tiểu luận dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở trung quốc – liên hệ việt nam - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM TIỂU LUẬN
DÒNG VỐN VÀ BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở
TRUNG QUỐC – LIÊN HỆ VIỆT NAM

GVHD : GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
Học phần : Tài Chính Quốc Tế
Nhóm 8- Lớp: NH ĐÊM 1 – K22
DANH SÁCH NHÓM

1. Phạm Công Doanh (0973881244)
2. Nguyễn Thị Thùy Dƣơng
3. Nguyễn Ngọc Hàn
4. Võ Thị Thùy
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2013

i
MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THAM GIA NHÓM

STT
Họ Tên
Mức độ hoàn thành công việc
1
PHẠM CÔNG DOANH
Hoàn thành 100%
2
NGUYỄN THỊ THÙY DƢƠNG
Hoàn thành 100%
3
NGUYỄN NGỌC HÀN
Hoàn thành 100%
4
VÕ THỊ THÙY
Hoàn thành 100%

iii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN



v
DANH MỤC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ

HÌNH VẼ
Hình 1: Bộ ba bất khả thi
Hình 2: Tam giác bất khả thi mở rộng
Hình 3. Thuyết tứ diện
Hình 4: Tam giác bất khả thi – Trƣờng hợp đặc biệt của thuyết tứ diện
Hình 5: Mẫu hình kim cƣơng

BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Level and Composition of Gross Capital Inflows in China, 1982-2009
Biểu đồ 2: Capital Market Openness in China, 1993-2009
Biểu đồ 3: Mức độ của các chỉ số bộ ba bất thời gian 14 năm 1996-20khả thi ở
Trung Quốc từ 1996 -2009
Biểu đồ 4 : Configurations of the Impossible Trinity and Sterilization
Biểu đồ 5: Policy Orientation
Biểu đồ 6: Mức độ ổn định tỷ giá (ERS)
Biều đồ 7: Mức độ độc lập tiền tệ (MI)
Biểu đồ 8: Mức độ hội nhập tài chính (KAOPEN) -1-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
PHẦN 1: DÒNG VỐN VÀ BỘ BA BẤT KHẢ THI CỦA
TRUNG QUỐC

1. Bộ ba bất khả thi
1.1. Lý thuyết bộ ba bất khả thi

tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngƣợc
với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngƣợc với đỉnh thả nổi hoàn
toàn, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngƣợc với đỉnh liên minh tiền tệ. Bất
kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt đƣợc bởi một đỉnh nằm giữa và một quốc gia
hoàn toàn không khả thi để đạt đƣợc đồng thời cả ba mục tiêu. Cụ thể:
- Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính đƣợc kết hợp bằng cách lựa chọn chế
độ tỷ giá cố định nhƣng phải từ bỏ độc lập tiền tệ. Điều này có nghĩa chính phủ đã
mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nƣớc độc lập với lãi suất nƣớc
ngoài (độc lập tiền tệ tức là lãi suất trong nƣớc và các quốc gia khác độc lập thì
Ngân hàng Trung ƣơng đó độc lập tiền tệ)
- Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính đƣợc kết hợp bằng cách lựa chọn chế
độ tỷ giá thả nổi. Với lựa chọn này, chính phủ (NHTW) đƣợc quyền tự do ấn định
lãi suất nhƣng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo những nguyên tắc của thị trƣờng.
- Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ đƣợc kết hợp bằng cách lựa chọn thị trƣờng
vốn đóng hay chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn hoàn toàn.
1.2. Thuyết tam giác mở rộng
Toàn cầu hóa đang trở thành xu hƣớng chung của thế giới. Điều này càng gia
tăng áp lực cho các quốc gia khi buộc phải chọn một trong hai: hoặc là từ bỏ ổn
định tỷ giá hoặc là từ bỏ độc lập tiền tệ. Tuy nhiên, Frankel (1999) cho rằng một
quốc gia vẫn có thể lựa chọn cơ chế tỷ giá bán ổn định (half-stability) và chính
sách tiền tệ bán độc lập (half-independence). Và lý thuyết bộ ba bất khả thi không
thể ngăn cản một quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, dải băng tỷ
giá, tỷ giá cố định có thể điều chỉnh hay bất cứ cơ chế tỷ giá trung gian nào. Hơn
nữa, ông đã nhấn mạnh rằng không có một chế độ tiền tệ duy nhất nào là tốt nhất
cho tất cả các quốc gia và thậm chí ngay trong chính quốc gia đó thì cũng không có
một chính sách tiền tệ duy nhất nào là phù hợp cho mọi thời đại.
Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi của
Mundell-Fleming và đƣa lên thành thuyết tam giác mở rộng. Mối quan hệ giữa ba
-3-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

giá cố
O
-4-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
đó, mỗi quốc gia sẽ có một lựa chọn cho riêng mình mà không nhất thiết phải đánh
đổi hoàn toàn theo nhƣ tam giác bất khả thi của Mundell-Fleming.
1.3. Thuyết tứ diện
Mô hình tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian thực sự đã chính thức
hóa mô hình tam giác khả thi của Mundell-Fleming. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ
mô hình của Mundell-Fleming, lý thuyết này không xem xét rằng sự khác nhau
trong khả năng vay nợ nƣớc ngoài bằng đồng nội tệ trong những nền kinh tế khác
nhau sẽ ảnh hƣởng không giống nhau lên mức biến động tỷ giá hối đoái.
Hausmann (2000) đã chỉ ra rằng những quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi
hoặc dải băng tỷ giá rộng có cách thức quản lý chính sách tỷ giá rất khác biệt.
Những nƣớc này nắm giữ những mức dự trữ ngoại hối rất khác nhau cho thấy
những sự can thiệp rất khác nhau vào thị trƣờng ngoại hối và mức độ biến động tỷ
giá hối đoái cho phép trƣớc ảnh hƣởng của các cú sốc là rất khác nhau. Hausmann
(2000) phát hiện ra một mối quan hệ mạnh và vững chắc giữa mẫu hình thả nổi tỷ
giá của một quốc gia với khả năng vay mƣợn quốc tế bằng đồng nội tệ của nó. Cụ
thể, quốc gia nào có khả năng vay mƣợn nƣớc ngoài bằng nội tệ (the ability to
borrow abroad) nhiều hơn có khuynh hƣớng nắm giữ mức dự trữ ngoại hối nhỏ
hơn, và cho phép tỷ giá biến động cao hơn so với mức biến động trong dự trữ
ngoại hối hoặc lãi suất.
Dựa trên nghiên cứu của Hausmann, chúng tôi cho rằng mức độ biến động
của tỷ giá chịu ảnh hƣởng trực tiếp của khả năng vay nợ nƣớc ngoài bằng đồng
ngoại tệ. Khả năng vay mƣợn quốc tế bằng đồng nội tệ của quốc gia nào càng cao
thì mức độ biến động cho phép của tỷ giá hối đoái ở quốc gia đó càng lớn. Tuy
nhiên, liên minh tiền tệ châu Âu là một trƣờng hợp ngoại lệ do có khả năng vay
nƣớc ngoài bằng đồng nội tệ rất cao nhƣng lại theo đuổi cơ chế tỷ giá cố định.
Nhìn chung thì khả năng vay nợ nƣớc ngoài bằng đồng nội tệ quyết định đến sự


C
M
K
E
O
-6-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
Tƣơng tự nhƣ lý luận ở trên, bên cạnh các giải pháp góc, các quốc gia có thể
lựa chọn cho mình các kết hợp trung gian nằm bên trong tứ diện tùy vào khả năng
vay nợ nƣớc ngoài bằng đồng nội tệ của quốc gia và chính sách mục tiêu mà quốc
gia đó đang theo đuổi. Theo đó, khi một quốc gia có khả năng vay nợ bằng đồng
nội tệ là cao nhất thì nó có thể theo đuổi đồng thời ba chính sách mục tiêu: hội
nhập tài chính, độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá. Thực tế, cơ chế tỷ giá dƣới chế độ
chuẩn vàng cổ điển (classical gold standard) thuộc về sự kết hợp kiểu này. Cơ chế
tỷ giá bản vị đồng đô la Mỹ dƣới hệ thống Bretton Wood cũng gần tƣơng tự với
cách kết hợp trên. Ngƣợc lại, một sự kết hợp thƣờng thấy ở các quốc gia đang phát
triển với thị trƣờng tài chính yếu kém là không có khả năng vay nợ bằng đồng nội
tệ kết hợp với chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá cố định và kiểm soát vốn hoàn toàn.
Khi cho khả năng vay nợ bằng đồng nội tệ của một quốc gia bằng 0 thì mặt C
của tứ diện sẽ không tồn tại. Lúc này, tứ diện sẽ trở thành tam giác đều. Nhƣ vậy,
rõ ràng là tam giác bất khả thi của Mundell-Fleming chỉ là một trƣờng hợp đặt biệt
của thuyết tứ diện khi một quốc gia không có khả năng vay nợ nƣớc ngoài bằng
đồng nội tệ.
Hình 4: Tam giác bất khả thi – Trƣờng hợp đặc biệt của thuyết tứ diện
1.4. Mẫu hình kim cƣơng của bộ ba bất khả thi
Theo quá trình kế thừa và phát triển của bộ ba bất khả thi, các nhà kinh tế học
lại tìm tòi và phát hiện ra các nhân tố có liên quan mật thiết đến việc lựa chọn mẫu
hình bộ ba bất khả thi. Không nằm ngoài xu hƣớng đó, Aizenman, Chinn, Ito
A

thiện dần từ mô hình Mundell-Fleming đến tam giác bất khả thi Mundell-Fleming,
phát triển thành tam giác mở rộng Yigang và Tangxian (2001) và cuối cùng là
thuyết tứ diện của Hausmann (2000). Đây là những nền tảng lý thuyết vững chắc
của bộ ba bất khả thi, tạo điều kiện cho chúng tôi tiến hành phân tích sâu hơn về
tình hình bộ ba bất khả thi ở các nƣớc hiện nay, đặc biệt là Trung Quốc và Việt
Nam.
-8-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
2. Sơ lƣợc về bộ ba bất khả thi của Trung Quốc
Trong 30 năm qua, tốc độ tăng trƣởng nhanh chóng của các dòng vốn quốc tế
đã trở thành một đặc tính nổi bật trong một nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa.
Tuy nhiên những dòng vốn này không ổn định trong những năm gần đây. Dòng
chảy vốn quốc tế giảm mạnh đáng kể ở cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008,
nhƣng hồi phục nhanh chóng trong vòng chƣa đầy một năm. Những nền kinh tế thị
trƣờng mới nổi đã chứng kiến nhiều biến động của dòng vốn hơn ở các nƣớc phát
triển.
Là một trong những nền kinh tế thị trƣờng mới nổi lớn nhất, Trung Quốc
đang chứng kiến sự tăng trƣởng của dòng vốn, dẫn đến có những khó khăn trong
việc lựa chọn giữa sự độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá hối đoái. Một mặt, chính
quyền Trung Quốc duy trì ổn định tỷ giá hối đoái bằng việc tích lũy dự trữ ngoại
hối. Trong thời gian 2002-2010 ngoại hối của Trung Quốc dự trữ lên tới 280 tỷ
đôla đến 2.84 ngàn tỷ đôla, và kết quả là cung của đồng Nhân dân tăng lên 2.3
ngàn tỷ đến 22.58 ngàn tỷ, mà chủ yếu là từ dòng vốn ròng (Prasad, Eswar và Wei,
2007). Mặt khác, để giữ sự độc lập của chính sách tiền tệ và tránh những tác động
tiêu cực của dòng vốn quốc tế và kết quả là lƣợng tiền mặt trong nƣớc quá thừa,
nhà hoạch định chính sách phải cải thiện bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và
tham gia vào các hoạt động thị trƣờng mở. Hu (2011) trong nghiên cứu của ông
cho thấy rằng Trung Quốc vẫn còn quyền tự chủ nhất định của cung tiền, nhƣng
trong thực tế bằng cách nào để duy trì việc cung tiền tệ và ở mức nào vẫn dƣờng
nhƣ là một vấn đề khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc. Kể từ

có sự cân nhắc về sự phức tạp trong nguồn vốn nhằm đối mặt với thị trƣờng vốn
mở của Trung Quốc mặc dù các quy định vốn chính phủ áp dụng nghiêm ngặt.
Chúng tôi áp dụng phƣơng pháp "biểu đồ Diamond" (Aizenman và cộng sự, 2008)
để xem xét tác động của dòng vốn trên các cấu hình của Bộ Ba bất khả thi của
Trung Quốc qua thời gian. Tuy nhiên, thay vì sử dụng thêm chỉ số Aizenman của
IR / GDP để đo dự trữ quốc tế (IR) tích trữ nhƣ một cách để giảm thiểu Bộ ba bất
khả thi (khó khăn trong việc lựa chon 2 trong 3 chính sách), chúng tôi sử dụng
sáng tạo một chỉ số mới, mức độ vô hiệu hóa, hơn nữa tiết lộ của những nhà hoạch
định chính sách Trung Quốc đang nổ lực để hòa giải bộ 3 bất khả thi. Chúng tôi
thấy rằng để giữ lại một mức độ tự chủ tiền tệ, mức độ kiểm soát liên tục tăng. Tuy
nhiên, tính bền vững của việc kiểm soát bằng cách can thiệp vào thị trƣờng là một
-10-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
câu hỏi đƣợc khảo sát trong tƣơng lai, và nó ảnh hƣởng đến Bộ Ba bất khả thi nhƣ
thế nào cũng là một câu hỏi đặt ra. Vì vậy, chúng tôi đề nghị linh hoạt hơn về tỷ
giá và kiểm soát vốn thích hợp nên đƣợc áp dụng trong dài hạn.
Các phần tiếp theo: Phần II đánh giá mức độ dòng vốn đầu tƣ quốc tế của Trung
Quốc và các biện pháp mở cửa thị trƣờng vốn. Trong phần III, chúng tôi đo Bộ 3
bất khả thi của Trung Quốc bằng cách xây dựng chỉ số tính toán đƣợc của tiền tệ
Độc lập (MI), tỷ giá ổn định (ERS) và mức độ cởi mở của nguồn vốn đến thị
trƣờng mở (CMO). Sau đó, chúng tôi kiểm tra các mối quan hệ tuyến tính trong ba
mục tiêu chính sách trong Bộ Ba Bất Khả Thi và tìm hiểu xem ba chỉ số là "ràng
buộc". Phần IV là kết luận.
3. Mức độ dòng vốn quốc tế của Trung Quốc
3.1 Tổng quan về dòng vốn quốc tế tại Trung Quốc
Sau năm 2002, khi chu kỳ suy thoái diễn ra liên tiếp tại nƣớc Mỹ trong khi
đó, Trung Quốc lại duy trì cao tốc độ tăng trƣởng cao, dòng chảy của các dòng vốn
vào Trung Quốc tăng mạnh. Nhƣ báo cáo của IMF, tốc độ tăng trƣởng trung bình
hàng năm của dòng vốn đầu tƣ vào Trung Quốc trong thời gian 2002-2007 hơn
35%.

tăng để thực hiện cam kết mở cửa thị trƣờng vốn. Đặc biệt, sự phát triển của dòng
vốn đầu tƣ gián tiếp đã đƣợc thúc đẩy bởi các cải cách của thị trƣờng chứng khoán
-12-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
Trung Quốc. Thực hiện chƣơng trình QFIIs đã giảm những rào cản của kiểm soát
vốn ở Trung Quốc, và nó đã cung cấp một kênh cho đầu tƣ nƣớc ngoài cho thị
trƣờng chứng khoán Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trƣờng đầu tƣ
gián tiếp của Trung Quốc đã dần cải thiện, một phần vì các bài học kinh nghiệm từ
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 khi các nƣớc mở cửa thị trƣờng
vốn của họ quá nhanh chóng để ngăn chặn những tác động tiêu cực của đầu cơ tiền
tệ quốc tế. Bên cạnh đó, sự gia tăng của các nguồn vốn "đầu tƣ khác” đến từ cả hai
việc giảm kiểm soát vốn và dự đoán sự tăng giá của đồng Nhân dân tệ.
Khi so sánh “đầu tƣ khác” với FDI và đầu tƣ gián tiếp, trong đó bao gồm cho
vay ngân hàng và tín dụng thƣơng mại, là một trong những bất ổn nhất. Đó là bởi
vì lƣợng lớn "tiền nóng" lọt vào Trung Quốc thông qua kênh này, tìm kiếm lợi
nhuận ngắn hạn từ chênh lệch lãi suất giữa Trung Quốc và Mỹ và mong đợi của
một đồng Nhân dân tệ (RMB) đánh giá cao. Những đầu cơ "tiền nóng" có thể di
chuyển rất nhanh vào và ra khỏi thị trƣờng Trung Quốc, có khả năng dẫn đến sự
bất ổn định của thị trƣờng. Các "đầu tƣ khác" dòng vốn tăng đáng kể trong thời
gian 2002 - 2007, nhƣng đột ngột giảm xuống thể hiện ở các con số không đẹp
trong năm 2008; Tuy nhiên, trong năm 2009 số lƣợng tăng trở lại đạt mức khoảng
3/4 năm 2007. Tuy nhiên, dòng vốn đầu tƣ gián tiếp khá nhạy cảm nhất đối với
những cú sốc bên ngoài. Nó bắt đầu giảm ngay sau khi các cuộc khủng hoảng thế
chấp dƣới chuẩn xảy ra trong năm 2007. Một trong những dòng vốn khó biến động
nhất là dòng vốn FDI, nó không giảm cho đến năm 2009, có lẽ vì FDI có tính chất
dài hạn, khó có thể đảo ngƣợc và di chuyển tức thì.
3.2. Đo lƣờng CMO
Làm thế nào để đo lƣờng mức độ mở tài khoản vốn từ lâu đã là một thách
thức đối với các nhà nghiên cứu. Cho đến bây giờ, các tài liệu hiện cung cấp hai
phƣơng pháp chính để đo mức độ mở cửa thị trƣờng vốn: Thướt đo De jure và

dòng chảy thực tế. Tuy nhiên, phƣơng pháp này là dễ bị lỗi đo lƣờng, kể từ khi
dòng chảy vốn hàng năm có xu hƣớng thay đổi nhanh chóng (dễ bay hơi). Nhiều
nhà nghiên cứu phản đối đo lƣờng này cũng bởi vì họ tin rằng dòng vốn là nội sinh
(chỉ mang tính chất đầu tƣ lâu dài), và một số dòng vốn đầu tƣ gián tiếp đã không
đƣợc thúc đẩy sự mở cửa của thị trƣờng, nhƣng bằng các yếu tố khác, nhƣ lây lan
lãi suất hoặc dự đoán giá tiền tệ. (Chen, 2006) Để giảm thiểu những vấn đề này,
Kose et al. (2006) đã giới thiệu một cách tiếp cận thay đổi, trong đó sử dụng tổng
-14-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
số cổ phiếu (vốn) của tổng tài sản nứơc đó và nợ phải trả nhƣ một tỷ lệ so với
GDP.

Biểu đồ 2 mô tả mở cửa thị trƣờng vốn của Trung Quốc từ năm 1993 – 2009
bằng cách sử dụng thƣớc đo de jure (phía bên phải) và thƣớc đó de facto (bên trái).
Đối với thƣớc đo de jure, chỉ số dao động trong khoảng 0 và 1. Giá trị cao hơn của
chỉ số này cho thấy mức độ cao của sự mở cửa thị trƣờng vốn của Trung Quốc
(Xem đoạn của "Mở cửa thị trƣờng vốn" trong chƣơng tiếp theo đƣợc tính toán chi
tiết của các chỉ số). Ở bên phải, bên trái của hình 2, chúng tôi thấy các kết quả của
thang đó De jure bẳng cách sử dụng chỉ số KAOPEN. Chỉ số này có thể là trên
hoặc dƣới 0. Đối với các nƣớc có chỉ số KAOPEN dƣới số 0, sự mở cửa thị trƣờng
vốn của họ sẽ là tƣơng đối thấp. Giống với thang đo de facto, giá trị cao của chỉ số
KAOPEN chỉ ra độ mở cửa thị trƣờng vốn càng cao, và ngƣợc lại. Việc mở cửa thị
trƣờng vốn vẫn không thay đổi ở -1.2 từ năm 1993 đến năm 2009 theo thƣớc đó de
jure, điều này chỉ ra sự mở cửa thị trƣờng vốn của Trung Quốc là rất thấp. Tuy
nhiên, bằng cách sử dụng thang đo de facto, chúng tôi thấy sự mở cửa thị trƣờng
vốn của Trung Quốc ngày càng tăng lên, và xu hƣớng này tăng sau năm 2003.
Thƣớt đo de facto không phản ánh mức thay đổi của sự hội nhập trƣờng vốn
của Trung Quốc trong những năm gần đây. Vì đề tài này có ý định phân tích Trung
-15-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ




(1)
Trong đó i: đề cập đến lãi suất thị trƣờng tiền tệ của Trung Quốc, và i* đề
cập đến lãi suất thị trƣờng tiền tệ Mỹ.
-16-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
Chỉ số MI dao động giữa 0 và 1. Một giá trị chỉ số cao hơn cho thấy một
mức độ cao hơn của chính sách tiền tệ độc lập. Ở đây, chúng tôi chọn lãi suất bình
quân liên ngân hàng qua đêm (hàng tháng) và các quỹ liên bang qua đêm (hàng
tháng) nhƣ Trung Quốc và thị trƣờng tiền của Mỹ tƣơng ứng.
4.1.2 Ổn định tỷ giá (ERS)
Đƣợc sử dụng bởi Aizenman và cộng sự (2009), để đo lƣờng sự ổn định tỷ
giá, công thức (2) là bình thƣờng hóa "độ lệch chuẩn của tỷ giá hối đoái, đƣợc tính
theo năm dựa trên dữ liệu hàng tháng giữa quốc gia sở tại và các quốc gia cơ sở
"Chỉ số này sẽ đƣợc giữa 0 và 1:
 






(2)
|dlogE/dt| là giá trị tuyệt đối của tỷ lệ khấu hao so với cùng kỳ năm sử dụng tỷ giá
tháng mƣời hai của năm đó. Giá trị cao hơn của chỉ số ERS cho thấy mức độ tỷ giá
ổn định hơn. Tác giả sử dụng trung bình trung điểm hàng tháng của đồng Nhân dân
tệ so với dollar.
4.1.3 Hội nhập tài chính (KAOPEN)

trữ ngoại tệ. Thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp bắt buộc phải bán cho những
ngân hàng đã đƣợc chỉ định trƣớc, thậm chí các nhà đầu tƣ định sử nƣớc ngoài
cũng phải bán ngoại tệ cho các ngân hàng Trung Quốc để đổi lấy một lƣợng NDT
-18-
Nhóm 8 – CHNH Đêm 1 – K22 GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ
nhất định sử dụng trong lãnh thổ nƣớc này. Song song với việc quản lý chắc chẽ
thị trƣờng ngoại hoái, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trƣởng của
nền kinh tế, Trung Quốc còn phối hợp với các chính sách kinh tế nhƣ: Nới lỏng
tiền tệ và kích cầu. Trong năm này, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất cho
vay và tiền gởi bằng NDT, sai suất chiết khấu cũng giảm 1.91%, đồng thời với việc
giảm lãi suất tiền với các loại tiền gửi bằng ngoại tệ, hỗ trợ vốn cho các doanh
nghiệp, kích thích tiêu dùng ở các tầng lớp dân cƣ. Với cơ chế quản lý rất chặt chẽ
nhƣ vậy tỷ giác giữa NDT và USD vẫn đƣợc giữ gần nhƣ cố định trong khoản
8,3NDT/USD cho tới 2004. Sự sụt giảm trong năm 2005 là do chế độ tỷ giá hối
đoái của Trung Quốc đƣợc sửa đổi, trong đó đã phá vỡ sự cố định của Trung Quốc
với đồng đô la, và chuyển sang một hệ thống tỷ giá linh hoạt hơn . Đồng nhân dân
tệ đã đƣợc ổn định so với một “rổ” tiền tệ, thay vì chỉ dùng đồng đô la Mỹ. Kể từ
đó, đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc tƣơng đối ổn định cho đến tháng 8 năm
2008, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra. Chính phủ Trung Quốc đã can
thiệp vào thị trƣờng ngoại hối để bảo toàn giá trị của đồng Nhân dân tệ mục đích
ngăn chặn sự tác động tiêu cực đối với thị trƣờng trong nƣớc thông qua các kênh
ngoại hối. Cuối cùng, chỉ số tiền tệ độc lập đã không có một xu hƣớng rõ ràng, chỉ
số này dao động trong suốt thời gian quan sát. Hình 3 chỉ ra rằng ngoại trừ các năm
1997, 2003 và 2005, các chỉ tiêu khác về cơ bản dƣới dƣới 0.6. Đặc biệt là trong
năm 2006, có vẻ nhƣ là độc lập tiền tệ của Trung Quốc giảm đi nhanh chóng. Điều
này chủ yếu là do nền kinh tế trong nƣớc quá nóng. Để ngăn chặn lãi suất đảo
ngƣợc, NHTW đã can thiệp bằng cách tăng lãi suất. Đồng thời, các nƣớc khác
cũng phải đối mặt với lạm phát toàn cầu, và phải tăng lãi suất của họ, trong đó có
Hoa Kỳ. Điều này dẫn đến sự liên kết lãi suất giữa Mỹ và Trung Quốc, do đó làm
suy yếu các chỉ số độc lập tiền tệ của Trung Quốc.

hơn nữa mức độ kiểm soát của chính phủ. Vì vậy, chúng tôi đo lƣờng mức độ kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status