Tiểu luận tài chính quốc tế trình bày thực trạng thị trường vàng thế giới – việt nam từ 2008 – 2011 bình luận giải pháp quản lý thị trường vàng ở việt nam trong giai đoạn này - Pdf 18

1
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Trình
bày thực trạng thị trường vàng thế giới –
Việt Nam từ 2008 – 2011. Bình luận giải pháp quản
lý thị trường vàng ở Việt Nam trong giai đoạn này

2
1.

Quan điểm về vàng: Vàng vừa là hàng hóa, mà vàng cũng là vừa là
tiền.

các NHTW còn tác động đến hoạt động cho vay, hoán đổi và các công cụ phái sinh khác.
Hầu hết các NHTW đều phải báo cáo lượng vàng dự trữ họ đang nắm giữ cho Quỹ Tiền
Tệ Thế Giới IMF vào cuối mỗi tháng. Tuy nhiên có một số NHTW mà lượng vàng họ
nắm giữ không dùng vào mục đích dự trữ nên sẽ không báo cáo cho IMF.
Lượng bán vàng cam kết của các NHTW: hiệp ước CBGA gồm 2 giai đoạn từ năm 1999
đến 2004 và từ 2004 đến 2009, các NHTW đã ký cam kết “Hiệp Ước Bán Vàng Của Các
Ngân Hàng Trung Ương” giai đoạn 2 vào 8/3/2004,bao gồm các NHTW của EU, Thụy Sĩ
và Thụy Điển đồng ý giới hạn lượng vàng bán ra của họ trong vòng 5 năm bắt đầu từ
28/9/2004, các thành viên hiệp ước đồng ý cam kết khối lượng bán tối đa là 2500 tấn. Tuy
nhiên cho đến giờ lượng bán của họ thường không đủ như đã ký kết.
2.1.2. Lạm phát :
Giá vàng thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng của lạm phát
Trong thời kỳ lạm phát cao, tiền giấy mất giá người ta có xu hướng đầu tư vào vàng
4

để giữ giá trị tài sản, vàng là tài sản hữu hiệu để tích trữ và giá trị không tùy thuộc vào
sức khỏe bất kỳ nền kinh tế nào. Vàng là công cụ tài chính hữu hiệu để phòng ngừa lạm
phát. Thông thường để đối phó với tình trạng lạm phát tăng cao, thị trường có khuynh
hướng mua vàng với kỳ vọng giá trị tài sản sẽ không bị giảm sút .Các quỹ đầu tư, đầu cơ
cũng mua vàng với mục tiêu là sử dụng vàng như một phần tài sản đảm bảo giá trị quỹ
trong trường hợp lạm phát cao hay kinh tế suy thoái, giá chứng khoán sụt giảm….
2.3. Giá dầu:
Một quy luật bất thành văn trên thị trường từ trước đến nay là giá vàng thông
thường luôn luôn tăng gấp 10 lần so với giá dầu.Do giá dầu có khả năng tác động mạnh
đến lạm phát nên nó cũng sẽ tác động mạnh đến giá vàng.
2.4. Bất ổn địa - chính trị:
Khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, khủng bố, thiên tai… : là
các yếu tố tác động mạnh tới giá vàng. Vàng là nơi trú ẩn an toàn khi có bất ổn xảy ra !
2.5. Cung và cầu vàng vật chất:
Nhu cầu tiêu thụ: nhu cầu tích trữ, làm nữ trang, dùng trong công nghiệp…ngày một

này đã tạo nên cơ hội kinh doanh vàng thuận tiện, hiệu quả cao cho giới đầu tư và là một
trong những nhân tố tác động đến giá vàng tăng cao trong những năm gần đây.
Giới đầu cơ đang có nhiều động thái tác động nhiều đến giá vàng thế giới. Sự phân
tích kỹ hành động của giới đầu cơ có thể giúp ích cho hoạt động kinh doanh vàng.
Tâm lý người tiêu dùng bắt đầu quen với việc giá vàng tăng cao. Tâm lý đám đông
thường xuất hiện khi giá vàng tăng mạnh hay giảm mạnh.
Quá trình bảo hiểm của các nhà sản xuất vàng lớn: các công ty sản xuất vàng thường
có chiến lược bảo hiểm giá vàng cho số lượng vàng sản xuất theo kế hoạch trong tương
lai thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ như forward, option, tuy nhiên quá trình này
không phải lúc nào cũng được thực hiện mà tùy theo chu kỳ biến động giá vàng. Thường
thì khi giá vàng đang trong chu kỳ tăng mạnh thì các nhà sản xuất tính toán lại và hạn chế
việc bán trước lượng vàng sẽ sản xuất.
Giá kim loại khác như đồng, bạch kim,…cũng có tác động tới giá vàng theo tỷ lệ
thuận.
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng chung đến giá vàng thế giới và giá vàng trong
nước
6

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới:
- Sự biến động của giá đô la Mỹ - lãi suất tiền gởi của Mỹ.
- Sự biến động của giá dầu.
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế Mỹ.
- Một số chỉ số của nền kinh tế Mỹ.
Các yếu tố ảnh hưởng giá vàng trong nước:
- Giá vàng trên thế giới.
- Cung cầu của các nhà đầu tư và thị trường trang sức.
- Chính sách về vàng của các ngân hàng, công ty vàng bạc đá quý lớn.

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam
Giá vàng trong nước chịu ảnh hưởng của giá vàng thế giới và tỷ giá VND/USD với hai

3.

Số liệu biến động vàng ở thị trường Việt Nam.

Biểu đồ giá vàng trong 5 năm qua:

(Nguồn: giavanghomnay.com)
8
3.1 Diễn biến của giá vàng trong nước tại một số thời điểm năm 2008.
Quý I: giá vàng tăng liên tục từ đầu năm cho đến giữa tháng 3 từ mức
16,000,000-19,700,000VND/lượng. Đây là thời kỳ mà nhu cầu vàng vật chất trên thị
trường lên cao nhất khi các dịp lễ hội tập trung vào thời kỳ này (Tết Tây, Tết Nguyên
đán…), cùng với giá vàng quốc tế tăng chưa từng có và đạt mức giá kỷ lục vào giữa tháng
3 ($1032.20/Oz), thị trường nội địa chứng kiến giá vàng chạm mức
19,700,000VND/lượng trong ngày 17/3. Cũng trong quý này, con số nhập khẩu vàng
nguyên liệu của Việt Nam đã đạt mức kỷ lục khi lên đến 43 tấn vàng – đã bằng một nửa
khối lượng vàng nhập khẩu trong cả năm 2007. Đây là giai đoạn hiếm có trong lịch sử thị
trường vàng nội địa: khối lượng nhập khẩu cực kỳ lớn khi giá vàng quốc tế liên lục tạo
đỉnh mới, điều này được lý giải bởi nguyên nhân là tỷ giá USD/VND trượt mạnh vào giai
đoạn này từ mức trên 16,000 trở về mức khoảng 15,500.
Quý II: giá vàng biến động trong biên độ giá từ 17,000,000-
19,400,000VND/lượng, đây cũng là giai đoạn mà thị trường vàng nội địa giao dịch khá
sôi động cùng với hàng loạt sự kiện liên quan trực tiếp đến sự biến động giá vàng. Tỷ giá
USD/VND tăng liên tục từ mức 16,100-19,400, vượt hơn 3,300VND mỗi USD so với
mức giá trần theo quy định, NHNN quyết định tăng thuế nhập khẩu vàng từ mức 0.5% lên
đến 1% vào đầu tháng 5, tăng biên độ giao dịch USD/VND từ 1% lên 2% vào cuối tháng
6. Hoạt động nhập khẩu vàng thời kỳ này thu hẹp lại với các chính sách hạn chế nhập


Năm 2009 chứng kiến sự xuất hiện liên tiếp những mốc giá vàng chưa từng
có trong lịch sữ, đồng thời cũng ghi nhận những biện pháp can thiệp tích cực nhằm bình
ổn thị trường của ngân sách Nhà nước.

Trong 3 quý đầu năm 2009, giá vàng đã đi ngang trong biên độ rộng, dù có
thời điểm quay trở lại trên mốc 1.000 USD/ounce. Lý giải cho điều này, là khi đó chưa ai
biết được khủng hoảng sẽ kéo dài bao lâu và khi nào là đáy, do đó giới đầu tư chưa hoàn
toàn mạnh tay đổ tiền vào thị trường kim loại quý này. Trong khi đó, giai đoạn 9 tháng
đầu năm cũng chưa đến mùa vàng vật chất.

Thị trường vàng chỉ thật sự tăng mạnh trong quý 4/2009 và dấu mốc quan
trọng nhất của thị trường vàng trong năm qua có lẽ là việc phá vỡ mức kỷ lục 1.033
USD/ounce vào ngày 6/10, cũng như việc thiết lập mức kỷ lục mới tại 1.226,5
USD/ounce vào ngày 2/12.

Việc đồng USD liên tục mất giá đã khiến các ngân hàng trung ương muốn đa
dạng hóa kho dự trữ ngoại hối bằng cách mua vàng. Trong khi đó, một phần trong kế
hoạch bán ra 403 tấn vàng của IMF cũng đã tìm được chủ nhân. Những yếu tố này đã
khiến thị trường đạt mức kỷ lục cao nhất moi thời đại tại 1.226.

Nhưng kể từ mức kỷ lục đó, giá vàng đã sụt giảm liên tục và hiện tại rớt về
dưới 1.100 USD/ounce. Tuy nhiên, giá vàng đã không giảm đột ngột như lo ngại của các
nhà đầu tư. Do dòng tiền chảy vào thị trường vàng là dòng tiền dài hạn, không phải là
dòng tiền nóng, nên việc rút ra nhanh hay chậm sẽ còn tùy thuộc vào tình hình nền kinh
tế.
Năm 2009 cũng chứng kiến hoạt động mua vào mạnh mẽ của các quỹ đầu cơ
vàng, mà cụ thể là quỹ SPDR Gold Trust. Trong khi đó, các công ty khai thác vàng như
Barrick Gold cũng đẩy mạnh việc mua trở lại các hợp đồng phòng hộ giá đã ký trước đó
khi thấy giá vàng tăng mạnh mẽ.

.
12 Diễn biến giá vàng SJC trong năm 2010 (Nguồn:SJC)
Quý 4/2010, sự hỗn loạn trên thị trường vàng bắt đầu từ ngày 08/11/2010 khi
người dân đổ xô nhau đi mua vàng, phiên giao dịch ngày 09/11/2010 lịch sử, giá vàng lập
đỉnh cao chưa từng có. Giá vàng SBJ giao dịch ở mức 37,00 – 37,40 triệu đồng/lượng
(mua vào – bán ra). Giá vàng SJC ở mức 36,50 – 37,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng
Thăng Long ở mức 36,90 – 37,30 triệu đồng/lượng.
Giá vàng chốt ngày thấp hơn khoảng 800 nghìn đồng/lượng so với mức đỉnh 38,2
triệu đồng/lượng đã thiết lập trong ngày.
Tỷ giá đôla Mỹ tại một số điểm quy đổi ở Hà Nội trong ngày tại mức 21.000 –
21.200 đồng Việt Nam/USD (mua vào – bán ra), mức đỉnh cao được thiết lập trong ngày
là 21.500 đồng Việt Nam/USD.
Tại Hà Nội, có hiện tượng một số cửa hàng ngừng giao dịch ngoại tệ vì không còn
đôla để bán ra. Chênh lệch giữa giá mua và bán vàng nhiều lúc lên tới hơn 1 triệu
đồng/lượng. Đến cuối ngày kỷ lục 09/11, các doanh nghiệp kinh doanh vàng vẫn thận
trọng giữ mức chênh lệch lớn giữa giá mua và bán vàng, mức chênh lệch phổ biến từ
400.000-500.000 đồng mỗi lượng.
13

Cùng thời gian này năm 2009, giá vàng lập kỷ lục. Ngày 11/11/2009, giá vàng lên
kỷ lục 29 triệu đồng/lượng. Trưa ngày 11/11/2009, Ngân hàng Nhà nước công bố cho
phép nhập vàng, giá vàng hạ sâu xuống dưới 25 triệu đồng/lượng.
Chốt phiên giao dịch ngày 30/12/2010, giá vàng SJC ở mức 36,04 – 36,12 triệu
đồng/lượng. Giá vàng SBJ cuối ngày 30/12/2010 ở mức 36,07 – 36,10 triệu
đồng/lượng.
Như vậy so với cuối năm 2009, giá vàng SJC đã tăng 9,53 – 9,51 triệu đồng/lượng
(mua vào – bán ra).

dao động từ 37 – 38 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng thế giới quy đổi thì bước sang
nửa cuối năm 2011, kể từ tháng 7 giá vàng trong nước bắt đầu cao hơn giá vàng thế giới
quy đổi. Khoảng cách trên lệch đó vẫn tiếp tục kéo dài cho đến cuối năm 2011, bất chấp
các biện pháp bình ổn giá vàng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, nguyên nhân chính
yếu khiến giá vàng trong nước vẫn chưa “liên thông” với giá vàng thế giới là do NHNN
quá chú trọng đến việc sử dụng các công cụ quản lý hành chính mang tính tình thế chỉ có
tác dụng nhất thời như cho phép nhập khẩu vàng khi thị trường biến động mạnh, cho phép
ngân hàng được bán vàng huy động, hướng đến việc sử dụng vàng SJC như một thương
hiệu vàng miếng duy nhất 4. Thị trường vàng (TTV) thế giới thời gian qua.
16

Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, các hình thái tiền tệ
khác nhau đã ra đời và không ngừng phát triển nhằm đáp ứng, mở đường cho sự phát triển
của các nền kinh tế, thúc đẩy khu vực hoá, toàn cầu hoá. Các công cụ đầu tư cũng gia tăng
mạnh, với sự bùng phát của thị trường tài chính, thị trường hàng hoá cả về qui mô và tốc
độ luân chuyển.
Tuy nhiên, bất ổn và rủi ro cũng có xu hướng gia tăng. Một mặt, tiền dấu hiệu (giấy
bạc ngân hàng, tiền đúc lẻ, tiền điện tử…) thiếu cơ sở ổn định vững chắc và thực tế luôn
chịu các áp lực giảm giá (do thâm hụt ngân sách của các Chính phủ và các vấn đề chính
trị, xã hội, tiêu cực,…). Tốc độ lưu chuyển tiền tệ ngoài ngân hàng nhanh, cộng với sự
tinh vi, phức tạp của các sản phẩm đầu tư đi kèm với các rủi ro tiềm ẩn, khó lường.
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998 và gần đây hơn là khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2007 là các minh chứng cụ thể. Trong bối cảnh như vậy, vai trò của vàng với tư cách
của một công cụ tiền tệ, một công cụ đầu tư đã phát triển mạnh mẽ.
Thứ nhất: phải kể đến việc cất trữ, bảo toàn giá trị tài sản trước các rủi ro tiền tệ
của các chế độ tiền danh nghĩa.
Trước các áp lực mất giá của tiền ngân hàng, đặc biệt là sự mất giá của USD trong thời

nền kinh tế Châu Á và tâm lý chuộng sử dụng vàng trang sức của khu vực này, đặc biệt là
Trung quốc, Ấn độ. Bên cạnh đó nhu cầu vàng phục vụ sản xuất cũng tăng mạnh cùng với
sự bùng nổ của các ngành công nghiệp ứng dụng, sự phát triển của ngành nha khoa. Cũng
theo WGC, trong 9 tháng đầu năm 2010, nhu cầu vàng phục vụ sản xuất tăng 19% so với
cùng kỳ năm trước. Đóng góp vào tổng cầu vàng, còn có nhu cầu đầu cơ vàng, gắn liền
với xu thế tăng giá vàng. Hệ quả là, tổng cầu vàng có xu hướng tăng mạnh, vượt so với
tổng cung vàng khoảng 3% năm 2010, kéo dài chuỗi tăng giá vàng trong vòng 10 năm
liên tiếp.
Thứ ba: Mức độ sinh lợi từ đầu tư vàng tương đối cao so với các sản phẩm đầu tư
khác, trong khi mức độ rủi ro thị truờng tương đối thấp.
Giá vàng liên tục tăng và mức tăng lên tới 29% trong năm 2010, đưa vàng trở thành một
kênh đầu tư có khả năng sinh lời cao hơn nhiều so với các kênh đầu tư khác, khi chỉ số
hàng hóa S&P Goldman Sachs tăng 20%, chỉ số S&P 500 tăng 13%, chỉ số MSCI của Thị
trường chứng khoán thế giới (không tính thị trường Mỹ) tăng 6% (tính theo USD) và chỉ
số tổng hợp trái phiếu chính phủ Mỹ Barclays tăng 5,9%
(iii)
.
Báo cáo của WGC cũng cho thấy, bên cạnh khả năng sinh lời cao, đầu tư vàng còn
hấp dẫn bởi mức độ biến động của giá vàng ở mức tương đối thấp, 16,1% trong suốt cả
năm 2010, mức biến động thấp nhất trong số các hàng hoá thuộc phạm vi giám sát của
18

WGC, thấp hơn đáng kể so với mức biến động giá của các loại hàng hóa thuộc S&P
Goldman Sachs Commodity Index là 21% (tính theo giá giao dịch hàng ngày).
Thứ tư: TTV thế giới phát triển mạnh mẽ.
Thập kỷ qua, TTV thế giới đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Ngoài đầu tư
vàng thỏi, vàng đúc (vàng vật chất), các hình thái đầu tư vàng hiện đại đã phát triển mạnh,
cho phép các tô chức, cá nhân tiếp cận, tham gia vào TTV dễ dàng hơn. Các hình thức
đầu tư đáng quan tâm là các quỹ kinh doanh vàng (ETFs), đầu tư qua tài khoản, sản phẩm
phái sinh vàng, cổ phiếu của các công ty khai thác vàng…, trong đó các sản phẩm ETPs

giao dịch sôi động nhất trên thị trường thế giới.
Giao dịch trên TTV trong nước hiện nay là mua – bán kinh doanh vàng vật chất và
huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá, cho vay vàng chế tác, kinh doanh trang
sức. Các giao dịch diễn ra đơn lẻ, không có sàn giao dịch tập trung. Trước đó, kinh doanh
vàng qua tài khoản cũng diễn ra rất sôi động với mức ký quĩ thấp (7%) trên các sàn giao
dịch đơn lẻ trong nước, do một số ngân hàng, công ty/tổ chức kinh doanh vàng thành lập,
quản lý; một số NHTM cũng được kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài.
Từ đầu tháng 7/2011 đến nay, giá vàng thế giới liên tục tăng cao, từ mức
1.494USD/oz (ngày 01/7/2011) đã lên mức kỷ lục 1.869USD/oz (ngày 19/8/2011).
Nguyên nhân của việc giá vàng thế giới tăng cao là do lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ
công tại Mỹ và Châu Âu, đặc biệt là việc Standard & Poor’s hạ mức tín nhiệm nợ công
của Mỹ đã khiến giá vàng thế giới từ ngày 8/8/2011 tăng mạnh.Cùng với biến động của
giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng đã tăng theo.Tuy nhiên, từ thời điểm đầu
tháng 7 đến đầu tháng 8, do nhu cầu vàng trong nước luôn ở mức thấp, tốc độ tăng của giá
vàng trong nước chậm hơn giá vàng thế giới, do đó, có thời điểm, giá vàng trong nước
thấp hơn giá vàng thế giới 700 – 800 nghìn đồng/lượng. Hiện tượng này là do chính sách
tiền tệ chặt chẽ đã tạo ra sức hấp dẫn trong việc nắm giữ tiền Đồng cho người dân,
khuyến khích người dân bán vàng lấy tiền gửi tiết kiệm. Do chênh lệch giữa giá vàng
trong nước và giá vàng thế giới, đã xuất hiện tình trạng xuất khẩu vàng biến tướng dưới
dạng vàng trang sức, mỹ nghệ. Trước diễn biến bất thường của thị trường vàng trong
nước, NHNN đã triển khai các biện pháp để bình ổn thị trường vàng, cụ thể:
20

- NHNN đã có công văn số 539/NHNN-QLNH.m ngày 08/8/2011 và số
565/NHNN-QLNH ngày 26/7/2011 gửi Bộ Tài chính đề nghị quy định giảm hàm lượng
vàng thành phẩm chịu thuế suất thuế xuất khẩu 10% nhằm ngăn chặn tình trạng xuất khẩu
vàng nguyên liệu biến tướng dưới dạng vàng trang sức, mỹ nghệ. Ngày 02/8/2011, Bộ Tài
chính đã ban hành Thông tư số 111/2011/TT-BTC, trong đó quy định sửa đổi thuế suất
thuế xuất khẩu một số mặt hàng vàng theo đề nghị của NHNN: áp thuế 10% đối với các
loại vàng thành phẩm có hàm lượng vàng từ 80% trở lên.

các mức giao động trên. Điều này cho thấy sự ổn định hơn của xu hướng đi lên đối với
giá vàng trong nước.

Thứ tư, sự phát triển của TTV trong nước đôi khi trái chiều với sự phát triển của
TTV thế giới. Trong khi TTV thế giới đang phát triển nhanh chóng, với các hình thái đầu
tư hiện đại, cho phép các nhà đầu tư tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng, với chi phí thấp hơn
nhiều so với đầu tư, kinh doanh vàng vật chất, thì TTV Việt Nam lại giới hạn ở các giao
dịch vàng vật chất và một số hình thái huy động, cho vay nhất định.
Những khác biệt này, ở những góc độ nhất định, đã có tác động không nhỏ tới vấn đề
quản lý tiền tệ, ổn định vĩ mô và huy động nội lực phát triển kinh tế -xã hội, đó là:
• Trước hết, trong bối cảnh giá trị đồng nội tệ thấp, áp lực mất giá lớn, thì sự gia
tăng mạnh giá vàng, với xu hướng chắc chắn sẽ làm tăng các động lực sử dụng vàng với
tính chất là một công cụ tiền tệ, cho tất cả các mục đích cất trữ, dự phòng, định giá và
thanh toán, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam, với các qui định vàng khá thông thoáng
(Trung Quốc mới nơi lỏng quyền sở hữu vàng cá nhân cách đây 3 năm), gây khó khăn
22

cho việc quản lý tiền tệ của các cơ quan chức năng. Việc tăng mạnh gía vàng và sử dụng
vàng cho các mục đích tiền tệ sẽ đội giá của các mặt hàng được mua – bán, thanh toán
bằng vàng, gây sức ép không nhỏ tới lạm phát trong nền kinh tế. Một khi thiếu cơ chế
quản lý vàng với tính chất là một công cụ tiền tệ trong trường hợp này sẽ khó có thể đạt
được các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, đặc biệt với xu hướng giá vàng đang
và sẽ còn diễn biến phức tạp.
• Định hướng TTV vào các giao dịch vàng vật chất đơn lẻ sẽ có tác động tiêu cực
nhất định tới sự phát triển của TTV trong nước, tới việc khơi thông nguồn lực này cho
phát triển kinh tế xã hội.
• Quản lý TTV trong nước thoát ly với TTV thế giới còn chứa đựng các động cơ,
những hành vi không đúng đắn (mua bán, xuất nhập lậu, đầu cơ). Duy trì chênh lệch giá
vàng trong và ngoài nước cũng sẽ tạo ra các nhóm lợi ích cục bộ, gây méo mó tới các
quyết định cơ chế, chính sách có liên quan.

của TTV vào sự phát triển của đất nước. Kinh nghiệm cho thấy, để một thị trường phát
triển lành mạnh không có nghĩa để thị trường phát triển tự do, nhưng cũng không thể chỉ
bằng các giải pháp hành chính, nhất là trong bối cảnh hội nhập. Những biến động mạnh
của giá vàng và sự đi trước của giá vàng trong nước so với giá vàng thế giới vừa qua một
phần là hệ quả của việc bỏ ngỏ thị trường (không có công cụ pháp lý điều tiết) và việc áp
dụng một vài giải pháp điều hành mang tính chất hành chính. Do vậy, nhanh chóng hòan
thiện khuôn khổ pháp lý cho TTV, điều tiết các chủ thể bằng các công cụ và hàng rào kỹ
thuật trên thị trường. Liên quan tới các công cụ, các loại hình hoạt động trên thị trường,
cần có lộ trình phát triển từng bước, phù hợp với điều kiện và trình độ quản lý cụ thể của
đất nước. Khung pháp lý nên định hướng nguyên tắc thị trường có quản lý của Nhà nước
vì các biện pháp hành chính chỉ có tác động tức thì, nhưng tiềm ẩn các hành vi lách luật,
hoạt động ‘chui”, trong khi chi phí theo dõi, giám sát là rất lớn. Và để quản lý được cung,
cầu trên TTV, thì khung pháp lý phải đảm bảo rằng NHNN thực hiện được vai trò quản lý
cuối cùng trên TTV, tức là phải thực hiện quản lý tập trung các đầu mối hoạt động kinh
doanh vàng. Đồng thời, NHNN cần có các công cụ đủ quyền lực để có thể can thịêp khi
có các biến động quá mức trên thị trường.
Thứ ba, liên thông TTV trong nước và thế giới trên cơ sở nới lỏng có kiểm soát hoạt
động xuất nhập khẩu (XNK) vàng.
24

XNK vàng nên được quản lý theo nguyên tắc thị trường, thay vì quota như hiện nay. Việc
áp dụng quota luôn tiềm ẩn các hoạt động XNK vàng lậu, không thể kiểm soát được và
thất thoát nguồn thu cho Nhà nước. Do không kiểm sóat được lượng vàng XNK nên sẽ
không có thông tin chính xác về cung – cầu vàng trong nền kinh tế. Xoá bỏ cơ chế quota
XNK vàng, thì chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế (sau khi đã cộng các chi phí
nhập khẩu) cũng sẽ bị loại bỏ.
Liên quan tới thuế XNK vàng cũng không nhất thiết phải áp thuế nhập khẩu với
mục đích hạn chế nhập vàng, giảm áp lực lên cầu ngoại tệ, vì khả năng tái tạo ngoại tệ của
vàng rất cao. Thực tế, quí I/2009, Việt Nam đã có xuất siêu nhờ xuất siêu vàng. Thuế xuất
khẩu vàng cũng nên được cân nhắc ở mức phù hợp, khuyến khích việc khơi thông đầu ra,

- Về sản xuất vàng miếng: NHNN là cơ quan tổ chức hoặc cấp phép sản xuất vàng
miếng. Về nguyên tắc, đây là hoạt động hạn chế kinh doanh và cần được quản lý chặt chẽ.
Do đó, tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế trong từng thời kỳ, NHNN sẽ tổ chức sản xuất hoặc
cấp phép cho doanh nghiệp sản xuất vàng miếng nhưng sẽ rất hạn chế.
- Về lưu thông vàng miếng: NHNN chỉ cho phép một số doanh nghiệp và TCTD có
kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng được thực hiện mua bán vàng miếng với tổ
chức, cá nhân nhằm thu hẹp đầu mối, tạo điều kiện thuận lợi đối với việc quản lý hoạt động
mua bán này.
- Về xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu: NHNN là cơ quan tổ chức hoặc cấp phép hoạt
động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu.
- Về sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ: NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố
cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp sản xuất, gia công vàng
trang sức, mỹ nghệ. Riêng hoạt động gia công nhỏ lẻ của cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã
không cần xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện mà được thực hiện theo Giấy chứng nhận
đăng ký hộ kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Về mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ: Tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh mua,
bán vàng trang sức, mỹ nghệ phải thành lập doanh nghiệp và đáp ứng đủ một số điều kiện
theo quy định tại Nghị định nhưng không cần xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status