TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪU ĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ - Pdf 26


Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  
BÀI NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài:
TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI
VÀ NHỮNG HÌNH MẪU ĐIỂN HÌNH
CỦA KINH TẾ VĨ MÔ
Giảng viên HD : ThS.ĐINH THỊ THU HỒNG
Nhóm TH : Nhóm 09
Lớp : Đêm 4
Khóa : 22
Hệ : Cao Học
TP.HCM, T7/2013
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 2
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 3
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
MỤC LỤC
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 4
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ 3 BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪU
ĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ
DẪN NHẬP


Khoa Kinh tế, Đại học Serrey, Guildford,Surrey,GU2 7XH, Vương quốc Anh.Email:

Khoa kinh tế, Đại học Serrey, Guildford,Surrey, GU2 7XH, Vương quốc Anh.Email:

Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 6
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
1.Giới thiệu
Theo bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế mở cổ điển, một quốc gia không
thể đồng thời đạt được sự ổn định tỷ giá, thị trường vốn mở và chính sách tiền tệ
độc lập. Mỗi quốc gia phải phải đánh đổi giữa những mục tiêu này. Trong khi lý
thuyết bộ ba bất khả thi cho chúng ta biết cần phải thực hiện sự lựa chọn thì lịch
sử gần đây lại cho thấy vẫn chưa có sự lựa chọn cuối cùng đựơc đưa ra. Trường
hợp của Trung Quốc cho chúng ta thấy rằng độc lập trong chính sách tiền tệ có thể
dần bị mất tác dụng, trường hợp Brazil nhắc chúng ta rằng, tự do dòng vốn có thể
bị hạn chế do các rào cản mới được dựng lên và những vấn đề mới ở châu Âu cho
chúng ta thấy rằng thậm chí một liên minh tiền tệ cũng có thể bị phá vỡ. Các nước
lựa chọn và sau đó họ lại tiếp tục lựa chọn một lần nữa. Trong bài báo này, chúng
tôi nghiên cứu tính ổn định của những sự lựa chọn đó. Chúng tôi đưa ra các câu
hỏi, ví dụ, liệu tỷ giá hối đoái cố định và kiểm soát dòng vốn thì có đạt được sự
ổn định hơn trong việc thực hiện chính sách linh hoạt tiền tệ và thị trường vốn mở
không? (câu trả lời là có), liệu dự trữ ngoại hối có liên quan đến sự ổn định chính
sách ổn định không? (có, đến mức độ nào, ngoại trừ giữa những nước nghèo). Để
kiểm tra những điều này và các câu hỏi liên quan này, chúng tôi giới thiệu một
phương pháp mới đo lường sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô theo thời gian.
Phương pháp mới của chúng tôi bắt đầu với các dạng hình học đơn giản
của bộ ba bất khả thi. Chúng ta có thể xem xét những chính sách kinh tế vĩ mô
quốc tế của một quốc gia theo những vị trí trong không gian ba chiều, 3 chiều đó
được xác định gồm : tỷ giá hối đoái cố định, tự do tài chính và chính sách tiền tệ

2. Công cụ đo lường sự ổn định
Để đánh giá sự ổn định kinh tế vĩ mô quốc tế, chúng ta bắt đầu với 3 tiêu
chuẩn của bộ ba bất khả thi. Chúng tôi biểu thị chế độ về chính sách hiện hành của
nước thứ i trong khoảng thời gian t như Ri, t, trong đó :
Ri;t = (Si;t; Fi;t;Mi;t)
và Si; t đại diện cho sự ổn định tỷ giá hối đoái, Fi; t đại diện cho tự do tài
chính, và Mi; t đại diện cho chính sách tiền tệ độc lập. Si; t, Fi, t, và Mi; t, được
chuẩn hóa để nhận giá trị từ 0 đến 1, và giá trị của 1 thì đại diện cho việc cố định
tỷ giá hối đoái, cố định thị trường tài chính hoàn toàn mở và chính sách tiền tệ
hoàn toàn độc lập . Vì vậy, khi cố định hoàn toàn biến thị trường tài chính mở là:
Ri, t = (1, 1, 0); cố định hoàn toàn sự độc lập của chính sách tiền tệ Ri, t = (1, 0,
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 8
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
1), và thị trường vốn hoàn toàn mở và tính độc lập trong chính sách tiền tệ thì là
Ri, t = (0, 1, 1).
Trong khuôn khổ này, một sự thay đổi trong chính sách của một quốc gia
từng giai đoạn tiếp theo chỉ đơn giản là véc tơ nối hai điểm liên tiếp trong không
gian chính sách :
ri;t = Ri;t - Ri;t-1
= (si;t; fi;t;mi;t) = (Si;t - Si;t-1; Fi;t -Fi;t-1;Mi;t -Mi;t-1):
Figure 1: Indonesia 1996-97
Dùng vecto này để đo lường về sự thay đổi của chính sách, | | r
i , t
| |
1
.Chúng tôi có thể đo lường sự thay đổi rõ ràng trong tổng thể của chính sách khi
dùng quy tắc vectơ này. Khi sử dụng các quy tắc này, chúng ta định nghĩa, cách
đo lường đơn biến để điều chỉnh mức giảm giữa số không và một :
Quy tắc điều chỉnh này được áp dụng trong phạm vi sự thay đổi bộ ba bất

định của các loại chính sách khác nhau và để đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự
ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô và dự trữ ngoại hối.
3. Dữ liệu và tính ổn định của tổng thể
Trong phần này, chúng tôi tính một phương pháp ổn định mới, mỗi năm
dùng 1 mẫu của 177 nước với dữ liệu hàng năm từ 1970 – 2008. Chúng tôi bắt đầu
với sự ổn định tỷ giá hối đoái thực tế và các biện pháp về tính độc lập của tiền tệ
được cung cấp bởi Aizenman, Chinn, and Ito (2010), được cập nhật phiên bản mới
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 10
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
nhất phương pháp công khai tài khoản tài chính hợp pháp của Chinn và Ito (2008).
Sau đó chúng tôi tính toán lại phương pháp về sự ổn định này với việc dùng một
thước đo thay thế khác về tính độc lập của tiền tệ.
Aizenman et. al. đã xây dựng các biện pháp về sự ổn định tỷ giá hối đoái
hàng năm, Si;t, sử dụng độ lệch chuẩn tỷ giá hối đoái theo tháng của một quốc gia
cơ sở. Như một số nhà nghiên cứu trước, họ kế thừa Giáo sư Shambaugh (2004)
trong việc xây dựng các biện pháp về tính độc lập của tiền tệ, Mi;t, sử dụng sự
tương quan giữa lãi suất thị trường tiền tệ của mỗi nước và của nước cơ sở. Cuối
cùng, phương pháp hợp pháp của Chinn và Ito, Fi;t, về cơ bản là trung bình có
trọng số của chỉ số hạn chế trao đổi của IMF.
Bảng 1 tóm tắt các chỉ tiêu điều chỉnh, ni;t, được tính toán dựa trên những
dữ liệu này. Bảng cũng cung cấp những thống kê tóm tắt loại thu nhập được lấy từ
danh sách các nền kinh tế tháng 1/2011 của World Bank
5. Như những người khác, Aizenman, Chinn và Ito đã áp dụng một ngưỡng các phương pháp độ
lệch chuẩn để thấy được sự ổn định của những đồng tiền trong những khoản hẹp, và họ cũng cho
phép phá giá và nâng giá mang tính cá nhân. Các quốc gia cơ sở bao gồm Úc, Bỉ, Pháp, Đức,
Ấn Độ, Malaysia, Nam Phi, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ
6. Đặc biệt, Phương pháp công khai tài chính của Chinn và Ito với thành phần chủ yếu đầu tiên
của các chỉ số nhị phân từ IMF về việc hạn chế các giao dịch tài khoản vãng lai và tài khoản
vốn, tỷ giá hối đoái nhiều cấp (chú thích thêm multiple exchange rate: khi 1 nước sủ dụng đồng

www.worldbank.org, và nhóm mới nổi lấy từ Chỉ số thị trường vốn quốc tế mới nổi Morgan
Stanley (không kể Đài Loan do dữ liệu không có sẵn). Cột cuối cùng cho thấy giá trị t-statistic ,
giả định rằng mức trung bình của nhóm thu nhập có lien quan bằng với phần còn lại của thế
giới. Ba dấu hoa thị chỉ ra rằng kiểm định thống kê là có ý nghĩa không thể biểu thị ở dạng %
Và nó cũng cung cấp số liệu thống kê cho một loại thị trường mới nổi được
lấy từ chỉ số thị trường vốn quốc tế các nước mới nổi của Morgan Stanley. Cột
đầu tiên của báo cáo cho thấy giá trị trung bình của mỗi loại. Như nhóm các nước
giàu nhất có các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định nhất. trung bình ở đây, như ở
hàng thứ 3 là 0.11 (Hãy nhớ rằng duy trì một sự thả nổi có thể là một phần của
chính sách "ổn định", mặc dù thực tế là tỷ giá hối đoái có biến động). Dòng cuối
cùng là số liệu thống kê của nền kinh tế các nước mới nổi, Với mức điều chỉnh
trung bình là 0,16, nền kinh tế các nước mới nổi có các chỉ tiêu lớn nhất. Cho thấy
rằng, những các nước giàu có chính sách ổn định nhất là các nền kinh tế mới nổi
(Không như những nước nghèo có chính sách bất ổn nhất).
Các đồ thị Hình 2 là các chỉ tiêu điều chỉnh theo thời gian. Các đường đứt
nét trong các đồ thị phù hợp với các biện pháp tính đến nay, đã được tóm tắt trong
bảng 1. Đường liền nét trong các đồ thị tương ứng với cột thứ hai - phương pháp
ổn định có liên quan chặt chẽ nhất. (đã thay thế phương pháp hàm ý về tính độc
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 12
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
lập của tiền tệ (Được miêu tả dưới đây) cho phương pháp Shambaugh mà
Aizenman, Chinn và Ito đã dùng.
4.Phương pháp có liên quan và thực nghiệm
4.1 Độc lập tiền tệ
Như đã nói ở trên, năm 2004, cách tiếp cận của Shambaugh để tính tính
độc lập của tiền tệ là sử dụng sự tương quan giữa lãi suất ngắn hạn trong nước của
một quốc gia với một quốc gia cở sở đã được giả định, thường là Mỹ. Sự tương
quan ở mức cao được xem là dấu diệu của sự phụ thuộc tiền tệ.
Low Income Economies Middle Income Economies

của chúng ta về tính độc lập bắt đầu bằng cách lấy Bộ Ba bất khả thi một cách
nghiêm túc, chúng tôi giả định rằng Bộ Ba bất khả thi có giá trị. Với giả định đó,
các biện pháp hiện của sự ổn định tỷ giá, Si, t, và công khai tài chính, Fi, t, giúp
chúng ta có một biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền tệ, Mi; t. Đặc biệt, các
biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền tệ là :
M
i,t
= 2 – S
i,t
– F
i,t
Hình 3 cung cấp các biểu đồ mô tả cả hai biện pháp này : Biện pháp tiềm
ẩn về tính độc lập của tiền tệ (các đường liền), cùng với các biện pháp Shambaugh
(các đường đứt nét). Nhìn chung, biện pháp tiềm ẩn cho thấy một mức độ thông
dụng về tính độc lập của tiền tệ hơn các biện pháp hiện tại của Shambaugh. Ví dụ,
sử dụng biện pháp mới về tính độc lập của tiền tệ, các quan sát mới nhất của
Canada (năm 2007 và 2008) là 0,75 và 0,81, trong khi các biện pháp của
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 14
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
Shambaugh với những năm tương tự lại nhỏ hơn nhiều: 0,25 và 0,31. Kể từ khi
biện pháp mới về tính độc lập của tiền tệ đo lường Bộ Ba bất khả thi, chúng tôi
không thể sử dụng nó để kiểm tra tính hợp lệ của Bộ Ba bất khả thi, đó là những
gì Aizenman, Chinn và Ito (2010) thử nghiệm. Tuy nhiên, chúng ta có thể sử dụng
các biện pháp tiềm ẩn để khám phá ra điều mà chúng ta quan tâm ở đây: chính
sách ổn định Bộ Ba bất khả thi.
Bảng 2 cung cấp một bản tóm tắt sự ổn định chính sách dùng các chỉ tiêu
điều chỉnh được tính toán với biện pháp tiềm ẩn và biện pháp mới của chính sách
tiền tệ. Như đã được thể hiện trong hình, các chỉ tiêu trung bình tổng thể hiện nay
là thấp hơn. Tuy nhiên, sự ổn định tương đối của các nhóm thu nhập vẫn không

Mean Max Min St. Dev Obs
H
0
Low Income Economies 0.10 0.76 0.00 0.14 1218 1.53
Middle Income Economies 0.11 0.94 0.00 0.15 2664 —4.90(***)
High Income Economies 0.09 0.77 0.00 0.12 1500 3.57(***)
All (Low, Middle and
High)
0.10 0.94 0.00 0.14 5382 -
Emerging Economies 0.13 0.94 0.00 0.16 662 —6.32(***)
Ghi chú: Ở đây, quy tắc điều chỉnh được tính toán bằng cách sử dụng mới, hàm ý đo lường mức
độ độc lập tiền tệ cho mỗi quốc gia trong 177 quốc gia từ năm 1971-2008. Sự phân loại nhóm
thu nhập các nước lấy nguồn từ Ngân hàng Thế giới (Tháng 1/2011), có sẵn tại
www.worldbank.org, và nhóm các nước mới nổi lấy nguồn từ chỉ số thị trường vốn quốc tế mới
nổi của Morgan Stanley (ngoại trừ Đài Loan do dữ liệu không có sẵn). Cột cuối cùng báo cáo
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 16
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
giá trị của giả thuyết thống kê t cho rằng mức trung bình thu nhập của nhóm có liên quan tương
đương với phần còn lại của thế giới. Ba dấu hoa thị chỉ ra rằng kiểm định thống kê ở một mức
phần trăm.
trong dòng thứ hai, có một số bằng chứng cho thấy một sự gia tăng nhỏ trong sự
ổn định kể từ khi cuộc khủng hoảng Argentina. Đối với các nước có thu nhập cao,
thể hiện trong dòng thứ ba, thay đổi là hơn rõ ràng. Đối với những quốc gia đó,
thời gian gần đây hiển thị đáng kể hơn sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc
tế, bất kể là cuộc khủng hoảng được sử dụng để phân chia các mẫu. Đối với nhóm
đầy đủ các nước, thể hiện trong dòng thứ tư, chúng ta có thể có một số ý kiến bác
bỏ hoàn toàn cho rằng các giá trị trung bình hiện tại đều giống nhau như trước cả
hai cuộc khủng hoảng gần đây nhất. Các nước mới nổi, hiển thị trong cột cuối
cùng của bảng, tiếng vang sự gia tăng ổn định như một tổng thể của thế giới,

Chúng tôi sử dụng hình học đơn giản của bộ ba bất khả thi để mô tả các
loại sắp xếp chính xác hơn. Ký tự j = “Hồng Kông”, “Trung Quốc”, “Mỹ”,
“Trung”', chúng tôi xác định loại j là Rj chạy trên các giá trị : (1, 1, 0), (1, 0, 1),
(0, 1, 1), và (2/3,2/3,2/3). Mỗi giá trị trong bốn giá trị trên của Rj đại diện cho một
điểm được xác định trên đường biên có thể thực hiện được của bộ ba bất khả thi.
Ba điểm đầu tiên đại diện cho ba góc tương ứng với “Hồng Kông”, ''Trung Quốc”,
và “Mỹ” mô tả mẫu ở trên, và điểm cuối cùng đại diện cho mẫu “Trung” của
đường biên có thể thực hiện được. Sau đó, chúng tôi xác định quốc gia loại i trong
thời gian bởi điểm gần với một trong bốn điểm. Cụ thể hơn, chúng tôi cho :
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 18
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
Table 4: Number of Implicit Norm Values in the Last Decile by Income
Group
Year
Low Income
Middle
Income
High Income
All
Emerging
1971 9/26 12/48 9/29 30/103 4/15
1972 3/27 7/48 3/29 13/104 0/15
1973
8/27
12/50 13/30 33/107 2/15
1974
5/28
4/51 3/31 12/110 2/15
1975

4/47
20/173 2/20
2000 6/37 15/90 0/47 21/174 2/20
2001 4/36 9/88 5/47 18/171 4/20
2002 4/36 6/87 1/47 11/170 2/20
2003 4/37 8/88 2/47 14/172 1/20
2004 2/37 10/88 2/47 14/172 1/20
2005 2/36 6/88 1/47 9/171 1/20
2006 1/36 5/86 2/46 8/168 1/20
2007 3/33 4/83 2/46 9/162 1/20
2008 0/33 18/82
3/47
21/162 1/20
Total 113/1218 315/2664 110/1500 538/5382 90/662
(%) 9.3% 11.8% 7.3% 10.0% 13.6%
Ghi chú: Một quy tắc giá trị lớn là một giá trị trong các phân vị thập phân cuối trong mẫu quá
0,2789. Mỗi tử số cho biết số quy tắc đặc biệt trong các phần liên quan của mẫu, trong khi các
mẫu số cho biết số tương ứng của các các quốc gia.
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 19
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
j = arg
j
min║(R
i,t
- R
j
)║
type
i,t

các nền kinh tế. Đặc biệt, những chính sách kinh tế quốc tế ổn định kém diễn ra
khi những chỉnh hợp kinh tế vĩ mô quốc tế gần giống như hình mẫu của U.S,
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 20
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
khi tỷ giá hối đoái linh hoạt và thị trường tài chính mở. Giá trị trung bình của giá
trị chuẩn đã điều chỉnh cho hình mẫu này là 0.17, gần gấp đôi gái trị trung bình
của Trung Quốc, 0.09, và gần gấp ba lần giá trị trung bình của Hong Kong, 0.06,
ổn định nhất. Giá trị chuẩn trung bình của các nền kinh tế có thu nhập trung bình
là 0.12, nằm gần với trung điểm của dãy giá trị chuẩn. Khi không phải là ổn định
nhất trong các chính sách, lại có một ít ý kiến cho rằng chính sách theo kiểu của
các nền kinh tế trung bình không thể tồn tại. Biểu đồ 5 cho thấy một bức tranh
rộng hơn về tính ổn định thay đổi như thế nào qua thời gian của mỗi loại nền kinh
tế.
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 21
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
Table 5: Norm using the Trilemma-Implied Monetary Sovereignty Measure
Mean Max. Min. St. Dev. Obs. Ho
China Archetype 0.09 0.75 0.00 0.14 2251 5.43(***)
Hong Kong
Archetype
0.06 0.94 0.00 0.13 706 8.43(***)
U.S. Archetype 0.17 0.94 0.00 0.18 508 -10.68(***)
Mid Archetype 0.12 0.74 0.00 0.13 1917 —5.04(***)

Ghi chú: Cột cuối cùng báo cáo giá trị của t-thống kê cho một kiểm tra giả thuyết rằng giá trị
chuẩn trung bình của các mẫu bằng với những mẫu còn lại. Đơn, đôi, và ba dấu hoa thị biểu
hiện ý nghĩa thống kê tại các mức độ tương ứng là mười phần trăm, năm phần trăm và một phần
trăm.

kết chắc chắn với tính ổn định của chính sách. Hoặc là, có thể mong đợi một mối
liên hệ phủ định giữa dự trữ ngoại hối và tính ổn định, nếu dự trữ ngoại hối được
tích lũy trước khi sự bất ổn của chính sách xuất hiện sẽ có tác dụng ngăn cách nền
kinh tế khỏi những ảnh hưởng của sự bất ổn. Trong trường hợp khác, dự trữ ngoại
hối theo kinh nghiệm có thể tương tác với những chính sách bộ ba bất khả thi cơ
bản.
Phương trình hồi quy đầu tiên của chúng tôi là hồi quy giá trị chuẩn đã điều
chỉnh lên biến dự trữ ngoại hối trong quá khứ, lên phương pháp đo lường tính ổn
định tỷ giá hối đoái và tự do tài chính và lên những tương tác giữa dự trữ ngoại
hối và 2 phương pháp đo. Phương trình hồi quy thứ hai cũng là hồi quy giá trị
chuẩn lên dự trữ ngoại hối nhưng thay vì bao gồm các thước đo ổn định tỷ giá hối
đoái và tự do tài chính thì nó bao gồm những biến giả cho hình mẫu kinh tế vĩ mô
quốc tế của nền kinh tế.
Cụ thể, hai phương trình hồi quy tuyến tính đó là :
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 23
Tính ổn định của bộ 3 bất khả thi và những hình mẫu điển hình của kinh tế vĩ mô
GVHD: Đinh Thị Thu Hồng
Trong đó, là tỷ số của dự trữ chính thức và GDP, dấu gạch nganh thể hiện
giá trị trung bình mẫu và Dj là một biến giả type
i,t=
R
j
13
. Mỗi phương trình hồi quy
tuyến tính trên được ước lượng với những nhân tố ảnh hưởng không cố định,
11Để nhgiên cứu mang tính ngẫu nhiên cao nhất, quan sát nghiên cứu của

Kenen and Yudin
(1965) and Heller (1966). Ngoài ra còn có Hamada (1977) người đã mở rộng nghiên cứu của
Heller's; Frenkel and Jovanovic (1981), đã nhấn mạnh việc quản lý hàng tồn kho; Sachs, Tornell

Tóm lại, những kết quả chỉ ra cho thấy rằng, ở các nền kinh tế có thu nhập thấp,
dự trữ ngoại tệ chính thức biểu thị tính ổn định lớn hơn khi tỷ giá hối đoái gần như
cố định và thị trường vốn gần như đóng. Như đã chỉ ra ở bảng, những kết quả này
được làm lại khi nhân tố thời gian được xem xét, mặc dù ý nghĩa thống kê biến
mất khi nhân tố vùng miền được xem xét.
Cột thứ hai của bảng 6 đưa ra ước lượng ban đầu từ phương trình tuyến
tính thứ hai, sử dụng hình mẫu nền kinh tế trễ. Trong trường hợp này, hệ số dự trữ
ngoại tệ là khá lớn, âm, và có ý nghĩa. Phát hiện này chặt chẽ về mặt kích thước
và ý nghĩa thông qua tất cả các ước lượng. Với những nước có thu nhập thấp, phụ
thuộc vào những hình mẫu ở thời kỳ trước, nắm giữ dự trữ ngoại tệ chính thức lớn
đưa ra chính sách ổn định kinh tế vĩ mô quốc tế quan trọng.
Bảng 7 đưa ra kết quả của phương pháp hồi quy Probit. Phương trình tuyến
tính đầu tiên sinh ra dấu hiệu tương tự như ước lượng tuyến tính, nhưng chúng
đưa ra một ít ý nghĩa chặt chẽ. Tuy nhiên, phương trình tuyến tính hình mẫu giống
như sự tương quan tuyến tính trong bảng 6, chỉ ra một lần nữa ở những nước có
thu nhập thấp, phụ thuộc vào hình mẫu, dự trữ ngoại tệ lớn hơn thì biểu thị tính ổn
định chính sách bộ ba bất khả thi lớn hơn.
5.2 Những nền kinh tế có thu nhập trung bình và có thu nhập cao
Bảng 8 và 9 cung cấp kết quả cho những nền kinh tế có thu nhập trung
bình, và bảng 10 và 11 đưa ra kết quả cho những nền kinh tế có thu nhập cao.
Trong bảng 8, chúng ta thấy ở phương trình tuyến tính đầu tiên, những hệ số tính
ổn định trễ tỷ giá hối đoái là âm và có ý nghĩa thống kê đối với trường hợp các
Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 25

Trích đoạn Những nền kinh tế mới nổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status