BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
SỰ ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI
VÀ CÁC MẪU HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ QUỐC TÊ
Giảng viên : PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm : 7
Lớp : TCDN Đêm 3 _K22
Hệ : Sau đại học
Nhóm 7
SỰ ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI
VÀ CÁC MẪU HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ QUỐC TÊ
Tóm tắt
Bài nghiên cứu kiểm tra tính ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế. Việc
sử dụng mô hình hình học đơn giản cổ điển - bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế mở -
tác giả giới thiệu một thước đo đơn biến mới, đo lường sự ổn định của chính sách kinh
tế vĩ mô quốc tế. Tác giả sử dụng ràng buộc của bộ ba bất khả thi để xây dựng một
thước đo mới nhằm đo lường mức độc lập tiền tệ.
Sử dụng các thước đo trên cho dữ liệu thời kỳ hậu Bretton Woods, tác giả nhận
thấy rằng:
- Kết hợp chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế ít ổn định nhất chính là kết hợp giữa
chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt và hội nhập tài chính.
- Đa số các quốc gia độc lập tiền tệ ở mức độ nhiều hơn so với cách đo lường
trước đây (điển hình là các quốc gia theo kiểu chính sách trung hòa)
- Nắm giữ dự trữ ngoại hối chính thức lớn mang lại sự ổn định chính sách lớn
hơn ở các nước có thu nhập thấp. Tuy nhiên, điều đó không được tìm thấy ở các
nền kinh tế có thu nhập trung bình và thu nhập cao
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
2
Nhóm 7
1. Giới thiệu
Theo như lý thuyết bộ ba bất khả thi truyền thống, một quốc gia không thể đạt
được đồng thời ba mục tiêu: ổn định tỷ giá hối đoái, tự do thị trường tài chính, và độc
lập tiền tệ. Quốc gia ấy buộc phải lựa chọn giữa các mục tiêu này. Thực tế ở một số
nước gần đây cho thấy sự lựa chọn giữa các mục t iêu này không bao giờ là cuối cùng.
Cụ thể,
- Trung Quốc cho thấy độc lập tiền tệ có thể bị giảm sút;
- Braxin lại cho thấy, những rào cản đối với tự do tài khoản vốn có thể xuất hiện;
quan giữa lãi suất của một quốc gia và lãi suất của một quốc gia cơ sở (thường là Mỹ).
2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu:
Qua bài nghiên cứu này, tác giả đã vận dụng những nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu trước đó và có thể khái quát thành 3 vấn đề nghiên cứu chính như sau:
Thứ nhất: Xây dựng chỉ số n
i,t
, tác giả dựa vào :
- Girton and Roper’s (1977) – thước đo đo lường “sức ép thị trường ngoại hối”.
Thước đo ra đời rất sớm đo lường các chính sách hối đoái.
Thứ hai: Xây dựng th ước đo độc lập tiền tệ mới - hàm ý Bộ ba bất khả thi, tác giả
dựa vào:
- Shambaugh (2004) – xây dựng thước đo độc lập tiền tệ, bằng việc sử dụng
tương quan giữa lãi suất ngắn hạn của 1 nước so với lãi suất tương ứng của
nước cơ sở.
- Aizenma, Miniane (2004) – chỉ số de jure đo lường mức độ mở cửa của thị
trường tài chính, bằng cách sử dụng dữ liệu của IMF về hạn chế tài khoản vốn.
Tuy nhiên, dữ liệu của nghiên cứu này chỉ trong 30 nước.
- Chinn và Ito (2008) – thước đo de jure đo lường mức độ mở cửa của thị trường
tài chính, chủ yếu là số trung bình có điều chỉnh của các chỉ số về hạn chế hối
đoái của IMF.
- Aizenman, Chinn và Ito (2010) – thước đo de facto:
+ Đo lường tính ổn định của tỷ giá hối đoái, bằng cách sử dụng độ lệch chuẩn
hàng tháng của tỷ giá hối đối so với nước cơ sở.
+ Đo lường mức độ mở cửa của thị trường tài chính, bằng việc s ử dụng dòng
vốn thực.
- Frankel, Schmukler, và Serven (2004) và Reade và Volz (2008) – thước đo độc
lập tiền tệ, cho phép các liên kết động hơn giữa lãi suất ở các nước.
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
4
Nhóm 7
như thế nào với chính sách bộ ba bất khả thi…
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
5
Nhóm 7
4. Nội dung và các kết quả nghiên cứu
4.1. Xây dựng thước đo đo lường tính ổn định chính sách kinh tế vĩ mô tổng thể
của một quốc gia.
Để đo lường tính ổn định trong chính sách kinh tế vĩ mô tổng thể, tác giả đã vận
dụng chính sách bộ ba bất khả thi.
Gọi R
i,t
là chính sách của một quốc gia i trong thời gian t.
R
i,t
= (S
i,t
,
,
F
i,t
, M
i,t
)
Trong đó:
S
i,t:
sự
ổn định tỷ giá hối đoái (Aizeman xây dựng, sử dụng độ lệch chuẩn tỷ
giá hối đoái hàng tháng của một quốc gia v ới một nước cơ sở)
i,t-1
, F
i,t
– F
i,t-1
, M
i,t
– M
i,t-1
)
Thước đo hiệu chỉnh để đánh giá sự ổn định của chính sách – đó là độ dài vector
vector n
i,t,
nhận giá trị từ 0 đến 1:
n
,
=
||r
,
||
√2
.
Nếu n
i,t
càng tiến về 1 thì chính sách của quốc gia đó càng không ổn định.
Ví dụ: Tại Indonesia
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
6
Nhóm 7
i,t
:
M
i,t
= 2 - S
i,t
- F
i,t
Tác giả kiểm định thước đo mới này tại Canada và so sánh với thước đo cũ. Qua
Hình 3, ta thấy rõ sự khác nhau về kết quả thu được theo 2 cách tính của Helen (đường
nét liền) và Shambaugh (đường nét đứt). Với thước đo M
i,t
mới, cho kết quả trong năm
2007 và 2008 lần lượt là: 0.75 và 0.81 cao hơn so với thước đo cũ tính được trong năm
2007 và 2008 là 0.25 và 0.31.
Hình 3: Các thước đo độc lập tiền tệ.
Tác giả cũng sử dụng thước đo mới này thay cho thước đo cũ để kiểm chứng lại
sự ổn định trong chính sách của các nhóm thu nhập đã được kiểm định trước đó với
thước đo Shambaugh. Kết quả kiểm định được thể hiện trong bảng 2 và Hình 2.
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
8
Nhóm 7
Bảng 2: Độ dài vector sử dụng bộ ba bất khả thi- hàm ý đo lường độc lập tiền tệ
Hình 2: Độ dài vector theo nhóm thu nhập
Bảng 2 và Hình 2 mô tả tính ổn định chính sách bằng việc sử dụng các độ dài
vector điều chỉnh, được tính toán theo thước đo mới. Nhìn vào bảng ta thấy các trung
bình độ dài vector bây giờ đều thấp hơn, tuy nhiên chúng vẫn có ý nghĩa thống kê. Ở
các nước có thu nhập cao cho thấy chính sách kinh tế vĩ mô ổn định nhất (n
- Đối với nhóm tất cả các nước chúng ta có thể tự tin bác bỏ giả thuyết H
0
cho rằng trung bình độ dài vector của các mẫu là giống nhau qua hai cuộc
khủng hoảng gần đây.
- Đối với nhóm nước mới nổi, nhìn chung, tính ổn định có tăng, nhưng
bằng chứng cho thấy điều này đôi khi yếu hơn.
4.2.2. Các quan sát có tính bất ổn định chính sách lớn
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
10
Nhóm 7
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy đôi khi xuất hiện những quan sát
có sự thay đổi chính sách lớn. Chính vì vậy, tác giả tách riêng để nghiên cứu các quan
sát lớn này. Bảng 4 dưới đây mô tả mức độ xuất hiện bất ổn định chính sách lớn phân
theo từng nhóm nước.
Ở mỗi ô trong bảng 4, tử số là số quan sát lớn (số nước có bất ổn định chính sách
lớn), mẫu số là tổng số quan sát (tổng số nước). Một quan sát được định nghĩa là bất
ổn định chính sách lớn nếu độ dài vector điều chỉnh của nó có phân vị cuối trong mẫu
lớn hơn 0.2789.
Nhìn chung, kết quả này cũng tương tự như khi ta quan sát số trung bình độ dài
vector điều chỉnh trong (bảng 2), Các nước giàu nhất thì ổn định chính sách nhất, trong
khi các nước mới nổi ổn định chính sách ít nhất.
Bảng 4 cho thấy các nước giàu nhất thì có ít những thay đổi lớn trong chính sách
nhất (7,3%), trong khi đó, các nước mới nổi thì lại có nhiều thay đổi lớn trong chính
sách của mình nhất (13,6%).
Bảng 4: Các quan sát có sự tha y đổi chính sá ch lớn, theo từng nhóm nước
1971
33/107
2/15
1974
5/28
4/51
3/31
12/110
2/15
1975
2/27
4/49
5/31
11/107
0/15
1976
15/115
3/15
1979
1/26
8/53
4/36
13/115
3/15
1980
1/27
7/55
2/36
10/118
4/15
1981
16/131
5/15
1984
3/31
5/65
2/37
10/133
1/15
1985
1/33
7/66
1/37
9/136
3/16
1986
4/142
0/18
1989
0/35
6/71
1/39
7/145
1/18
1990
3/35
5/72
1/39
9/146
1/18
1991
18/147
2/18
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
11
Nhóm 7
1994
4/34
13/74
3/40
20/148
4/18
1995
7/33
10/75
0/40
17/148
11/89
4/47
17/172
1/20
1999
3/37
13/89
4/47
20/173
2/20
2000
6/37
15/90
0/47
21/174
8/88
2/47
14/172
1/20
2004
2/37
10/88
2/47
14/172
1/20
2005
2/36
6/88
1/47
9/171
18/82
3/47
21/162
1/20
T
otal
113/1218
315/2664
110/1500
538/5382
90/662
(%)
9.3%
11.8%
7.3%
10.0%
||(
,
−
)||
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
12
Nhóm 7
,
≝
.
Sử dụng cách xác định kiểu chính sách như trên, tác giả thống kê được số lượng
quốc gia theo từng kiểu chính sách qua mỗi năm, thể hiện ở hình 4.
- Nhìn tổng thể trong thời kỳ hiện nay, kiểu “Trung Quốc” là phổ biến nhất
- Tiếp đó là kiểu “Trung hòa”. Số nước có kiểu “Trung hòa” gia t ăng giữa thập
niên 90 vì thời điể m này, các nước kiểu “Trung Quốc” bắt đầu nới lỏng kiểm
soát dòng vốn.
- Số nước kiểu “Hong Kong” tăng đều đặn từ thập niên 90.
- Số nước kiểu “Mỹ” cũng tăng trong giai đoạn này, mặc dù ít đều đặn hơn.
Hình 4: Số lượng các quốc gia theo các mẫu hình chính sách
Kiểm định tính ổn định tổng thể của chính sách theo mẫu hình
Sau khi xác định kiểu chính sách cho từng nước và chia các nước thành các
nhóm nhỏ dựa theo 4 kiểu chính sách, tác giả tiến hành kiểm định tính ổn định tổng
thể của chính sách cho từng nhóm nước này.
Bảng 5 cho thấy tính ổn định chính sách khác nhau ở các nhóm nước có kiểu
chính sách khác nhau. Cụ thể:
- Chính sách ít ổn định nhất xảy ra khi nó giống kiểu mẫu “Mỹ”
chính sách kinh tế vĩ mô. Cụ thể 2 phương trình như sau:
,
=
+
,
+
,
+
,
+
,
−
,
−
) +
,
(II)
Trong đó:
ρ
i,t
: là tỷ lệ dự trữ chính thức so với GDP
D
j
: là biến giả đai diện cho kiểu chính sách j của nước thứ i trong giai đoạn t
Dấu gạch ngang trên đầu là trung bình mẫu
Phương trình (I) hồi quy độ dài vector điều chỉnh theo dự trữ ngoại hối, ổn định
tỷ giá và tự do tài chính, tương tác giữa dự trữ và ổn định tỷ giá, tương tác giữa dự trữ
và tự do tài chính có độ trễ 1 năm . Phương trình (II) hồi quy độ dài vector điều chỉnh
theo dự trữ ngoại hối có độ trễ 1 năm , nhưng thay vì dùng các biến độc lập như
phương trình (I), tác giả đã thay các biến này bằng các biến kiểu chính sách Dj. Tác
giả sử dụng hồi quy tuyến tính và hồi quy đơn vị xác suất để đo lường cho 4 nhóm
nước: thu nhập thấp, trung bình, cao và mới nổi. Mỗi phương trình được ước lượng
theo 4 cách: hiệu ứng không cố định, hiệu ứng cố định quốc gia, hiệu ứng thời gian, và
cả hiệu ứng quốc gia và thời gian.
4.3.2. Các nền kinh tế thu nhập thấp
Bảng 6 và 7 cung cấp các kết quả ước lượng cho các nền kinh tế có thu nhập
thấp. Kết quả hồi quy tuyến tính được đưa ra trong Bảng 6.
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
15
Nhóm 7
Cột đầu tiên của bảng cho thấy: các hệ số về độ trễ ổn định tỷ giá và sự tương tác
của nó với dự trữ thì âm và có ý nghĩa thống kê vừa phải. Hệ số mở cửa tài chính cũng
là âm và có ý nghĩa thống kê, nhưng hệ số về tương tác của tự do tài chính với dự trữ
là dương. Tóm lại, những kết quả ban đầu cho thấy rằng, đối với các nền kinh tế
có thu nhập thấp, dự trữ chính thức sẽ làm gia tăng ổn định chính sách hơn khi
Kông, và ở một m ức độ thấp hơn, là các quốc gia có chính sách kiểu Trung Quốc.
Tương ứng, sự không ổn định lớn nhất được tìm thấy trong các quốc gia có chính
sách kiểu Mỹ.
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
18
Nhóm 7
Bảng 9 hồi quy đơn vị xác suất ước tính cho các nền kinh tế có thu nhập trung
bình. Kết quả hồi quy cho ta thấy rằng chỉ có tương tác giữa dự trữ ngoại hối với tự do
tài chính là có ý nghĩa thống kê trong phương trình đầu tiên, nhưng phương trình thứ
hai xác nhận việc phát hiện các mẫu của Mỹ - kiểu mẫu duy nhất với tỷ giá hối đoái
thả nổi-là có ý nghĩa thống kê và thể hiện chính sách ít ổn định nhất.
Hai bảng này cho thấy rằng đối với các quốc gia có thu nhập trung bình, sự
ổn định bộ ba bất khả thi lớn nhất tồn tại trong những nước có tỷ giá cố định.
Bảng 10 và 11 cung cấp cho các kết quả cho các nền kinh tế có thu nhập cao.
Kết quả thu được cũng tương tự với những quốc gia có thu nhập trung bình. Như
được thể hiện trong bảng hồi quy tuyến tính của bảng 10, các hệ số về tỷ giá hối đoái
ổn định có độ trễ 1 năm một lần nữa tất cả đều âm, và trong hầu hết các trường hợp, có
ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy tiêu chuẩn. Đó là, tỷ giá hối đoái ổn định lại một lần
nữa biểu lộ sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô tổng thể lớn hơn. Trong phương
trình thứ hai, các hệ số của các nước có chính sách kiểu “Hồng Kông” và “Trung
Quốc” một lần nữa âm và có ý nghĩa.
Sự ổn định bộ ba bất khả thi và mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
19
Nhóm 7
Trong hồi quy đơn vị xác suất các nước có thu nhập cao, thể hiện trong bảng 11,
các hệ số của các quốc gia có chính sách kiểu ‘Hồng Kông’ và 'Trung Quốc' cũng âm
và có ý nghĩa. Đối với các nền kinh tế có thu nhập cao, bộ ba chính sách là ổn định
21
Nhóm 7
5. Kết luận
Ẩn sâu trong bài nghiên cứu này là sự sẵn sàng chấp nhận ràng buộc của mô hình
bộ ba bất khả thi truyền thống và rút ra những ý nghĩa cho công việc thực nghiệm về
chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế. Đó là: mô hình hình học đơn giản của bộ ba bất khả
thi cho ta thước đo đo lường tính ổn định trong chính sách; ràng buộc của bộ ba bất
khả thi cho ta thước đo ngầm định đo lường độc lập tiền tệ (với thước đo ổn định tỷ
giá hối đoái và tự do tài chính cho trước); và mô hình không gian của bộ ba bất khả thi
giúp ta mô tả các phối hợp chính sách thành các kiểu phối hợp chính sách đặc trưng.
Sử dụng bộ ba bất khả thi, tác giả đánh giá sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ
mô quốc tế của thời kỳ hiện đại. Tác giả thấy rằng:
- Các chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt nhìn chung là ít nhất ổn định nhất.
- Chính sách tỷ giá hối đoái ít quan trọng hơn đối với các nước mới nổi, nơi mà
tự do tài chính có quan hệ chặt chẽ hơn với sự bất ổn định trong chính sách.
- Dự trữ ngoại hối đi đôi với sự ổn định chính sách hơn, nhưng chỉ là đối với các
nước nghèo.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều pha trộn ba mục tiêu của bộ ba bất khả thi.
Đó là, các nước thường nằm trong khoảng giữa, chứ không phải ở các cực của mô hình
không gian chính sách bộ ba bất khả thi. Ở đó,chúng cho thấy một mức độ độc lập tiền
tệ đáng kể, nhưng không hoàn toàn.Và, trong thời kỳ hiện đại ngày nay, kết hợp giữa
chính sách tiền tệ độc lập cao và chính sách tự do tài chính cao là tương đối không ổn
định và không phổ biến.
6. Nghiên cứu mở rộng ở Việt Nam
6.1. Chính sách tiền tệ :
Xét trong bối cảnh Việt Nam hiện nay thì việc thực hiện mục tiêu độc lập tiền tệ
vẫn còn nhiều thử thách. Như các nước khác khi thực hiện nền kinh tế mở cửa với thế
giới bên ngoài, Việt Nam cũng đối mặt với ba yếu tố gồm: (1) dòng vốn chảy vào và
chảy ra; (2) tỷ giá hối đoái; và (3) lạm phát, 3 yếu tố này luôn có mối liên hệ mật thiết
với nhau.
hai đồng thời.
Dưới đây là số liệu về mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam theo cách đo lường của
Shambaugh (2004) và thước đo mới
Đo lng đc lp tin t
Si,t Mi,t Fi,t Mi,t
Shambaugh
Mi,t
new
1996 0.81 0.55 0.22
1996
0.55
0.97
1997 0.43 0.50 0.22
1997
0.50
1.00
1998 1.00 0.66 0.22
1998
0.66
2002
0.38
0.98
2003 0.86 0.36 0.16
2003
0.36
0.98
2004 0.84 0.23 0.16
2004
0.23
1.00
2005 1.00 0.51 0.16
2005
0.51
0.84
2006 1.00 0.62 0.16
2006
0.50
1.00
2012 1.00 0.50 0.41
2012
0.50
0.59 6.2. Dòng vốn n ước ngoài:
Trong những năm 1990, đây là giai đoạn mà nền kinh tế VN bắt đầu tăng tốc sau
chính sách đổi mới kinh tế vào năm 1986. Cũng giống như TQ trước đây, VN thực
hiện chủ trương thu hút dòng vốn FDI nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế trong
nước. Với hệ thống tài chính yếu kém, VN gần như đóng cửa với dòng vốn đầu tư gián
tiếp.
.000
.200
.400
.600
.800
1.000
1.200
Đo lường độc lập tiền tệ của Việt Nam
Mi,t Shambaugh Mi,t new