1
Tiểu luận
Tìm hiểu chính sách tỷ giá của Việt Nam từ 1997 - 2011.
Liên hệ với chính sách tỷ giá của Thái Lan, Trung Quốc
2 CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
1.1 Khái quát chung về tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
- Khái niệm: Tỷ giá đo lường giá của một đơn vị tiền tệ của 1 quốc gia hay khu vực
bằng đơn vị tiền tệ của quốc gia hay khu vực khác, hay chúng ta có thể hiểu, nó là
mức giá tại đó mà đồng tiền của một quốc gia/khu vực có thể chuyển đổi sang
đồng tiền của quốc gia hay khu vực khác
- Phương pháp yết giá
Theo quy ước thống nhất, đồng tiền đứng trước gọi là đồng yết giá và đồng
đứng ở vị trí thứ 2 gọi là đồng định giá.
Đồng tiền yết giá là đồng tiền thể hiện giá trị của nó thông qua đồng tiền định
giá
Đồng tiền định giá là đồng tiền dùng để xác định giá trị của đồng tiền yết giá
VD: USD/VND=20.680. Ở đây USD là đồng tiền yết giá còn VND là đồng
tiền định giá.
Có 2 phương pháp yết giá: Yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp
tình hình biến động của tỷ giá trong ngày đó.
+ Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá của chuyến giao dịch ngoại hối đầu tiên trong một
ngày.
- Nếu căn cứ vào phương thức giao nhận ngoại hối:
+ Tỷ giá giao nhận ngay: Tức là tỷ giá áp dụng khi bán ngoại hối thì được nhận
tiền ngay vào ngày hôm đó hay trong vòng hai ngày làm việc sau đó.
+ Tỷ giá giao nhận có kì hạn: Là tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng mua bán
ngoại hối được ký kết hôm nay nhưng việc thực hiện giao dịch được diễn ra tại
một thời điểm xác định trong tương lai
4
1.1.3 Tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế
- Tỷ giá tác động tới cán cân thương mại:
Tỷ giá ảnh hưởng đến mức giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và
hàng hóa trên thị trường quốc tế. Trong điều kiện mức giá bán hàng hóa là không
đổi, khi tỷ giá giảm ( đồng nội tệ tăng giá), hàng hóa nhập khẩu trở nên rẻ tương
đối và hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt tương đối so với hàng hóa nước ngoài. Vì
vậy điều này dẫn đến việc hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu dẫn đến
kết quả là xuất khẩu ròng giảm.
- Tỷ giá gây ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát.
Tỷ giá thay đổi làm thay đổi mức giá cả tương đối giữa hàng hóa trong nước và
hàng hóa nước ngoài. Điều này tác động đến cầu trong nước và cầu nước ngoài
đối với hàng hóa. Cầu thay đổi tác động đến giá cả hàng hóa và ảnh hưởng đến
lạm phát
- Với sản lượng và việc làm:
Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi TGHĐ
tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này
giúp phát triển sản xuất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm thất nghiệp, sản lượng
quốc gia có thể tăng lên và ngược lại.
- Đối với đầu tư quốc tế:
với hàng nhập khẩu, điều này khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu, Cầu về
ngoại tệ tăng lên, cung ngoại tệ giảm xuống dẫ đến đồng ngoại tệ tăng giá, tức là tỷ
giá hối đoái tăng.
+ Thay đồi Chênh lệch về lãi suất: khi lãi suất của đồng nội tệ tăng so với lãi suất
của đồng ngoại tê, nhà đầu tư sẽ chuyển từ việc nắm giữ đồng ngoại tệ sang đầu tư
vào đồng nội tệ, cầu nội tệ tăng dẫn đến đồng nội tệ lên giá, tỷ giá hối đoái giảm.
+Thay đổi chênh lệch mức thu nhập: Trong trường hợp thu nhập của người dân
trong nước tăng, nhu cầu mua hàng hóa nước ngoài tăng, điều này dẫn đến tăng cầu
về ngoại tệ, kết quả là đồng ngoại tệ lên giá hay tỷ giá hối đoái tăng lên.
+ Thay đổi trong kiểm soát và can thiệp của chính phủ: Ví dụ như thuế quan và
hạn mức nhập khẩu là những công cụ mà chính phủ dùng để điều tiết và hạn chế nhập
khẩu. Khi chính phủ tăng thuế của hàng nhập khẩu, điều này làm tăng giá của hàng
6
nhập khẩu lên, cầu về hàng nhập khẩu giảm dẫn đến cầu ngoại tệ giảm, đồng ngoại tệ
giảm giá, tỷ giá hối đoái giảm.
+Thay đổi trong kỳ vọng về tỷ giá: Đứng trước thông tin tỷ giá hối đoái sẽ thay đổi
do chính phủ chuẩn bị thay đổi mức thuế quan với hàng nhập khẩu hoặc mức lạm
phát thay đổi thì nhu cầu nắm giữ đồng ngoại tệ cũng thay đổi dẫ tới sự thay đổi tỷ
giá.
1.3 Chính sách tỷ giá:
1.3.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá:
- Kn:Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ dùng để tác động tới cung cầu
ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những
mục tiêu cần thiết.
- Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Cân bằng nội và cân bằng ngoại là hai nhóm mục tiêu cơ bản mà chính sách tỷ giá
cuối cùng phải hướng đến .Tuy nhiên trong giai đoạn nhất định nào đó , chính sách tỷ
giá cũng có thêm những mục tiêu cụ thể như : thường xuyên xác lập và duy trì mức tỷ
giá cân bằng , duy trì và bảo vệ giá trị đồng nội tệ, tiến tới thực hiện đầy đủ chức năng
quốc gia được phân chia thành 8 nhóm như sau:
Nhóm 1: Hệ thống tiền tệ không có đồng tiền pháp định riêng (Exchange
arrangement with no separate legal tender): Đây là chế độ tỷ giá của những
nước không sử dụng đồng tiền bản tệ riêng của quốc gia mình mà sử dụng đồng
tiền của quốc gia khác làm đồng tiền pháp định duy nhất. Số nước áp dụng chế độ
này năm 2008 là 10 nước chiếm 5.32% trong đó tiêu biểu là Equador, El Savaldor
Nhóm 2: Neo cứng theo một đồng tiền mạnh (currency board) Đây là chế độ
tỷ giá theo đó một quốc gia cam kết bằng luật việc cố định tỷ giá của đồng nội tệ
với một đồng ngoại tệ nào đó. Các nước sử dụng chế độ tỷ giá này năm 2008 là 13
nước chiếm 6.91% trong đó tiêu biểu là Hồng Kông, Brunei, Bulgaria
Nhóm 3: Neo cố định ( conventional fixed peg arrangements) với một đồng
tiền (single currency), với một rổ đồng tiền (composite): Theo chế độ này, đồng
tiền của một quốc gia được neo tỷ giá trung tâm với một hoặc một rổ tiền tệ. Tỷ
giá vẫn có thể giao động trong một biên độ hẹp +_ 1% ít nhất trong 3 tháng,
8
NHTW sẵn sàng can thiệp để duy trì tỷ giá này, NHTW có thể điều chỉnh tỷ giá
trung tâm nhưng không thường xuyên. Năm 2008 số nước áp dụng chế độ tỷ giá
này là 68 chiếm 36.17% trong đó tiêu biểu là Nga, Jordan, Quatar
Nhóm 4: Neo trong biên độ ( pegged exchange rate within horizontal bands):
Neo tỷ giá trung tâm với đồng tiền khác theo một tỷ lệ cố định, biên độ dao động
lớn hơn +_1%. Năm 2008 có 3 (1,6%)nước áp dụng chế độ này trong đó tiêu biểu
là Seria
Nhóm 5: Neo tỷ giá có điều chỉnh (crawling peg) tỷ giá trung tâm được điều
chỉnh thường xuyên với các bước nhỏ theo các chỉ số định lượng như lạm phát .
Số nước sử dụng năm 2008 là 8 (4,26%) trong đó tiêu biểu là Trung quốc, Iraq
Nhóm 6: Neo tỷ giá với biên độ điều chỉnh ( crawling band) : Cho phép biên độ
được thay đổi trên +-1%, đồng thời tỷ giá trung tâm được điều chỉnh thường
xuyên theo các chỉ số định lượng như lạm phát. Năm 2008 có 2 nước sử dụng chế
độ này chiếm 1.06% gồm Costa Rica và Azerbajan
Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng trong
tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước đó không ổn định thì không nhất thiết
thực hiện được, bởi vì đối với vốn nước ngoài, vấn đề lúc đó đặt ra là sự đảm bảo an
toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thu được lãi nhiều.
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu. Nếu tình hình tiền
tệ của các nước đều đại thể như nhau thì phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng
vào những nước có lãi suất cao. Do đó, hiện nay, chính sách chiết khấu vẫn còn có ý
nghĩa của nó
b. Chính sách hối đoái hay còn gọi là Nghiệp vụ thị trường mở là biện pháp tác
động trực tiếp vào TGHĐ, có nghĩa là NHTW hay các cơ quan ngoại hối của Nhà
nước dùng nghiệp vụ mua bán trực tiếp ngoại hối để điều chỉnh TGHĐ.
Khi TGHĐ lên cao, NHTW tung ngoại hối ra bán để kéo TGHĐ tụt xuống. Muốn
thực hiện được biện pháp này, NHTW phải có dự trữ ngoại hối lớn. Song, nếu tình
hình thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế của một nước kéo dài thì khó có thể có
nguồn dự trữ ngoại hối lớn để thực hiện chính sách này.
10
Chính sách chiết khấu và chính sách ngoại hối đều dẫn đến mâu thuẩn giữa tập đoàn
tư bản trong nước, giữa thương nhân xuất khẩu muốn nâng cao TGHĐ lên với
thương nhân nhập khẩu muốn hạ thấp TGHĐ xuống, giữa nhà xuất khẩu vốn muốn
hạ thấp TGHĐ với nhà nhập khẩu vốn muốn nâng cao TGHĐ và mâu thuẩn giữa các
nước tư bản chủ nghĩa với nhau, vì tỷ giá của một nước nâng lên thì hạn chế nhập
khẩu hàng của nước khác nhưng lại khuyến khích việc xuất khẩu vốn của nước khác,
do đó, làm cho cán cân thương mại và cán cân thanh toán của nước ngoài đó với
nước thực hiện hai chính sách này bị thiệt hại.
c. Quỹ dự trữ ngoại hối: đây là một hình thức biến trướng của chính sách hối đoái,
mục đích của nó nhằm tạo ra một cách chủ động một lượng dự trữ ngoại hối để ứng
phó với sự biến động của TGHĐ, thông qua chính sách hoạt động công khai trên thị
trường.
Về nguyên tắc thì NHTW các nước không chịu trách nhiệm điều tiết sự biến động
Ví dụ: Tháng 12-1971, đôla phá giá 7,89%, tức là giá của một bảng Anh tăng từ 2,4
USD lên 2,605 USD hay là sức mua của USD giảm từ 0,416 GBP còn 0,383GBP.
Tác dụng của phá giá tiền tệ đối với nước tiến hành phá giá có thể là:
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, hạn chế nhập khẩu hàng hoá, do đó có tác dụng
khôi phục lại sự cân bằng của cán cân ngoại thương, nhờ vậy góp phần cán cân thanh
toán quốc tế.
- Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài cũng
như chuyển tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng làm tăng khả năng cung ngoại hối,
giảm nhu cầu về ngoại hối, nhờ đó TGHĐ sẽ giảm xuống.
- Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vì vậy quan
hệ cung và cầu ngoại hối bớt căng thẳng.
- Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền bị phá giá trong
tay.
- Tác dụng chủ yếu của biện pháp phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện tình hình của cán
cân thương mại.
12
Ví dụ: Do kết quả của phá giá bảng Anh 14,3% tháng 11-1967 nên trong năm 1986-
1969 sự thiếu hụt của cán cân thanh thương mại của nước Anh đã giảm đi rõ rệt và
trong hai năm 1970 và 1971 cán cân thương mại của Anh đã dư thừa 12 triệu bảng
Anh và 285 triệu bảng Anh.
Tuy vậy, tác dụng cải thiện cán cân thương mại có trở thành hiện thực hay không còn
phụ thuộc vào khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước tiến hành phá giá tiền tệ và
năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu của nước đó.
e. Nâng giá tiền tệ: là việc nâng sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ,
cao hơn sức mua thực tế của nó.
Đây là chính sách nhằm nâng giá chính thức đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại
tệ, tức là làm cho tỷ giá của ngoại hối so với tiền tệ nâng giá bị sụt xuống, tức là hạ
thấp tỷ giá hối đoái xuống.
Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nước hoàn toàn ngược
14
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1997 -2011
2.1. Chính sách tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 1997 – 1999
2.1.1. Bối cảnh kinh tế, chính trị
Đây là giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra ở khu vực Đông Nam Á,
điểm xuất phát là Thái Lan, sau đó lan nhanh khắp khu vực và có tầm ảnh hưởng rộng
khắp trên phạm vi thế giới, Việt Nam tuy không nằm trong tâm bão nhưng cũng không
tránh khỏi những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Xét trên góc độ vĩ mô, nền kinh tế
Việt Nam phải đối đầu với những cơn sốc rộng khắp trong các lĩnh vực như tài chính –
ngân hàng; ngoại thương; đầu tư; chính sách tài khoá; tăng trưởng kinh tế, dự trữ ngoại tệ
và nợ nước ngoài. Mặt khác, những hạn chế của chính sách tỷ giá hối đoái cố định thời
kỳ từ năm 1993-1997 đã trở nên trầm trọng khi cuộc khủng hoảng xảy ra và đặt chúng ta
T
ỷ lệ so sánh
giữa tỷ giá chính
thức và tự do
(%)
1997
11175
13780
81.10
1998
12980
13903
93.36
1999
14000
14650
95.56
2000
99.57
2004
15739
15790
99.69
2005
15875
15925
99.69
2006
16091
16070
100.13
2007
16114
18932
19500
97.08
31/12/2010
18932
20
800
91.02
Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước
[38]
Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn cơ chế tỷ
giá thả nổi có điều tiết. Chúng ta đã từ bỏ cơ chế tỷ giá cố định, theo đó, tỷ giá thị trường
16
được giao dịch quanh tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước (NHNN) công bố và một
biên độ được ấn định sẵn
- Trong 3 năm 1997 – 1999, tỷ giá chính thức USD/VND được điều chỉnh tăng từ
11175 đến 12980 và năm 1999 tăng đến 14000 với những thay đổi trong biên độ giao
động: tháng 10 năm 1997, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ (+) (-) 5% lên (+) (-
)10% rồi lại giảm xuống (+) (-)7%. Nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị
trường tăng mạnh. Mặc dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến
cố định và TGHĐ với biên độ điều chỉnh
2.2. Chính sách tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 2000 -2005
2.2.1. Bối cảnh kinh tế, chính trị
Trong giai đoạn này VN là một nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển. Kể từ khi
bắt đầu Đổi Mới, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7% một
năm. Với tốc độ tăng trưởng này Việt Nam được lấy làm một trong những “điển hình”
cho các quốc gia đang phát triển khác.
Đây là thời kỳ hậu khủng hoảng Đông Á. Ở những năm đầu của giai đoạn, nền kinh
tế vẫn còn chịu những ảnh hưởng nhất định từ hệ quả của cuộc khủng hoảng, các nguồn
lực từ bên ngoài giảm, kinh tế thiểu phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt dưới mức
trung bình của 10 năm trước đó (dưới 7%).
Từ năm 2003, với việc cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các định chế thị trường
tài chính và đặc biệt là chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa và nới lỏng tỷ lệ nắm giữ cổ
phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa
(từ 30% lên 49%), luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở lại và tăng trưởng mạnh
mẽ.
2.2.2. Chính sách tỷ giá giai đoạn 2000-2005
Quyết định số 64/1999/QĐ/NHNN và quyết định số 65/1999/QQĐ/NHNN ban
hành cơ chế điều hành tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, với
nguyên tắc cơ bản là tỷ giá được xác định theo cung cầu thị trường, có sự điều tiết của
nhà nước. Trong đó tỷ giá bình quân liên ngân hàng của ngày hôm trước được áp dụng để
các ngân hàng thương mại (NHTM) làm cơ sở xác định tỷ giá giao dịch trong ngày hôm
sau. NHNN quy định biên độ giao dịch cho phép trong từng thời kỳ và NHNN trực tiếp
18
can thiệp lên tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng để tác động lên tỷ giá bình quân liên ngân
hàng hàng ngày. Xét về măt lý thuyết đây là bước cải cách có bước ngoặt rất lớn vì nó
chuyển từ cơ chế tỷ giá xác định một cách chủ quan theo ý chí của NHNN sang một cơ
chế tỷ giá xác định khách quan hơn trên cơ sở cung cầu thị trường , đó là cơ chế thả nổi
ngoại tệ được giải quyết.
Để thấy rõ hơn về điều hành tỷ giá trong giai đoạn này, đề tài so sánh tỷ giá liên ngân
hàng với tỷ giá niêm yết của Vietcombank và tỷ giá trên thị trường tự do. Biểu đồ 2.3 và
2.4 cho thấy các ngân hàng luôn đứng trước sức ép về tỷ giá rất lớn, thể hiện ngân hàng
gần như luôn niêm yết đụng trần biên độ cho phép.
Biểu đồ 2.3: Biến động tỷ giá VND/USD từ 2003 – 2006
s
Sẽ là bình thường nếu niêm yết đụng trần mà tỷ giá trên thị trường tự do vẫn ở mức
tương đương. Điều này thể hiện cầu vẫn được đáp ứng bởi nguồn cung trên thị trường
Tuy nhiên, một lần nữa, thị trường cho thấy VND luôn trong sức ép giảm giá với USD
khi giá trên thị trường tự do luôn cao hơn tỷ giá niêm yết tại VCB, đặc biệt là trước quí 4
20
năm 2000. Từ sau quí 4 năm 2000, diễn biễn tỷ giá tại 3 thị trường luôn ở mức tương
đồng.
Tuy nhiên, so với giai đoạn trước, cơ chế xác định tỷ giá mới đã góp phần tập trung
lượng ngoại tệ vào ngân hàng, nhờ đó giúp các NHTM đáp ứng nhu cầu hợp lý của các
doanh nghiệp, tình hình căng thẳng ngoại tệ được giải quyết. Đồng thời tỷ giá trong giai
đoạn này là khá ổn định xoay quanh mức 16000.
2.2.3. Tác động của chính sách tỷ giá
* Cán cân vãng lai.
Tình trạng của cán cân vãng lai (CCVL) trong giai đoạn này là thặng dư (2000-
2001). Tình trạng thặng dư của CCVL đi theo chiều hướng giảm dần với tốc độ giảm rất
nhanh, trung bình 78%/năm. Sang năm 2002, CCVL đột ngột chuyển sang tình trạng
thâm hụt rồi đạt đỉnh điểm của thâm hụt trong giai đoạn này vào năm 2003 (thâm hụt
1.931 triệu USD).
Đi sâu vào tình trạng từng khoản mục trong CCVL, có thể thấy, thành phần quyết
hụt, ngược lại cán cân chuyển giao vãng lai một chiều luôn thặng dư.
- Cán cân vốn
Cán cân vốn của Việt Nam trong giai đoạn này bao gồm 3 bộ phận là Đầu tư trực tiếp
(FDI), đầu tư gián tiếp (FII) và đầu tư khác (OI). Cán cân vốn trong giai đoạn này đóng
vai trò tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai, tuy nhiên, tình trạng thặng dư của cán cân
vốn lại không ổn định mà rất biến động dưới tác động từ các bộ phận của nó.
Đầu tư trực tiếp (FDI): như mọi nước đang phát triển khác, FDI chiếm tỷ trọng lớn
khá lớn và mang tính ổn định trong cán cân vốn với qui mô trung bình mỗi năm là 1,480
triệu USD và tốc độ tăng trung bình trong giai đoạn là 6%/năm.
Biểu đồ : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ 2000 – 2006
22 Đầu tư gián tiếp (FPI) chỉ được ghi nhận lần đầu tiên trên cán cân thanh toán của
Việt Nam vào quí 4 năm 2005 khi thị trường chứng khoán Việt Nam bùng nổ thu hút sự
quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài (115 triệu USD) và khi chính phủ Việt Nam phát
hành 750 triệu USD trên thị trường chứng khoán New York. Do chỉ mới phát sinh nên
chưa thể đánh giá mức biến động của dòng vốn này, tuy nhiên, kinh nghiệm từ các quốc
gia khác cho thấy, chiếm tỷ trọng lớn trong FPI thường là đầu tư vào thị trường chứng
khoán, do vậy, đây là dòng vốn rất nhạy cảm với tình hình kinh tế của quốc gia nói chung
và sự biến động của tỷ giá nói riêng.
Biểu đồ: Biến động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) vào Việt Nam 2001 – 2009 Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước
23
Phần còn lại của của cán cân vốn, OI, bao gồm các khoản tín dụng ngắn và dài hạn.
Có thể thấy được rằng, với đa phần của khoản mục thuộc về tiền gửi ngân hàng, và tín
Permanent Normal Trade Relations) Việt Nam – Hoa Kỳ chính thức được thiết lập
và ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO là
những thay đổi hứa hẹn về một nền kinh tế thị trường bước đầu hội nhập.
24
Gia nhập WTO mang tới những cơ hội và thách thức mới cho Việt Nam khi hội nhập
kinh tế quốc tế: thị trường xuất khẩu mở rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với
các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế, tạo điều kiện thu hút đầu tư
nước ngoài…. Trong năm 2007, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt, đạt
20,3 tỷ USD (năm 2006 là 12 tỷ USD), vốn đầu tư gián tiếp khoảng 5,3 tỷ USD, vốn
ODA cam kết tài trợ 5,4 tỷ USD, và kiều hối cũng xấp xỉ 8 tỷ USD.
Cuối năm 2007, nền kinh tế thế giới bắt đầu bước vào giai đoạn suy khoái kéo
dài mà nguyên nhân bắt nguồn từ 2 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ( bắt đầu từ
Mỹ) và khủng hoảng nợ công châu Âu ( bắt đầu tư Hy Lạp 2010)
2.3.2.Diễn biến chính sách tỷ giá
Chế độ tỷ giá trong giai đoạn này vẫn là neo với biên độ điều chỉnh. Cụ thể là từ
cuối 2006, công cụ biên độ dao động bắt đầu được điều chỉnh với tần suất cao hơn và
với chiều hướng gia tăng cho đến đầu năm 2009. Sau đó, từ tháng 11/2009, biên độ
dao động bắt đầu giảm xuống ± 3%, rồi ±1% vào năm 2011. Ngày 11/2/2011, lần đầu
tiên Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh mức tăng tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân
hàng lên 9,3%. Đây là mức điều chỉnh mạnh nhất trong lịch sử qua một lần điều
chỉnh, gần với cả mức tăng của cả một năm trong những năm gần đây. Bước đi đột
phá này nhằm kéo giá USD trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do sát lại
gần nhau.
Số quyết định Ngày hiệu lực Tỷ giá BQLNH
BĐDĐ
được phép
65/1999/QĐ-NHNN 25/02/1999 ±0,10%
679/2002/QĐ-NHNN 01/07/2002 ±0,25%
không kì hạn khoảng 700 triệu USD. Cần lưu ý là quỹ dự trữ ngoại hối của VN năm
2009 khoảng 14 tỉ USD. Việc buộc kết hối đã ko làm hài lòng các tập đoàn, tuy nhiên,
vì các tập đoàn đã được hưởng nhiều ưu đãi từ chính sách hỗ trợ lãi suất 4% trong gói
kích cầu số 1 của chính phủ nên đây là nghĩa vụ của họ trong việc cân đối ngoại tệ,
bình ổn tỉ giá trong nền kinh tế. Thật vậy, ngay khi ý tưởng buộc các tập đoàn kết hối,
tình trạng găm giữ chờ ngoại tệ lên giá của các tổ chức trong nền kinh tế giảm đáng
kể. theo vụ quản lí ngoại hối, từ 11 đến 17/11/2009 trước khi chính phủ ban hành văn
bản 2578 doanh số giao dịch liên ngân hàng đạt mức 2,03 tỉ USD tương đương 406
triệu USD/ ngày, tăng trung bình 580 triệu USD so với tuần trước đó. Việc làm này đã
góp phần hạn chế căng thẳng ngoại tệ và kiềm chế sự biến động của tỉ giá.