BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-o0o-
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
BỘ BA BẤT KHẢ THI - KẾT HỢP TỐ
I ƯU
CHO ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH VĨ MÔ VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ 2011-2020
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
Danh mục đơn vị tiền tệ
Danh mục thuật ngữ kinh tế
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình
Danh mục phụ lục
2.2.1 Hệ thống tỷ giá trên thực tế ở Ấn độ 24
2.2.2 Kiểm soát vốn 26
2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ cách Ấn độ xử lý cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Đông Á 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CỦA
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1990 ĐẾN NAY
3.1 Giai đoạn 1990-2007 31
3.1.1 Tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 - 2007 31
3.1.2 Vấn đề kiểm soát vốn: 32
3.1.2.1 Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: 33
3.1.2.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài: 34
3.1.3 Chính sách tỷ giá: 36
3.1.4 Chính sách tiền tệ: 37
3.1.4.1 Vấn đề lạm phát 38
3.1.4.2 Mức cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng: 39
3.2 Giai đoạn 2008-2010 41
3.2.1 Tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 -2010: 41
3.2.2 Chính sách kiểm soát vốn 42
3.2.3 Chính sách tỷ giá 44
3.2.4 Chính sách tiền tệ 45
3.3 Giai đoạn đầu năm 2011 đến nay 48
3.3.1 Tổng quan kinh tế vĩ mô từ đầu năm 2011 đến nay 48
3.3.2 Nguy cơ lạm phát cao và những bất ổn vĩ mô 50
3.3.3 Chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa 51 3.3.4 Chính sách tỷ giá 53
3.4 Dự trữ ngoại hối 54
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á
ASEAN
Hiệp hội các quốc giá Đông Nam Á
EIU
Đơn vị dự báo, phân tích của tạp chí The Economist
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
WB
Ngân hàng thế giới
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTW
Ngân hàng trung ương
DANH MỤC ĐƠN VỊ TIỀN TỆ
USD
Đô la Mỹ
NDT
IRP
Ngang giá lãi suất
PPP
Ngang giá sức mua
ICOR Hệ số hiệu quả đầu tư DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tính ổn định của tỷ giá Rupi/USD
Bảng 3.1: Diễn biến tỷ giá năm 2008
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá
Hình 1.2: Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá linh hoạt
Hình 1.3: Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Hình 1.4: Lý thuyết bộ ba bất khả thi mở rộng
Hình 1.5: Đồ thị kim cương đối với các nước công nghiệp hoá
Hình 1.6: Đồ thị kim cương đối với các nền kinh tế mới nổi tại Châu Á và Trung Quốc
Phụ lục 2: Một số chỉ số tài chính Việt Nam trong giai đoạn 1990 đến 2010
Phụ lục 3: Sự khác biệt về trình độ phát triển của các quốc gia trong khu vực ASEAN
Phụ lục 4: Chính sách kiểm soát vốn có thể giải quyết đươc vấn đề bộ ba bất khả thi ở
các nước châu Á không?
Phụ lục 5: Kiểm định kiểm soát vốn ở Việt Nam
Phụ lục 6: Phát triển thuyết tam giác mở rộng – một hướng nghiên cứu bộ ba bất khả
thi PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý thuyết bộ ba bất khả thi là một lý thuyết kinh tế nền tảng, phổ biến trong
kinh tế học vĩ mô. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 tại Châu Á, vấn đề
bộ ba bất khả thi của từng quốc gia đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đánh giá,
nhằm tìm ra đâu là điểm mạnh, điểm yếu trong điều hành vĩ mô của từng quốc gia. Từ
nền tảng lý thuyết ban đầu của giáo sư Mudell, nhiều học giả đã tiếp tục phát triển
thành thuyết tam giác mở rộng, thuyết tứ diện Cho đến hiện tại, vấn đề bộ ba bất khả
thi, đặc biệt là liên quan đến chính sách tỷ giá, đang là vấn đề nóng cần mỗi quốc gia
thất bại trong thực tiễn để qua đó, tìm hướng đi cho Việt Nam.
Thứ ba, tìm hiểu thực trạng kinh tế vĩ mô Việt Nam dưới quan điểm bộ ba bất
khả thi từ giai đoạn những năm Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế đến nay (tháng
3/2011). Qua đó, đề ra các giải pháp ở cả mức độ tầm nhìn và giải pháp cụ thể trên
phương diện khuyến nghị trực tiếp và các khuyến nghị bổ sung, tầm nhìn đến năm
2020, có xem xét đến dự báo của nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới và am hiểu về nền
kinh tế Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Do nội dung của đề tài liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, cần đánh giá, nhìn nhận
dưới góc độ tổng quát, khách quan nên tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp khác
nhau:
Phương pháp hệ thống hóa, mô tả, phân tích các yếu tố liên quan đến từng
chính sách nhìn trong mối quan hệ biện chứng với các nhân tố kinh tế thế giới và cơ sở
hạ tầng và quan điểm điều hảnh của chính phủ trên cơ sở các kinh nghiệm và lý luận
cơ bản về vấn đề bộ ba bất khả thi đã được trình bày và công bố trong các công trình
liên quan đến đề tài và các văn bản chính thức của chính phủ. Sau đó, tác giả tiếp tục
kế thừa và phát triển dựa trên góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng của
chuyên đề. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu, dữ liệu thứ cấp được công bố từ các cơ
quan thống kê, cơ quan quản lý, các tổ chức chuyên môn, các tổ chức quốc tế uy tín để
dẫn chứng cho các luận điểm trong chuyên đề.
Bên cạnh đó, đề tài còn kết hợp phương pháp so sánh trường hợp nghiên cứu
cụ thể là nền kinh tế Việt Nam với các quốc gia lân cận trong khu vực (phân tích theo
chiều ngang) và những thay đổi trong suốt thời gian từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh
tế đến hiện nay (tháng 3/2011) (phân tích theo chiều dọc).
Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, cập nhật cho các luận điểm, tác giả cũng
kết hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến khác như phương pháp chuyên gia,
phương pháp mô hình toán…
Phân tích, đánh giá thực trạng kết hợp bộ ba chính sách của Việt Nam, cùng
những thay đổi trong quan điểm điều hành của chính phủ. Với những phân tích đánh
giá trong chuyên đề, các tác giả khác có thể tiếp tục phát triển ý tưởng thành nhiều đề
tài nghiên cứu chuyên sâu dựa trên nền tảng là chuyên đề này của tác giả.
7. Hướng phát triển của đề tài
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chưa định lượng một cách sâu sắc về các vấn đề
nghiên cứu, mà chủ yếu là dựa trên cơ sở định tính để nhằm đưa ra những khuyến nghị
chính sách giai đoạn 2011-2020. Do đó, hướng phát triển của đề tài là đi sâu vào định
lượng nhằm thuyết phục hóa đề tài.
CHƯƠNG 1
NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT TỔNG QUAN
VÀ CÁC TRƯỜNG PHÁI VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI
1. Nghiên cứu bộ ba bất khả thi và các lý thuyết mở rộng
1.1 Các mô hình nền tảng dẫn đến lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.1.1 Mô hình IS-LM mở rộng : Mô hình Mundell-Fleming
Đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng mô hình IS-LM bằng cách đưa yếu tố
nước ngoài vào mô hình. Trong đó, nỗ lực thành công nhất được xem là của “Mô
hình Mundell-Fleming”. Đây là kết quả nghiên cứu của Robert Mundell (1962,
1963) và J.M.Fleming (1962) trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF.
BP > 0
BP < 0
LM’
Bắt đầu tại điểm cân bằng E ở hình 1.1, nơi mà cán cân thanh toán đang trong
trạng thái cân bằng, nếu chúng ta thực hiện một chính sách tiền tệ mở rộng (LM
dịch chuyển sang phải thành LM’) thì sẽ có một điểm cân bằng mới nằm dưới đường
BP (điểm F), và tại đó cán cân thanh toán thâm hụt. Chúng ta cũng lý luận tương tự
cho trường hợp LM dịch chuyển sang trái, cũng như khi IS dịch chuyển (tức chính phủ
mở rộng hoặc thắt chặt chính sách tài khoá). Những lý luận của mô hình hoàn toàn có
thể được áp dụng vào thực tế với những trường hợp cụ thể. Ví dụ, chính phủ triển khai
chính sách mở rộng tiền tệ trong bối cảnh muốn giữ cố định tỷ giá hối đoái, việc làm
này có thể khiến cho lạm phát gia tăng với giả định thị trường hàng hoá đã cân bằng.
Lạm phát trong nước khiến cho giá hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn một cách tương đối so
với hàng nội địa và giá hàng hoá xuất khẩu đắt một cách tương đối so với hàng nước
ngoài. Việc này không có lợi cho cán cân thương mại. Ta cũng có thể lý luận tương tự
đối với tài khoản vốn đầu tư. Như vậy, việc thay đổi chính sách tiền tệ hay chính sách
tài khoá của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán
trong nền kinh tế mở.
Khi cán cân thanh toán thặng dư, NHTW sẽ dùng nội tệ để mua ngoại tệ vào
(cung tiền tăng). Ngược lại, khi cán cân thanh toán thâm hụt, NHTW sẽ bán ngoại tệ
để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trên thị trường (cung tiền giảm). Do đó, một cán cân
thanh toán thặng dư hay thâm hụt sẽ làm tăng hoặc giảm cung tiền của nền kinh tế vì
NHTW sẽ mua vào hoặc bán ra ngoại tệ. Kết quả là, một cán cân thanh toán thặng dư
hay thâm hụt sẽ không được duy trì, nhưng để làm được điều này, NHTW đã tác
động đến lạm phát trong nước. Luận điểm này sau đó được Frankel và Krugman
khai thác và xây dựng nên lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Nếu chúng ta vẫn tiếp tục giữ nguyên giả định chế độ tỷ giá hối đoái là cố định
và thị trường vốn mở, nhưng lại thêm một giả định là không có chính sách vô hiệu
hoá, thì sau đó tất yếu rằng, chính sách tài khoá trở nên hiệu quả hơn chính sách tiền
tệ. Hãy nhìn lại hình 1.1 một lần nữa. Bắt đầu tại điểm E, một sự mở rộng chính
sách tiền tệ sẽ chuyển đường LM sang LM’ và do đó đạt được một cán cân thanh toán
thâm hụt tại điểm F. Tuy nhiên, không có sự vô hiệu hoá, cung tiền sẽ giảm (do chính
phủ cố gắng cân bằng cán cân thanh toán bằng cách tung ngoại tệ ra thị trường để đáp
ứng nhu cầu thị trường) và sau đó LM’ sẽ dịch chuyển sang phía trái trở lại LM và
điểm F sẽ quay trở lại điểm E. Nghĩa là, sản lượng sau khi gia tăng trong một thời
gian ngắn sẽ quay lại điểm cân bằng Y*. Do đó, chính sách tiền tệ không hiệu quả
hoàn toàn để làm gia tăng sản lượng quốc gia. Ngược lại, giả định rằng, bắt đầu tại điểm E, chúng ta thực hiện một chính sách tài khóa mở rộng, đường IS dịch chuyển
sang IS’, dẫn tới một cán cân thanh toán thặng dư tại điểm G. Không có chính sách
vô hiệu hoá, một cán cân thanh toán thặng dư hàm ý rằng cung tiền sẽ tăng nhằm
đáp ứng cho sự gia tăng trong sản lượng quốc gia. Do đó, đường LM dịch chuyển
sang phía phải đến LM’. Tại điểm cân bằng mới, điểm H, là một vị thế dài hạn. Như
vậy, sản lượng đã tăng đáng kể trong trường hợp này vì sự dịch chuyển của cung tiền
khi không có vô hiệu hoá bổ sung cho sự mở rộng chính sách tài khoá ban đầu. Điều
này đưa ta đến kết luận: dưới chế độ tỷ giá cố định, chính sách tài khoá có hiệu quả
cao hơn và chính sách tiền tệ kém hiệu quả hơn trong việc gia tăng sản lượng.
Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá linh hoạt
Các hàm ý của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá dưới chế độ tỷ giá
linh hoạt có thể được hình dung trong hình 1.4. Giả định chúng ta bắt đầu tại điểm E,
phần giao nhau của đường cong IS, LM, BP; và giả định có một sự mở rộng chính
sách tiền tệ từ LM sang LM’. Kết quả, chúng ta dịch chuyển từ E đến F, là một cán
cân thanh toán thâm hụt. Tại điểm F, có một cầu thặng dư về ngoại tệ và cung thặng
dư về nội tệ trên thị trường ngoại hối. Dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt, tỷ giá thực sẽ
giảm, do đó đường BP dịch chuyển sang phải thành BP’ và IS dịch chuyển sang
LM
’
J
Từ những hàm ý của mô hình Mundell-Fleming ở trên ta thấy rằng: hiệu quả
của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái và
mức độ kiểm soát vốn. Ví dụ, quốc gia nào có chuyển dịch dòng vốn tự do và tỷ giá
cố định, thì các nhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập.
Trong một quốc gia có cơ chế tỷ giá cố định thì không có rủi ro tỷ giá, và lãi suất
trong nước biến động cùng với lãi suất nước ngoài.
Từ những nhận định trên, các nhà kinh tế như Krugman (1979) và Frankel
(1999) đã mở rộng mô hình Mundell-Fleming thành Lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Frankel (1999) cho rằng, một quốc gia phải từ bỏ một trong ba mục tiêu: chính sách
tiền tệ độc lập, sự ổn định của chính sách tỷ giá, và hội nhập thị trường tài chính. Lý
thuyết này sẽ được tìm hiểu ở phần dưới.
1.1.2 Lý thuyết Bộ ba bất khả thi cổ điển
Robert Mundell – người đã nhận giải Nobel kinh tế vào năm 1999 – là cha đẻ
của lý thuyết Bộ ba bất khả thi, ông đã xây dựng nên những nền tảng cơ bản về lý
thuyết này vào những năm 1960. Tiếp đó, vào những năm 1980, khi vấn đề kiểm soát
vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc cố định tỷ giá và độc lập
trong chính sách tiền tệ ngày càng rõ nét thì lý thuyết Bộ ba bất khả thi đã trở thành
nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế hiện đại.
Lý thuyết Bộ ba bất khả thi được phát biểu như sau: Một quốc gia không thể
đồng thời đạt được cả ba mục tiêu tỷ giá hối đoái cố định, hội nhập tài chính, và độc
lập tiền tệ. Tức là, một quốc gia chỉ có thể lựa chọn cùng một lúc đồng thời hai trong
ba mục tiêu kể trên. Đây chính là lý thuyết Bộ ba bất khả thi cổ điển.
Trong lý thuyết này, ba mục tiêu không thể đồng thời đạt được bao gồm:
ị
trư
ờ
ng v
ố
n
đóng
Chính sách ti
ề
n t
ệ
độc lập
Ổ
n đ
ị
nh t
ỷ
giá
T
ỷ
giá th
ả
soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ, và quốc gia có thể thực
hiện đồng thời hai mục tiêu này.
Kể từ khi vận hành theo chế độ bản vị vàng, nhiều kiểu hệ thống tài chính quốc
tế khác nhau đã được thiết kế để đạt hai trong số ba mục tiêu chính sách. Hệ thống
Bretton Woods được thiết lập để đạt được ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ trong khi hy
sinh mục tiêu tự do chu chuyển vốn, tức hội nhập tài chính. Hệ thống tiền tệ Châu Âu
được thiết lập trên cơ sở thoả thuận tỷ giá cố định và vốn chu chuyển tự do và từ bỏ
độc lập tiền tệ của các nước thành viên. Trong hơn 20 năm qua, hầu hết các nước đang
phát triển bắt đầu tăng tốc hội nhập tài chính. Điều này có nghĩa là một quốc gia phải
hoặc từ bỏ ổn định tỷ giá nếu muốn duy trì mức độ độc lập tiền tệ hoặc từ bỏ độc lập
tiền tệ nếu muốn duy trì ổn định tỷ giá.
Theo hình 1.3, một nền kinh tế trong cùng một thời điểm có thể lựa chọn một
trong ba đỉnh của tam giác với nguyên tắc: quốc gia sẽ thực hiện được đồng thời hai
mục tiêu trên hai cạnh chứa đỉnh đó. Việc xác định sự lựa chọn của quốc gia dựa theo
góc nhìn về “điểm” trong hình học có vẻ như không cần thiết trong lý thuyết Bộ ba bất khả thi cổ điển trong những năm thập niên 60, nhưng lại có một tầm quan trọng nhất
định đối với việc nghiên cứu các mô hình phát triển của lý thuyết Bộ ba bất khả thi
hiện đại.
1.2 Sự phát triển của Lý thuyết Bộ ba bất khả thi hiện đại
1.2.1 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian
Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết Bộ ba bất khả thi của
GS. Mundell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng. Nền tảng của thuyết này là
những quan niệm mới về sự độc lập của chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá. Theo đó,
tam giác bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở các
đỉnh của tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế tỷ giá trung gian nằm đâu đó trong
vùng tam giác bất khả thi. Yigang và Tangxian đã mở rộng mô hình này và kết luận
rằng một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau và không phải chấp
nhận sự đánh đổi hoàn toàn như trong lý thuyết bộ ba bất khả thi cổ điển.
T
ỷ
giá th
ả
n
ổ
i
T
ỷ
giá c
ố
đ
ị
nh
H
ộ
i nh
ậ
p tài chính
O
Ev
tức là tỷ giá thả nổi. Đây là những trường hợp đặc biệt đã được xét đến tại các điểm
A,B,C – đỉnh của tam giác bất khả thi.
1.2.2 Dự trữ ngoại hối và mối liên hệ với bộ ba bất khả thi : sự phát triển
của đồ thị kim cương
Phiên bản nguyên thuỷ của lý thuyết bộ ba bất khả thi không đề cập đến vai trò
của dự trữ ngoại hối. Lý thuyết tam giác mở rộng nghiên cứu về sự đánh đổi không
hoàn toàn giữa các lựa chọn mục tiêu cho nền kinh tế; thuyết tứ diện thêm vào một
nhân tố là khả năng vay mượn nước ngoài của quốc gia, nhưng vẫn chưa trực tiếp
nghiên cứu về vấn đề dự trữ ngoại hối – một vấn đề thường xuyên được đề cập đến ở
các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi đang phát triển. Đó là do xu thế hội
nhập tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng ở các quốc gia này nên ngày càng có nhiều
nghiên cứu cho thấy dự trữ ngoại hối đóng vai trò quan trọng trong mẫu hình bộ ba bất
khả thi, nhất là tại các quốc gia đang phát triển. Trong hơn hai thập kỉ gần đây, ngày càng nhiều các nền kinh tế đang phát triển
có xu hướng thiên về lựa chọn chế độ tỷ giá trung gian giữa cố định và thả nổi, như
chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, neo tỷ giá, hoặc dải băng tỷ giá. Chế độ tỷ giá hỗn
hợp như thế đòi hỏi các quốc gia phải gia tăng dự trữ ngoại hối để bảo đảm duy trì tỷ
giá trong một vùng mục tiêu nào đó theo kế hoạch của chính phủ. Sau khủng hoảng tài
chính Châu Á 1997, nhiều nước đang phát triển bắt đầu chuyển sang cơ chế tỷ giá linh
hoạt hơn, tức hướng về thị trường nhiều hơn. Mặc dù vậy, dự trữ ngoại hối ở các nước
đang phát triển vẫn tiếp tục tăng lên ấn tượng. Dự trữ ngoại hối toàn cầu tăng từ
khoảng 1000 tỷ đô la đến hơn 5000 tỷ đô la trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2006.
So sánh mức dự trữ ngoại hối của các nước bằng con số tuyệt đối có vẻ hơi
khập khiễng, vì mỗi nền kinh tế có quy mô, phạm vi và tính chất khác nhau. Để bỏ qua
quy mô nền kinh tế, ta sử dụng chỉ số IR/GDP, tức là tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên tổng
sản phẩm quốc nội. Trong khi IR/GDP tại các nước công nghiệp tương đối ổn định xấp
xỉ dưới 5% thì tỷ lệ này tại các nước đang phát triển tăng từ 5% đến khoảng 27%. Gần
đây các nước đang phát triển nắm giữ đến ba phần tư dự trữ ngoại hối toàn cầu, phần
Chinn và Ito xây dựng cho mỗi quốc gia một vector bộ ba bất khả thi và những cấu
hình của dự trữ ngoại hối để đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, dự trữ ngoại hối
và hội nhập tài chính của mỗi quốc gia. Những thước đo này dao động từ 0 đến 1. Cấu
hình của mỗi quốc gia được tổng hợp bằng đồ thị hình kim cương tổng quát với bốn
đỉnh đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, chỉ số IR/GDP và hội nhập tài chínhc.
Hình 1.5 và 1.6 tổng hợp khuynh hướng đối với các quốc gia công nghiệp hóa
và những nền kinh tế mới nổi. Nhìn trên hình ta thấy các quốc gia công nghiệp ngày
càng tăng tốc tự do hóa tài chính nhiều hơn. Đi kèm với tự do hóa tài chính, các quốc
gia công nghiệp hóa cũng ngày càng hướng tới ổn định tỷ giá (chủ yếu ở các quốc gia
sử dụng đồng Euro).
Đồng thời cũng làm sáng tỏ sự thật là các nền kinh tế mới nổi đã hướng tới tỷ
giá linh hoạt cao hơn và hội nhập tài chính sâu hơn. Điều đáng lưu ý là bên cạnh đó,
dự trữ ngoại hối cũng được tích lũy nhiều hơn. Ngược lại, các quốc gia công nghiệp
hóa lại ngày càng giảm đi dự trữ ngoại hối của mình.
Hình 1.5: Đồ thị kim cương đối với các nước công nghiệp hoá
Hình 1.6: Đồ thị kim cương đối với các nền kinh tế mới nổi tại Châu Á và
Trung Quốc
1.3 Vấn đề định lượng trong bộ ba bất khả thi
Tỷ giá, yếu tố đầu tiên của bộ ba, dễ đo lường nhất. Độ ổn định tỷ giá được đo
lường dựa vào chế độ tỷ giá trên thực tế thay vì chế độ tỷ giá như cam kết của một
quốc gia với IMF.
()
()
Trong đó:
I : quốc gia sở tại
J : quốc gia cơ sở.
Với công thức như trên, giá trị tối đa, tối thiểu tương ứng là 1 và 0. Giá trị càng
tiến về 1 có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc lập hơn. Ví dụ nếu chúng ta muốn đo
lường mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam, quốc gia sở tại là Việt Nam và quốc gia cơ
sở là Mỹ (nếu chúng ta muốn xem xét thay đổi lãi suất VND với lãi suất USD).
Ổn định tỷ giá (ERS). Độ ổn định tỷ giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá,
được tính theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá mỗi tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia