiện nhân tạo, với thức ăn là rau câu chỉ
vàng, Bào Ngư vành tai đã thành thục sinh dục sau 17 - 20
ngày nuôi phát dục.
+ Nhiệt độ nước, một mặt làm tăng khả năng sinh trưởng
của Bào Ngư, mặt khác có thể làm giảm sự sinh trưởng của
chúng. Nhiệt độ tăng cao trùng với mùa vụ sinh sản của
một số loài Bào Ngư. Nghiên cứu của Saika về Bào Ngư
Nhật Bản cho thấy tốc độ sinh trưởng giảm hẳn khi Bào
Ngư sinh sản vào các tháng mùa hè (Saika, 1962). Trong
khi đó, nghiên cứu của Mc Namara về Bào Ngư vành tai ở
Australia chỉ ra tốc độ sinh trưởng của chúng tăng cao về
mùa đông là mùa không sinh sản.
e) Đặc điểm sinh sản
- Giới tính: Bào Ngư vành tai là động vật phân tính
đực cái và quá trình thụ tinh diễn ra ở môi trường nước bên
ngoài cơ thể. Tuyến sinh dục của con đực và con cái bao
bọc quanh tuyến gan và có hình dạng như chiếc sừng trâu
ôm lấy 2/3 cơ khép vỏ. Có thể phân biệt được con đực, con
cái khi tuyến sinh dục thành thục. Khi thành thục sinh dục,

- Tế bào sinh dục: Trứng Bào Ngư khi thành thục tròn,
đường kính dao động từ 150 - 180 m, có màng tế bào và
màng keo bao bọc xung quanh. Trứng Bào Ngư có 3 loại:
Trứng bình thường, trứng không có màng tế bào và trứng
không có màng keo. Hai loại trứng cuối cùng chưa thành
thục và khi đẻ ra thường bị bón cục. Loại trứng này ít được
thụ tinh và nếu thụ tinh được thì phôi cũng phát triển không
bình thường. Tinh trùng có đầu dạng cây mác rõ nét và
đuôi dài. Chiều dài của đầu và đuôi tinh trùng là 8 và 50
m. Tế bào tinh trùng hoạt động tích cực ngay sau khi được
phóng ra môi trường nước. Thời gian sống ngoài môi
trường nước, khả năng thụ tinh của tinh trùng liên quan
chặt chẽ đến nhiệt độ nước và mức độ thành thục của tuyến
sinh dục. Tinh trùng và có khả năng thụ tinh sau 2 giờ ở
ngoài môi trường nước có nhiệt độ 26 - 29
o
C. Tinh trùng
chưa thành thục có cấu tạo đầu chưa định hình, đuôi rất
ngắn, chuyển động khó khăn và chết trong vòng một giờ
sau khi được phóng ra khỏi tuyến sinh dục.
- Tập tính sinh sản: Bào Ngư là động vật phân tính đực cái,
đẻ phân đợt và thụ tinh ngoài. Bào Ngư vành tai thường đẻ
vào buổi chiều lúc tranh tối tranh sáng hoặc vào rạng sáng.
Con đực thường phóng tinh trước và kích thích con cái đẻ
trứng. Sự phóng tinh hoặc đẻ trứng của một cá thể trong
quần đàn thường kích thích các cá thể xung quanh phóng
tinh hoặc đẻ tiếp theo. Con đực thường ở tại chổ phóng
tinh, trong khi đó con cái vừa bò vừa đẻ trứng. Tinh trùng và
trứng đựơc phóng và đẻ ra qua lỗ hô háp thứ 2, thứ 3 ở trên
vỏ. Sự phóng tinh của con đực giống như vệt khói thuốc lá

Sau 9 - 10 giờ, ấu trùng phát triển vỏ trong suốt và chuyển
sang giai đoạn ấu trùng tiền diện bàn (Veliger). Ở giai đoạn
này, vùng đỉnh đầu của ấu trùng dẹt, diềm tiêm mao có
tiêm mao phát triển dài.
Sau 24 - 27 giờ, xuất hiện ấu trùng diện bàn giai đoạn cuối,
ấu trùng diện bàn giai đoạn này hình thành mắt, xúc tu đầu
và nắp mang.
Sau 29 - 32 giờ, hầu hết ấu trùng diện bàn biến thái, chuyển
qua ấu trùng bám (spat). Ở giai đoạn này diềm tiêm mao
thoái hoá và chân bắt đầu phát triển, ấu trùng bám vào giá
bám và chuyển từ kiểu sống phù du sang sống đáy. Đặc
điểm của ấu trùng ở giai đoạn này là phát triển các xúc tu ở
thùy bên chân và hình thành cơ khép vỏ bám chặt vào gía
bám để ăn khuê tảo đáy và chống lại địch hại.
Sau 30 - 40 ngày, hình thành Bào Ngư con với đặc điểm là
có 1 lỗ hô hấp trên vỏ. Bào Ngư con dài 2,4 mm và có 10
đôi xúc tu ở thùy bên chân.
2.1.2. Ốc Hương
a) Hình thái ngoài

Hình 42. Hình thái ngoài của Ốc Hương
Ốc hương có vỏ mỏng nhưng chắc chắn, dạng bậc thang,
tháp vỏ bằng 1/2 chiều dài của vỏ. Da vỏ màu trắng có
điểm những hàng phiến vân màu tím, nâu, nâu đậm hình

đơn bào kích thước nhỏ như Nannochloropsis oculata,
Chaetoceros mulleri, Chlorella sp Hoạt động liên tục của
hai cánh tiêm mao không chỉ giúp ấu trùng bơi mà còn tạo
dòng nước đưa thức ăn vào miệng. Sau một tuần nở ra, ấu
trùng có thể ăn các loài tảo có kích thước lớn hơn như
Platymonas sp Giai đoạn biến thái là thời gian ấu trùng
hoàn thiện cơ quan tiêu hoá để thích nghi với đời sống đáy
và phương thức ăn thịt. Thức ăn ưa thích của ốc hương là
động vật thân mềm hai vỏ (Trai, Sò, Nghêu, sút, mực ),
các loài giáp xác (tôm, cua, ghẹ ), cá. Hệ số thức ăn dao
động tuỳ thuộc vào môi trường nuôi, loại thắc ăn sử dụng
và giai đoạn sinh trưởng, từ 3,5 - 7,2% (trung bình 5,2%).
Lượng thức ăn tiêu thụ trên ngày dao động từ 5 - 22%
(trung bình 12%) tuỳ thuộc vào loại thức ăn ưa thích và
điều kiện môi trường nuôi.
d) Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của Ốc Hương thể hiện qua sự lớn lên về
kích thước vỏ và trọng lượng cơ thể. Trong diều kiện bình
thường sinh trưởng diễn ra một cách liên tục. Tuy nhiên sự
lớn lên của Ốc Hương phụ thuộc vào giai đoạn phát triển và
nhóm kích thước.
- Theo giai đoạn phát triển:
+ Giai đoạn ấu trùng nổi (veliger): Trong điều kiện nuôi
nhân tạo, tốc độ tăng trưởng bình quân và tỷ lệ tăng trưởng
được xác định là 26,5m/ngày và 3,98%/ngày.
+ Giai đoạn ấu trùng bò lê: ốc bắt dầu lớn nhanh. Tỷ lệ tăng
trưởng bình quân ngày giảm dần ở những ngày tiếp theo.
Nhìn chung so với các loài động vật thân mềm khác Ốc
Hương là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh
- Theo nhóm kích thước:Tốc độ tăng trưởng của Ốc Hương

nếp thịt có thể co giãn, nối với một ống dẫn nhỏ đi từ tuyến
sinh dục.
- Con cái có lỗ sinh dục ở mặt dưới bàn chân, cách 1/4
chiều dài bàn chân. Tỷ lệ giới tính trung bình được xác
định là 1: 1,49 .

- Kích thước sinh sản lần đầu: Kích thước sinh sản lần đầu
của ốc hương tự nhiên được xác định trong khoảng từ 40-
50 mm chiều cao vỏ và không khác nhau nhiều về kích
thước giữa con đực và con cái. Ốc Hương nuôi trong bể xi
Hình 4
2
. Đặc điểm hình thái giới tính của ốc hương B. areolata
A. ốc đực; B. ốc cái; pn: Gai giao cấu; fo: Lỗ sinh dục

măng từ con giống nhân tạo đẻ trứng lần đầu sau 7 tháng
tính từ khi mới nở ở kích thước 40 -51 mm (trung bình 43,9
mm) đối với con cái và 37 - 49 mm (trung bình 43,9 mm)
đối với con đực.
- Tập tính sinh sản: Trong mùa sinh sản, Ốc thường kết cặp
vào chiều tối và ban đêm trước khi đẻ trứng. Tinh trùng của
con đực theo ống dẫn tinh qua gai giao cấu chuyển sang cơ
thể con cái và giữ lại trong buồng thụ tinh. Trứng thành
thục giai đoạn 4 theo ống dẫn trứng ra buồng thụ tinh và tại
đây gặp tinh trùng và được thụ tinh trước khi đẻ ra ngoài.
Ốc đẻ lần lượt từng bọc trứng và chúng thường vài chục
bọc trong một lần đẻ. Ốc di chuyển dần sau mỗi lần đẻ một


Hình 43. Hình thái của bọc trứng Ốc Hương
A. Bọc trứng mới đẻ , B. Bọc trứng đang nở

- Mùa vụ sinh sản: Ốc Hương có khả năng thành thục
quanh năm. Tỷ lệ thành thục cao nhất đạt từ tháng 3 đến
tháng 10 (60 - 90%). Tháng 11 và tháng 12 tuy vẫn bắt gặp
các cá thể thành thục nhưng tỷ lệ thấp, không đáng kể. Ốc
Hương thường đẻ nhiều nhất vào những đêm thuộc kỳ triều
cường.
- Sức sinh sản: Ốc cái mỗi lần đẻ khoảng từ 18 -75 (trung
bình 38) bọc trứng. Mỗi bọc trứng chứa 168 -1849 trứng
(trung bình 743 trứng). Sức sinh sản tính trung bình cho
một con cái thành thục trong điều kiện tự nhiên là 56424
trứng/lần đẻ. Sức sinh sản trung bình cho một con cái thành
thục trong bể nuôi nhân tạo là 38677 trứng/lần đẻ.
f) Các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng
- Phát triển trong bọc trứng:Trứng thụ tinh có hình
cầu, đường kính trung bình 242 m. Phân cắt tế bào và
phôi kéo dài trong 48 giờ. Phôi vị dạng khối hơi dài, kích
thước trung bình 355 x 255 m. Sau 60 giờ phôi chuyển
sang giai đoạn ấu trùng quay (Trochophora). ấu trùng dài,
có vỏ mỏn và đối xứng hai bên; đĩa tiêm mao hai bên đầu
dày, tiêm mao ngắn, hoạt động quay yếu. Càng về sau vỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status