Tiểu luận:" Asean trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoan 1991-1995 " - Pdf 18

TRƯỜNG……………….
KHOA……………………
TIỂU LUẬN
Tên đề tài:
Asean trong chính sách đối ngoại của Việt
Nam giai đoan 1991-1995
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
.
MỤC LỤC
2
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Lời mở đầu:
Sau đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI năm 1986, Việt Nam đã tiến hành một
cuộc cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực đối ngoại. Đảng ta
chủ trương mở rộng, xây dựng mối quan hệ với các quốc gia và tổ chức kinh tế chính trị khác
nhau trên thế giới, trong đó không thể không nhắc tới ASEAN. Tuy mối quan hệ Việt Nam -
ASEAN từng trải qua nhiều giai đoạn, lúc đối đầu, khi hòa hoãn nhưng không thể phủ nhận
ASEAN luôn là một trong những đối tượng chính trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Có thể coi ASEAN như là một sân chơi quốc tế đầu tiên của Việt Nam, làm tiền đề cho việc
tham gia một loạt các tổ chức quốc tế sau này như APEC, WTO, Thời kì 1991-1995, là một
trong những thời kì quan trọng, đây là quãng thời gian mà Việt Nam chuẩn bị những điều kiện
cần thiết, vận động để chính thức trở thành thành viên chính thức của ASEAN. Vậy, chính
sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN thời kì này ra sao? Cơ sở của những chính sách đó
và triển khai trên thực tế như thế nào? Chúng ta đã thu được những thành tựu và những bài
học rút ra là gì? Bài tiểu luận sau sẽ đi sâu phân tích để làm rõ những câu hỏi ở trên.
Để cung cấp cho người đọc những hiểu biết, những thông tin chính xác nhất về thời kì
này, chúng tôi đã tiến hành thu thập và xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên,
do kiến thức còn hạn chế, trong quá trình thực hiện có thể còn nhiều thiếu sót, nhóm tôi
mong nhận được sự góp ý của giảng viên, và các bạn để bài tiểu luận sẽ hoàn thiệnhơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
3

vẫn chưa có quan hệ hợp tác với tổ chức này.
Từ năm 1979 đến năm 1986, vấn đề Campuchia xảy ra khiến cho mỗi quan hệ giữa
Việt Nam với ASEAN trở nên căng thẳng và dần chuyển sang đối đầu.
1
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007
4
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Tuy nhiên, Chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn khá mềm mỏng, kết hợp đấu tranh
với ASEAN về vấn đề Campuchia và triển khai đấu tranh ngoại giao. Gắn việc giải quyết vấn
đề Campuchia với việc xây dựng khu vực hòa bình ổn định ở Đông Nam Á, thúc đẩy đối
thoại để đẩy lùi sự đối đầu, phân hóa liên minh chống Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã
đưa ra một loạt các đề nghị về hòa bình và hợp tác ở Đông Nam Á tại 13 cuộc hội nghị Bộ
trưởng Ngoại giao 3 nước Đông Dương (1980-1986), tất cả các đề nghị trên đều không được
ASEAN chấp nhận.
Đại hội VI – Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định tiến hành đổi mới toàn diện trên
tất cả lĩnh vực, trong đó có đối mới tư duy đối ngoại. Việt Nam thực hiện chính sách đa dạng
hóa ngoại giao, đa phương hóa quan hệ. Việt Nam tỏ ý sẵn sàng hợp tác với các quốc gia khác
nhằm giải quyêt các vấn đề ở Đông Nam Á, chung sống hòa bình, xây dựng khu vực Đông
Nam Á ổn định và phát triển. Nhờ thế mà từ tháng 7/1986, mối quan hệ giữa Việt Nam và các
nước ASEAN chuyển dần sang thế đối thoại sau một thời gian dài căng thẳng về vấn đề
Campuchia.
Thời kì 1988-1991, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và cùng với hiệp định Paris về
Campuchia được kí kết vào tháng 10 năm 1991 đã chấm dứt tình trạng căng thẳng đối đầu
giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương, mở ra một thời kì hòa bình hữu nghị và hợp tác
ở khu vực. Quan hệ song phương Việt Nam – ASEAN nhờ thế mà phát triển hơn, Việt Nam
dần dần tham gia vào tiến trình hợp tác khu vực. Việt Nam kiên trì chính sách đàm phán để
giải quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ.
IV. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với ASEAN giai đoạn 1991-
1995.
1. Tình hình thế giới và quan hệ quốc tế.

phương và đa phương trước hết là để nhằm phục vụ lợi ích quốc gia. Đặc biêt, xu hướng liên
kết khu vực và tiểu khu vực để giải quyết những vấn đề khu vực, nhất là vấn đề về kinh tế
đang lan rộng khắp các châu lục.
2. Tình hình khu vực Đông Nam Á.
Đông Nam Á là khu vực có vị trí địa lí thuận lợi, thuộc khu vực châu Á- Thái Bình
Dương năng động. Đó là điều kiện thuận lợi để tất cả các quốc gia, đặc biệt là ASEAN, phát
triển và hội nhập cùng thế giới.
Trong thời kì hậu chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau khi Hiệp định Paris về vấn đề
Campuchia được kí, đã đặt ra cho ASEAN cả thuận lợi và thách thức mới . Nhiều cơ hội được
mở ra: lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á không còn căn
cứ quân sự và quân đội nước ngoài, không còn đối đầu, thoát ra khỏi các cuộc xung đột nảy
sinh từ các cuộc chiến tranh mang tính chiến lược và những bất đồng về hệ tư tưởng, để thực
hiện những nhiệm vụ cấp bách là thiết lập một nền hòa bình bền vững và lâu dài cũng như
6
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
vun đắp cho tình hữu nghị và thịnh vượng chung ở khu vực. Các quốc gia có điều kiện xây
dựng ASEAN ngày càng lớn mạnh, lại được nằm trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương
năng động, tiếp tục phát triển với tốc độ cao hơn các khu vực khác.
Tuy nhiên cũng không ít thách thức đối với cả khu vực. Những cố gắng nhằm đẩy
mạnh vai trò cả về chính trị, kinh tế, quân sự của một vài cường quốc châu Á đã làm phát
triển mối lo ngại truyền thống trong các nước ASEAN và các nước Đông Nam Á khác về một
nguy cơ can thiệp của các nước lớn đối với khu vực. Mặt khác vấn đề Campuchia chưa thật sự
chấm dứt, vẫn tồn tại nhiều nhân tố bất trắc tiềm ẩn dễ gây mất ổn định. Những nhân tố bất
trắc này chỉ chờ có dịp là bùng nổ. Ngoài ra cũng phải kể đến những mâu thuẫn về lợi ích
giữa các nước lớn có ảnh hưởng Đông Nam Á và những toan tính của họ nhằm tác động,
thậm chí can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực. Những thách thức đó buộc ASEAN phải
tìm ra một cơ chế an ninh phù hợp để gìn giữ được nền hòa bình vừa giành lại được ở khu
vực. Vì vậy, thách thức lớn nhất của ASEAN lúc này là vấn đề phát triển kinh tế, nhằm đảm
bảo được môi trường quốc tế thuận lợi, giữ được khu vực thị trường truyền thống và duy trì
tốc độ phát triển kinh tế cao của mình như đã từng có trong những thập kỉ trước.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông âu đã tác động sâu sắc
đến tư tưởng tình cảm của đảng viên và nhân dân ta, gây ra những khó khăn mới, đặc biệt
chúng ta phải chống lại nguy cơ “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động. Chúng ta
xác định lợi ích lớn nhất lúc này là duy trì hòa bình, ổn định khu vực, tạo dựng môi trường
quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tập trung sức lực và phát triển nền kinh
tế vốn bị chiến tranh tàn phá, cải thiện đời sống nhân dân đưa đất nước đi lên theo kịp với
nhịp độ phát triển chung của các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể nói, thách thức
lớn nhất của Việt Nam lúc bấy giờ đó là sự phát triển kinh tế. Việt Nam nằm ở khu vực có tốc
độ phát triển kinh tế vào loại cao nhất thế giới. Muốn hội nhập được xu thế chung của quốc tế
thì nguy cơ bị tụt hậu về kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Vì lẽ đó, chúng ta đã tăng
cường giao lưu hợp tác với bên ngoài, và nhất là ưu tiên phát triển quan hệ với các nước Đông
Nam Á và ASEAN.
4. Quan điểm và nhận thức mới của chúng ta:
Trước những biến động sâu sắc và phức tạp của cục diện thế giới, việc cần có sự đổi
mới về nhận thức, tỉnh táo phân tích đánh giá để đi tới nhận định một cách toàn diện và chuẩn
xác sự vận động của tình hình thế giới và khu vực là một việc làm quan trọng. Quá trình đổi
mới tư duy đối ngoại khởi xướng từ năm 1986 là một quá trình lâu dài và liên tục. Quá trình
này phải luôn gắn chặt với hoàn cảnh thực tế, trên quan điểm nhìn nhận Việt Nam là một bộ
phận của thế giới, có sự gắn bó chặt chẽ và tác động sâu sắc với bên ngoài, mà trước hết là đối
với khu vực. Bởi lẽ do yếu tố địa-chính trị mà số phận của nước ta gắn liền với khu vực và
2
Nghị quyết 13, Bộ Chính trị, năm 1988.
8
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
cũng chính việc gắn bó hòa bình tốt đẹp với khu vực thì chúng ta mới cơ hội để hội nhập với
quốc tế.
4.1. Về an ninh quốc gia:
Nghị quyết 13 của Bộ Chính Trị năm 1988 đã tạo tiền đề cho cách tiếp cận mới về an
ninh. Đó là “kinh tế yếu kém, bao vây về chính trị, và cô lập về kinh tế là những đe dọa chính
đối với an ninh và độc lập của nước ta”

Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
nên tiền đề để chúng ta hướng sự tập trung trong chính sách của mình đối với ASEAN, trong
việc chia sẻ lợi ích chung và góp phần xây dựng hòa bình ổn định ở khu vực Đông Nam Á.
4.3. Về tầm quan trọng đối với việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng, khu vực
và đặc biệt là ASEAN:
Bắt đầu từ công cuộc đổi mới, đảng và nhà nước đã đánh giá đúng đắn tình hình thế
giới, những yêu cầu đặt ra đối với đất nước để đề ra đường lối đối ngoại phù hợp, hướng vào
láng giềng nhiều hơn.
Với sự biến chuyển của thế giới sau chiến tranh lạnh, chúng ta nhận thức được xu thế
liên kết khu vực đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, với tư cách là giải pháp hợp tác để hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa và quan hệ giữa các nước lớn vì vậy chúng ta
nỗ lực đẩy mạnh xây dựng quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng. Hòa vào xu thế bày,
chúng ta sẽ vừa tận dụng được tiềm năng của mình, cũng như tận dụng được tiềm năng của
từng quốc gia có quan hệ; vừa tranh thủ được cơ hội mới do quá trình khu vực hóa đem lại, lại
vừa ứng phó với những thách thức mới nảy sinh, đồng thời sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng hội
nhập với thế giới cũng như tạo dựng một khu vực hòa bình ổn định mà điều này lại rất cần
thiết cho chúng ta trong việc thúc đẩy quá trình xây dựng đất nước.
Việt Nam đã thấy khoảng cách về kinh tế đối với ASEAN, khả năng tụt hậu rất lớn
nếu không mở rộng quan hệ. ASEAN là một tập hợp những nước nhỏ và vừa, có xuất phát
điểm gần giống Việt Nam, đã vươn lên thành những nước có nền kinh tế phát triển nhất khu
vực. Hợp tác chặt chẽ với ASEAN sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng đuổi kịp và hòa nhập với
sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vuc. Bên cạnh đó ASEAN có tiếng nói chung và
vai trò ngày càng tăng trên thế giới, là tổ chức khu vực duy nhất trên thế giới đã có mối quan
hệ chặt chẽ và cơ chế đối thoại thường xuyên với nhiều nước công nghiêp phát triển. Việc
phát triển hợp tác Việt Nam-ASEAN sẽ giúp tăng vị trí cũng như vai trò của Việt Nam trên
trường quốc tế, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam đi vào hợp tác với các nước
công nghiệp phát triển và các trung tâm chính trị lớn trên thế giới, tạọ thuận lợi cho việc tham
gia cơ chế hợp tác lớn hơn ở khu vưc châu Á-Thái Bình Dương, góp phần thực hiện thành
công công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước và phục vụ cao nhất lợi ích dân tộc đó là hòa
bình, phát triển đất nước.

hiện nhiệm vụ này. Đó chính là hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của ta. Quan hệ láng
giềng là một thách thức tự nhiên, người ta có thể chọn bạn nhưng không ai được chọn láng
giềng; giữa các nước láng giềng thường có các vấn đề lịch sử, có khi nặng nề. Dù có các vấn
đề địa lý – lịch sử như vậy thì các nước láng giềng, trong khu vực vẫn có thể và phải sống hòa
hiếu với nhau, không nhất thiết phải đối đầu hoặc đối địch.
Đề ra được nhiệm vụ và hướng ưu tiên chính sách, từ đó Đảng ta đã xác định tư tưởng
chỉ đạo, cũng như phương châm hoạt động đối ngoại. Hội nghị trung ương 3 khóa VII khẳng
định tư tưởng chỉ đạo trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là: “ giữ vững nguyên tắc vì
4
Chính sách đối ngoại năm giai đoạn 1975 đến 2006, trang 67.
11
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù
hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế
giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ”. Như vậy, cũng như đối
với mọi đối tác trong quan hệ đối ngoại, đối với các nước trong khu vực, Đảng ta đã khẳng
định rằng dù cần phải thúc đẩy mối quan hệ nhưng cần phải giữ vững được lập trường chủ
nghĩa xã hội, và trên hết là ngày càng củng cố nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được
không lâu, đó là nền tảng để từ đó vạch ra những kế sách linh hoạt kịp thời trong bước ngoặt
to lớn trong lịch sử kinh tế - chính trị thế giới lúc bấy giờ.
Xác định rõ tư tưởng chỉ đạo cốt lõi, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992 đã cụ
thể hóa thành các phương châm lớn, không chỉ để làm kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại
nói chung, mà còn cần phải áp dụng thiết thực trong các sách lược đối với khu vực. Thứ nhất,
đó là đảm bảo lợi ích dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế. Thứ hai, giữ vững
độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đẩy mạnh đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
Thứ ba là cần phải nắm vững, đó là trong quan hệ quốc tế nắm vững hai mặt hợp tác và đấu
tranh, bởi hòa nhập vừa là cơ hội, vừa là thách thức của thời đại, chúng ta không thể né tránh.
Cuối cùng, nhưng rất quan trọng đó là đẩy mạnh hợp tác khu vực, đồng thời tăng cường hợp
tác với tất cả các nước khác. Đó là hai phạm vi hòa nhập không thể tách rời mà ta cần phải đạt
được.

Triển khai đường lối, chính sách đối ngoại trên, chúng ta đã tạo được mối quan hệ tốt
đẹp với ASEAN, tạo tiền đề lớn để chúng ta từng bước trở thành thành viên của ASEAN.
Ngày 11-7-1992 tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 25, Việt
Nam chính thức tham gia Hiệp ước than thiện Đông Nam Á (Hiệp ước Bali) và trở thành quan
sát viên của ASEAN. Việc Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali thể hiện cam kết của VN với
những nguyên tắc được Việt Nam nêu năm 1976 trong chính cách bốn điểm, làm tăng sự tin
cậy của các nước với Việt Nam, góp phần phá thế bao vây cấm vận của Mỹ.
Thực tế việc Việt Nam muốn tham gia vào ASEAN thể hiện rất rõ từ đầu thế kỉ XX
qua các chuyến viêng thăm dồn dập của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực, mối quan
hệ giữa 2 bên đã phát triển nhanh chóng.
Trên lĩnh vực ngoại giao, thực hiện chủ trương của Đại hội VII của Đảng Cộng sản
VN, từ cuối năm 1991 đầu năm 1992 Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lần lượt đi thăm tất cả các
nước ASEAN như Indonexia, Xingapo, Thái Lan, Malaixia… để thúc đẩy phát triển quan hệ
song phương. Với tư cách là quan sát viên của ASEAN, từ năm 1992 VN đã được mời tham
dự các cuộc họp hằng năm Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN. Năm 1993 Việt Nam tham
gia diễn đàn khu vực ASEAN(ARF).
Các quan hệ kinh tế và thương mại cũng phát triển nhanh chóng. Chỉ trong 2 năm Việt
Nam đã kí với các nước này gần 40 Hiệp định: hiệp định về hợp tác kinh tế, khoa học- kĩ
thuật, hiệp định về bảo hộ đầu tư, hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, hiệp định về bưu điện, hàng
không, hàng hải… Ở thời điểm này các nước ASEAN đã tiêu thụ và tái xuất một khối lượng
lớn hàng xuất khẩu của Việt Nam, và đầu tư trực tiếp của họ cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn
trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Trên các lĩnh vực khác, vào năm 1993 ASEAN đã mời Việt Nam tham gia các chương
trình và dự án hợp tác trên 5 lĩnh vực: khoa học- kĩ thuật, môi trường, y tế, văn hóa- thông tin,
phát triển xã hội cùng một số dự án hợp tác chuyên ngành: đào tạo cán bộ du lịch, phòng ngừa
13
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
ma túy… Điều này chứng tỏ ASEAN đánh giá cao thiện chí của Việt Nam và muốn Việt Nam
sớm gia nhập ASEAN.
Tại hội nghị Bộ trưởng ngoại giao lần thứ 27 tại Bangcoc diễn ra từ ngày 22 đến 23-7-

7
Phạm Gia Khiêm , ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
14
Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Đối với tổ chức ASEAN, việc Việt Nam gia nhập cũng tạo điều kiện xây dựng một tổ
chức mang tính chất đại diện, khẳng định vị thế của khu vực trên trường quốc tế và trong mối
quan hệ với các tổ chức châu lục khác.
Như vậy, Việt nam gia nhập asean là “một mũi nhọn, là một giải pháp, chiến lược phá
thế bao vây cấm vận”
8
trong giai đoạn trước năm 1995 và tăng cường quan hệ với các nước
lớn. Cuối cùng thì việc Việt Nam gia nhập ASEAN – ước mơ về một khu vực Đông Nam Á
đoàn kết, thống nhất hợp tác cùng phát triển đã trở thành hiện thực.
VIII. Bài học.
Qua quá trình hoạch định chính sách trong giai đoạn này, ta có thể rút ra một số bài
học sau đây.
Phải luôn cố gắng tìm mẫu số chung về lợi ích, tranh thủ có quan hệ bình thường và
hòa hiếu với tất cả các nước lớn. Với tư tưởng làm bạn với mọi nước, ta cố gắng gắn lợi ích
của ta với lợi ích các nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi. trên cơ sở đó ta xây dựng quan
hệ hòa hiếu, quan hệ hợp tác với các nước lướn trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có
lợi. nhìn lợi ích dân tộc, trước hết phải suy tính lợi ích muôn đời, không vì vài lợi ích trước
mắt hoặc cục bộ mà ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài. Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, xóa bỏ
những thù hận, bất đồng trong quá khứ, đẩy lùi những ráo cản khác biệt về văn hóa hay ý thức
hệ tất cả là vì mục tiêu dân giàu nước mạnh
Nắm vững lợi ích dân tộc, giữ vững lợi ích độc lập tự chủ, nắm chắc quyền tự quyết định vận
mệnh, không chịu sức ép của bất cứ dân tộc nào, không để bị biến thành bất cứ con bài của ai.
Quan hệ với các nước láng giềng, kể cả các nước trong cùng khu vực phải được coi là
nhiệm vụ chiến lược, là mối quan tâm hàng đầu trong chính sách đối ngoại. ông cha ta đã nói
bán anh em xa mua láng giềng gần. Chúng ta không được xem nhẹ quan hệ này bởi vì nó luôn
trực tiếp ảnh hưởng tới hòa bình, an ninh, và phát triển của nước ta.

Tham gia ASEAN, Việt Nam đã chủ động hội nhập khu vực, tăng cường giao lưu trên
các lĩnh vực giáo dục, văn hóa. Đó là sự thành công trong đường lối đối ngoại của đảng và
nhà nước. Song việc hội nhập tuy mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều
thách thức, vẫn còn bề bộn nhiều việc cần làm, cần nhận thức đầy đủ.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status