Tiểu luận tài chính quốc tế Bộ ba bất khả thi và tính ổn định trong những hình mẫu điển hình trong kinh tế vĩ mô - Pdf 26


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài:
Bộ ba bất khả thi và tính ổn định trong những
hình mẫu điển hình trong kinh tế vĩ mô
Giảng viên HD : ThS.ĐINH THỊ THU HỒNG
Nhóm TH : Nhóm 12
Lớp : Đêm 5
Khóa : 23
Hệ : Cao Học
TP.HCM, T2/2015
MỤC LỤC
DẪN NHẬP
Bài viết này nghiên cứu những chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế. Sử dụng
phương pháp hình học đơn giản để đo lường bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế
mở cổ điển, chúng tôi giới thiệu một phương pháp đo lường đơn biến mới để đo
lường sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế.
Chúng tôi cũng mô tả những chỉnh hợp các chính sách kinh tế vĩ mô quốc
tế xét về mặt hiện tượng bên ngoài cho đến những chính sách điển hình đáng tin
cậy, và chúng tôi sử dụng giả thiết hạn chế của bộ ba bất khả thi để đưa ra một
tiêu chuẩn đánh giá mới về tính độc lập của chính sách tiền tệ.
Áp dụng những phương pháp đo lường này dựa trên những dữ liệu của
Bretton Woods, chúng tôi nhận ra rằng sự kết hợp chính sách kinh tế vĩ mô quốc
tế ổn định kém nhất là sự kết hợp giữa chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt và thị
trường tài chính mở. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng hầu hết các quốc gia thể hiện
mức độ độc lập của chính sách tiền tệ cao hơn trước. Tiêu biểu là những đất nước
pha trộn mức độ trọng yếu của chính sách tiền tệ độc lập với cả hai chính sách tỷ
giá hối đoái cố định và chính sách tài chính mở. (Mở rộng ra, hầu hết các quốc gia

ổn định hơn trong việc thực hiện chính sách linh hoạt tiền tệ và thị trường vốn mở
không? (câu trả lời là có), liệu dự trữ ngoại hối có liên quan đến sự ổn định chính
sách ổn định không? (có, đến mức độ nào, ngoại trừ giữa những nước nghèo). Để
kiểm tra những điều này và các câu hỏi liên quan này, chúng tôi giới thiệu một
phương pháp mới đo lường sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô theo thời gian.
Phương pháp mới của chúng tôi bắt đầu với các dạng hình học đơn giản
của bộ ba bất khả thi. Chúng ta có thể xem xét những chính sách kinh tế vĩ mô
quốc tế của một quốc gia theo những vị trí trong không gian ba chiều, 3 chiều đó
được xác định gồm : tỷ giá hối đoái cố định, tự do tài chính và chính sách tiền tệ
độc lập. Theo đó, sự thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế của một quốc
gia được đo lường bằng sự di chuyển (khoảng cách) từ điểm này đến điểm khác
trong không gian chính sách ba chiều. Ở đây, chúng tôi đánh giá mức độ ổn định
chính sách kinh tế vĩ mô của một quốc bằng cách sử dụng mức độ thay đổi theo
thời gian. Cụ thể, cả tính ổn định hay không ổn định đều được đo lường bằng
khoảng cách giữa những vị trí liên tục trong không gian chính sách. Một chính
sách kinh tế vĩ mô quốc tế ổn định được xác định là một sự dịch chuyển tương đối
nhỏ trong không gian chính sách, trong khi sự dịch chuyển lớn trong không gian
chính sách đại diện cho chính sách không ổn định.
Chúng tôi cũng cung cấp một phương pháp đo lường mới về sự độc lập
trong chính sách tiền tệ. Phương pháp đo lường mới này xuất phát từ hạn chế của
bộ ba bất khả thi : bộ ba bất khả thi hạn chế tính độc lập trong chính sách tiền tệ
để đổi lấy sự ổn định tỷ giá và công khai tài chính. Đưa ra biện pháp giúp ổn định
tỷ giá và tự do tài chính, hạn chế của bộ ba bất khả thi sinh ra một cách đo lường
ngầm về tính độc lập trong chính sách tiền tệ. Phương pháp đo lường mới này
cung cấp một lựa chọn khác so với các phương pháp đo lường chuẩn hiện nay,
dựa trên sự tương quan giữa lãi suất của một quốc gia và lãi suất của một quốc gia
cơ sở.
Trong phần tiếp theo của bài viết này, chúng tôi giới thiệu một phương
pháp lường mới về tính ổn định. Sau đó chúng tôi sử dụng cách đo lường này để
đánh giá sự ổn định của chính sách bộ ba bất khả thi của 177 nền kinh tế trong

dùng quy tắc vectơ này. Khi sử dụng các quy tắc này, chúng ta định nghĩa, cách
đo lường đơn biến để điều chỉnh mức giảm giữa số không và một :
Quy tắc điều chỉnh này được áp dụng trong phạm vi sự thay đổi bộ ba bất
khả thi của chính sách kinh tế vĩ mô.
Hình này minh họa phương pháp đo lường sự ổn định của chính sách. Con
số hiển thị hai điểm dữ liệu cơ bản dưới một quan sát đơn của các chỉ tiêu điều
chỉnh, ni, t. Các mẫu quan sát được lấy từ Indonesia tại thời điểm cuộc khủng
hoảng châu Á (i = Indonesia, và t = 1997), và các dữ liệu cơ bản là từ Aizenman,
Chinn và Ito (2010), mà chúng tôi thảo luận chi tiết hơn trong phần tiếp theo. Như
được biết đến, Indonesia đã trải qua một sự giảm đáng kể trong sự ổn định tỷ giá
hối đoái và giảm nhỏ trong tự do hóa tài chính trong cuộc khủng hoảng, trong khi
đó có sự tăng một cách đáng kể trong sự độc lập của chính sách tiền tệ. Những
thay đổi này được chỉ báo bởi các vector thể hiện ở các quan sát trong năm 1996
và cho năm 1997. Chiều dài của vectơ được chuẩn hóa để đo lường sự thay đổi
trong tổng thể của bộ ba bất khả thi. Sự thay đổi trong
1. Chúng tôi sử dụng chaaurn Euclidean (Sau đây, trong bài nghiên cứu này gọi là “chuẩn”)
2. Cung cấp một đánh giá đơn biến của sự thay đổi đa biến trong chính sách, phương pháp đo
lường mới của chúng tôi theo Girton và Roper (1997) đo lường “áp lực của thị trường ngoại
tệ”. Trong khi các biện pháp cổ điển thiếu chuẩn rõ ràng, giải thích hình học, nó cung cấp
ban đầu, hỗn hợp đơn biến của chính sách ngoại hối.
3. Nghiên cứu này sử dụng điểm mới của chúng tôi, biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền
tệ, cũng được mô tả dưới đây.
4. Tọa độ DesCart (Si;t; Fi;t;Mi;t) là (0.66, 0.94, 0.4) trong năm 1996 và (0.11, 0.88, 1.0) trong
năm 1997. Nên ni;t = 0:578.
tổng thể chính sách của bộ ba bất khả thi năm 1997 là khoảng năm lần so với giá
trị của Indonesia hồi đầu thập kỷ và nó vượt quá (bằng lãi đáng kể) 95% của giá
trị trong mẫu.
Nhìn chung, quy tắc vectơ này tóm tắt những thay đổi tổng thể trong các
chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế khi áp dụng bộ ba bất khả thi. Dưới đây, chúng
tôi sử dụng tiêu chuẩn (điều chỉnh giảm giữa không và một) để kiểm tra sự ổn

(2004) cung cấp chỉ số de jure trên cơ sở dữ liệu của IMF về hạn chế tài khoản vốn, nhưng dữ
liệu của Miniane chỉ có giá trị tại ba mươi quốc gia. Một sô nước khác có liên quan, chỉ số de
jure đã phát triển nhưng không có sự kết họp giữa sự giải thích dễ dàng và phạm vi rộng mà
Chinn và Ito cung cấp. Thay thế tự nhiên là sử dụng dòng vốn thực tế như phương pháp de facto
và các biện pháp tài chính mở rộng. Tuy nhiên, dòng chảy thực tế là khá ổn định từ kỳ này sang
kỳ khác, sự không ổn định phản ánh chính xác những thay đổi chậm trong các chính sách cơ bản
mà chúng tôi quan tâm ở đây.
Table 1: Trilemma Stability: Initial Adjusted Norm
Mean Max Min St. Dev Obs
Ho
Low Income Economies 0.12 0.72 0.00 0.12 1018 0.59
Middle Income Economies 0.14 0.76 0.00 0.13 2254

5.58(***)
High Income Economies 0.11 0.67 0.00 0.09 1372 5.58(***)
All (Low, Middle and
High)
0.13 0.76 0.00 0.12 4644 -
Emerging Economies 0.16 0.76 0.00 0.13 620

8.11(***)
Ghi chú : Ở đây, ổn định Bộ Ba bất khả thi được tính cho 177 quốc gia 1971-2008 sử dụng dữ
liệu từ Aizenman, Chinn và Ito (2010), những người đã sử dụng biện pháp tiền tệ của
Shambaugh (2004). Nhóm thu nhập được lấy từ Ngân hàng Thế giới (1/ 2011), tại
www.worldbank.org, và nhóm mới nổi lấy từ Chỉ số thị trường vốn quốc tế mới nổi Morgan
Stanley (không kể Đài Loan do dữ liệu không có sẵn). Cột cuối cùng cho thấy giá trị t-statistic ,
giả định rằng mức trung bình của nhóm thu nhập có lien quan bằng với phần còn lại của thế
giới. Ba dấu hoa thị chỉ ra rằng kiểm định thống kê là có ý nghĩa không thể biểu thị ở dạng %
Và nó cũng cung cấp số liệu thống kê cho một loại thị trường mới nổi được
lấy từ chỉ số thị trường vốn quốc tế các nước mới nổi của Morgan Stanley. Cột

phương pháp này, mặc dù tính độc lập của tiền tệ có thể chứng minh như Canada,
nhưng lãi suất lại có liên quan chặt chẽ với cư dân Mỹ. Do giá trị danh nghĩa nên
cách tiếp cận này sẽ dẫn đến sai lệch rằng Ngân hàng Canada bị hạn chế bởi các
chính sách của Cục Dự trữ Liên bang. Các nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như
Frankel, Schmukler, và Serven (năm 2004), cùng thời với Giáo sư Shambaugh),
và Reade và Volz (2008), cung cấp các biện pháp liên quan về tính độc lập của
tiền tệ cho phép những liên kết động giữa các mức lãi suất của các nước. Tuy
nhiên, ngay cả những biện pháp tổng quát hơn, cuối cùng cũng phụ thuộc vào lãi
suất thả nổi, vì vậy họ có thể có những hạn chế tương tự (7)
7
Ba nghiên cứu khác gần đây đã có những bước đi quan trọng hướng tới việc giảm thiểu các vấn
đề. Duburcq và Girardin (2010) cho phép các điều kiện tiền tệ trong nước có ý nghĩa cho một
nghiên cứu của tám nước Mỹ Latinh hơn mười một năm. Bluedorn và Bowdler (2010) tách các
thành phần về kỳ vọng và không dự đoán được trong sự thay đổi lãi suất của quốc gia cơ sở (ở
đây là Mỹ)
Ở đây, chúng tôi giới thiệu một biện pháp thay thế tính độc lập của tiền tệ
mà không bị những hạn chế này, và chúng tôi sử dụng các biện pháp mới về tính
độc lập để điều chỉnh các tiêu chuẩn đo lường về sự ổn định, ni;t Biện pháp mới
của chúng ta về tính độc lập bắt đầu bằng cách lấy Bộ Ba bất khả thi một cách
nghiêm túc, chúng tôi giả định rằng Bộ Ba bất khả thi có giá trị. Với giả định đó,
các biện pháp hiện của sự ổn định tỷ giá, Si, t, và công khai tài chính, Fi, t, giúp
chúng ta có một biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền tệ, Mi; t. Đặc biệt, các
biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền tệ là :
M
i,t
= 2 – S
i,t
– F
i,t
Hình 3 cung cấp các biểu đồ mô tả cả hai biện pháp này : Biện pháp tiềm

biệt bảng này còn cung cấp các thử nghiệm liệu các định mức điều chỉnh trung
bình vẫn không đổi sau khi một số cuộc khủng hoảng quan trọng xảy ra trong mẫu
hay không : cuộc khủng hoảng Mexico (1994), cuộc khủng hoảng Đông Nam Á
(1997), và cuộc khủng hoảng Argentina (2002). Bảng này cũng chỉ ra rằng các
nhóm thu nhập khác nhau có kinh nghiệm rất khác nhau về vấn đề này. Đối với
các nước có thu nhập thấp, thể hiện trong dòng đầu tiên, chỉ có một số bằng chứng
nhỏ của một sự gia tăng nhỏ trong sự bất ổn sau cuộc khủng hoảng Mexico. Đối
với các nhóm còn lại, tất cả những thay đổi đáng chú ý đi theo hướng ngược lại:
theo hướng ổn định lớn hơn (giảm trong định mức). Nhìn chung đối với các nước
thu nhập trung bình, thể hiện trong dòng thứ hai, có một số bằng chứng cho thấy
một sự gia tăng nhỏ trong sự ổn định kể từ khi cuộc khủng hoảng Argentina.
Table 2: Norm using the Trilemma-Implied Monetary Sovereignty Measure
Mean Max Min St. Dev Obs
H
0
Low Income Economies 0.10 0.76 0.00 0.14 1218 1.53
Middle Income Economies 0.11 0.94 0.00 0.15 2664 —4.90(***)
High Income Economies 0.09 0.77 0.00 0.12 1500 3.57(***)
All (Low, Middle and
High)
0.10 0.94 0.00 0.14 5382 -
Emerging Economies 0.13 0.94 0.00 0.16 662 —6.32(***)
Ghi chú: Ở đây, quy tắc điều chỉnh được tính toán bằng cách sử dụng mới, hàm ý đo lường mức
độ độc lập tiền tệ cho mỗi quốc gia trong 177 quốc gia từ năm 1971-2008. Sự phân loại nhóm
thu nhập các nước lấy nguồn từ Ngân hàng Thế giới (Tháng 1/2011), có sẵn tại
www.worldbank.org, và nhóm các nước mới nổi lấy nguồn từ chỉ số thị trường vốn quốc tế mới
nổi của Morgan Stanley (ngoại trừ Đài Loan do dữ liệu không có sẵn). Cột cuối cùng báo cáo
giá trị của giả thuyết thống kê t cho rằng mức trung bình thu nhập của nhóm có liên quan tương
đương với phần còn lại của thế giới. Ba dấu hoa thị chỉ ra rằng kiểm định thống kê ở một mức
phần trăm.

khác nhau. Chúng tôi chỉ định các quan sát cho bốn loại sắp xếp dựa trên dấu hiện
bên ngoài của các quan sát thuộc một trong bốn mẫu : một mẫu là “Hồng Kong” -
với sự ổn định của tỷ giá hối đoái và thị trường vốn mở; một mẫu là “Trung
Quốc” - với sự ổn định của tỷ giá hối đoái và tính độc lập của tiền tệ, một mâũ là
“Mỹ” - với thị trường tài chính mở và tính độc lập của tiền tệ, và một mẫu
“Trung” - với một mức độ khiêm tốn của tất cả ba đặc điểm.
Chúng tôi sử dụng hình học đơn giản của bộ ba bất khả thi để mô tả các
loại sắp xếp chính xác hơn. Ký tự j = “Hồng Kông”, “Trung Quốc”, “Mỹ”,
“Trung”', chúng tôi xác định loại j là Rj chạy trên các giá trị : (1, 1, 0), (1, 0, 1),
(0, 1, 1), và (2/3,2/3,2/3). Mỗi giá trị trong bốn giá trị trên của Rj đại diện cho một
điểm được xác định trên đường biên có thể thực hiện được của bộ ba bất khả thi.
Ba điểm đầu tiên đại diện cho ba góc tương ứng với “Hồng Kông”, ''Trung Quốc”,
và “Mỹ” mô tả mẫu ở trên, và điểm cuối cùng đại diện cho mẫu “Trung” của
đường biên có thể thực hiện được. Sau đó, chúng tôi xác định quốc gia loại i trong
thời gian bởi điểm gần với một trong bốn điểm. Cụ thể hơn, chúng tôi cho :
Table 4: Number of Implicit Norm Values in the Last Decile by Income
Group
Year
Low Income
Middle
Income
High Income
All
Emerging
1971 9/26 12/48 9/29 30/103 4/15
1972 3/27 7/48 3/29 13/104 0/15
1973
8/27
12/50 13/30 33/107 2/15
1974

1997 3/34 14/89 4/47 21/170 6/20
1998 2/36 11/89 4/47 17/172 1/20
1999 3/37 13/89
4/47
20/173 2/20
2000 6/37 15/90 0/47 21/174 2/20
2001 4/36 9/88 5/47 18/171 4/20
2002 4/36 6/87 1/47 11/170 2/20
2003 4/37 8/88 2/47 14/172 1/20
2004 2/37 10/88 2/47 14/172 1/20
2005 2/36 6/88 1/47 9/171 1/20
2006 1/36 5/86 2/46 8/168 1/20
2007 3/33 4/83 2/46 9/162 1/20
2008 0/33 18/82
3/47
21/162 1/20
Total 113/1218 315/2664 110/1500 538/5382 90/662
(%) 9.3% 11.8% 7.3% 10.0% 13.6%
Ghi chú: Một quy tắc giá trị lớn là một giá trị trong các phân vị thập phân cuối trong mẫu quá
0,2789. Mỗi tử số cho biết số quy tắc đặc biệt trong các phần liên quan của mẫu, trong khi các
mẫu số cho biết số tương ứng của các các quốc gia.
j = arg
j
min║(R
i,t
- R
j
)║
type
i,t

các nền kinh tế. Đặc biệt, những chính sách kinh tế quốc tế ổn định kém diễn ra
khi những chỉnh hợp kinh tế vĩ mô quốc tế gần giống như hình mẫu của U.S,
khi tỷ giá hối đoái linh hoạt và thị trường tài chính mở. Giá trị trung bình của giá
trị chuẩn đã điều chỉnh cho hình mẫu này là 0.17, gần gấp đôi gái trị trung bình
của Trung Quốc, 0.09, và gần gấp ba lần giá trị trung bình của Hong Kong, 0.06,
ổn định nhất. Giá trị chuẩn trung bình của các nền kinh tế có thu nhập trung bình
là 0.12, nằm gần với trung điểm của dãy giá trị chuẩn. Khi không phải là ổn định
nhất trong các chính sách, lại có một ít ý kiến cho rằng chính sách theo kiểu của
các nền kinh tế trung bình không thể tồn tại. Biểu đồ 5 cho thấy một bức tranh
rộng hơn về tính ổn định thay đổi như thế nào qua thời gian của mỗi loại nền kinh
tế.
Table 5: Norm using the Trilemma-Implied Monetary Sovereignty Measure
Mean Max. Min. St. Dev. Obs. Ho
China Archetype 0.09 0.75 0.00 0.14 2251 5.43(***)
Hong Kong
Archetype
0.06 0.94 0.00 0.13 706 8.43(***)
U.S. Archetype 0.17 0.94 0.00 0.18 508 -10.68(***)
Mid Archetype 0.12 0.74 0.00 0.13 1917 —5.04(***)

Ghi chú: Cột cuối cùng báo cáo giá trị của t-thống kê cho một kiểm tra giả thuyết rằng giá trị
chuẩn trung bình của các mẫu bằng với những mẫu còn lại. Đơn, đôi, và ba dấu hoa thị biểu
hiện ý nghĩa thống kê tại các mức độ tương ứng là mười phần trăm, năm phần trăm và một phần
trăm.
Archetype: China Archetype: Hong Kong
Archetype: Middle Archetype: U.S.A
Figure 5: Archetypes: Norm
Bốn đồ thị biểu diễn gía trị chuẩn trung bình cho bốn loại hình mẫu. Mặc
dù có những đỉnh nhọn rõ ràng trong giá trị chuẩn của hình mẫu Trung Quốc và
Hong Kong trong thời kỳ khủng hoảng châu Á, những hình mẫu này, có tỷ giá hối

hối và 2 phương pháp đo. Phương trình hồi quy thứ hai cũng là hồi quy giá trị
chuẩn lên dự trữ ngoại hối nhưng thay vì bao gồm các thước đo ổn định tỷ giá hối
đoái và tự do tài chính thì nó bao gồm những biến giả cho hình mẫu kinh tế vĩ mô
quốc tế của nền kinh tế.
Cụ thể, hai phương trình hồi quy tuyến tính đó là :
Trong đó, là tỷ số của dự trữ chính thức và GDP, dấu gạch nganh thể hiện
giá trị trung bình mẫu và Dj là một biến giả type
i,t=
R
j
13
. Mỗi phương trình hồi quy
tuyến tính trên được ước lượng với những nhân tố ảnh hưởng không cố định,
11Để nhgiên cứu mang tính ngẫu nhiên cao nhất, quan sát nghiên cứu của

Kenen and Yudin
(1965) and Heller (1966). Ngoài ra còn có Hamada (1977) người đã mở rộng nghiên cứu của
Heller's; Frenkel and Jovanovic (1981), đã nhấn mạnh việc quản lý hàng tồn kho; Sachs, Tornell
và Velasco (1996) đã tàp trung nghiên cứu vào đầu cơ; Garcia và Soto (2004); Jeanne và
Ranciere (2011) nghiên cứu về tính dừng đột ngột; Aizenman và Marion (2004) đưa ra mô hình
vai trò của chính trị trong nước; Dominguez, Hashimoto và Ito (2011) nghiên cứu mối quan hệ
dự trữ và ổn định trong các cuộc khủng hoảng gần đây và đáng chú ý Aizenman, Chinn, và Ito
(2010) đã nghiên cứu được dự trữ đã được thay đổi như thế nào trong chính sách bộ ba bất khả
thi.
12 Dự liệu dự trữ lấy từ các chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới.
13 Ghi chú : kiểu trung được gộp như một hằng số trung kỹ thứ thứ hai.
nhân tố ảnh hưởng cố định của quốc gia, nhân tố ảnh hưởng về thời gian và
với cả nhân tố ảnh hưởng quốc gia và thời gian; và với tất cả các phương pháp hồi
quy, cả phương pháp hồi quy OLS đơn giản và các sai số chuẩn đều được trình
bày.

thu nhập thấp, phụ thuộc vào hình mẫu, dự trữ ngoại tệ lớn hơn thì biểu thị tính ổn
định chính sách bộ ba bất khả thi lớn hơn.
5.2 Những nền kinh tế có thu nhập trung bình và có thu nhập cao
Bảng 8 và 9 cung cấp kết quả cho những nền kinh tế có thu nhập trung
bình, và bảng 10 và 11 đưa ra kết quả cho những nền kinh tế có thu nhập cao.
Trong bảng 8, chúng ta thấy ở phương trình tuyến tính đầu tiên, những hệ số tính
ổn định trễ tỷ giá hối đoái là âm và có ý nghĩa thống kê đối với trường hợp các
nền kinh tế thu nhập trung bình. Ở phương trình tuyến tính thứ hai, các hệ số về
tất cả các hình mẫu trễ đều có ý nghĩa mạnh mẽ. Tính ổn định chính sách kinh tế
vĩ mô quốc tế lớn nhất ở những nước thu nhập trung bình được tìm thấy giữa các
hình mẫu Hong Kong, và mức độ ít hơn là ở các hình mẫu Trung Quốc. Do đó, sự
bất ổn định lớn nhất là ở các hình mẫu U.S.
Bảng 9 đưa ra các ước lượng Probit cho các nền kinh tế thu nhập trung
bình. Ở đó, chúng ta nhận thấy rằng trong phương trình đầu tiên có một ít ý nghĩa,
nhưng phương trình thứ hai xác nhận rằng chứng minh về hình mẫu U.S – hình
mẫu duy nhất với tỷ giá hối đoái thả nổi - là dạng chính sách ổn định thấp nhất.
Tóm lại, hai bảng này cho chúng ta thấy rằng ở những nước có thu nhập trung
bình, tính ổn định chính sách bộ ba bất khả thi cao nhất tồn tại ở những nước đó
với những điều luật tỷ giá hối đoái cố định.
Kết quả các nước thu nhập cao được chỉ ra ở hai bảng tiếp theo, tương tự
với kết quả của các nước có thu nhập trung bình. Như đã trình bày ở bảng 10 ước
lượng tuyến tính, những hệ số về tính ổn định tý giá hối đoái trễ, lại đều âm và
trong hầu hết các trường hợp, có ý nghĩa tại độ tin cậy chuẩn. Tính ổn định tỷ giá
hối đoái lại một lần nữa đưa ra tính ổn định hoàn toàn chính sách kinh tế vĩ mô
quốc tế lớn hơn tiếp theo đó. Trong phương tình tuyến tính thứ hai, những hệ số
của hình mẫu Hong Kong và Trung Quốc lại âm và có ý nghĩa. (Trong khi những
hệ số của hình mẫu U.S có ý nghĩa thống kê cho các nước thu nhập trung bình,
chúng không có ý nghĩa ở đây). Ở ước lượng Probit các nước thu nhập cao, được
chỉ ra ở bảng 11, các hệ số của hình mẫu Hong Kong và Trung Quốc cũng âm và
có ý nghĩa chặt chẽ. Với những nền kinh tế giàu có, bộ ba chính sách thì hầu như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status