LUẬN VĂN:
Thực trạng sử dụng công cụ nghiệp vụ
thị trường mở trong điều hành chính
sách tiền tệ ở Việt Nam Chương I:
Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ thị trường mở I-/ Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ
1. Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ. Vì thế nghiên
cứu nghiệp vụ thị trường mở trước hết chúng ta phải tìm hiểu về chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ nhìn một cách tổng quát là một trong những chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nước do Ngân hàng Trung ương chịu trách nhiệm khởi thảo và thực thi, thông
qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm
Mức lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu
đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả. Đây là lợi ích có tầm
quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của xã hội.
Tăng trưởng kinh tế.
Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế. Vì một nền kinh tế phồn
thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ một chính sách kinh tế vĩ mô
nào. Trong đó, chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả
năng cạnh tranh Quốc tế của hàng hoá trong nước tăng lên. Đó chính là nền tảng cho mọi sự
ổn định. Vì nền kinh tế tăng trưởng sẽ đảm bảo các chính sách xã hội được thoả mãn, là
công cụ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và
khẳng định vị trí của nền kinh tế trên trường quốc tế.
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ.
Chính sách tiền tệ phải quan tâm đến khả năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã
hội của thất nghiệp. Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi: - Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì nó
phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội.
- Thất nghiệp gây nên tình trạng stress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là mầm
mống của các tệ nạn xã hội.
- Các khoản trợ cấp tăng lên có thể làm cho thay đổi cơ cấu chỉ tiêu ngân sách và làm
căng thẳng tình trạng ngân sách.
Để thực hiện được mục tiêu này, mỗi quốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên một cách chính xác. Do đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi là
một mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Ngoài các mục tiêu trên, tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế mà mỗi nước có thể
tập trung vào các mục tiêu cụ thể của riêng mình.
b/ Mục tiêu trung gian
cung ứng.
3. Các công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ của chính sách tiền tệ là hệ thống các bộ phận mà NHTW can sử dụng nhằm
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ đó đạt
được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ có thể chia thành hai loại chính là: công
cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp.
a/ Công cụ trực tiếp
Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông. Được áp dụng
phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ là hạn mức tín
dụng.
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tôn
trọng trong khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi nó thiếu tính linh hoạt và đôi khi đi
ngược lại chiều hướng biến động của thị trường tín dụng, do đó đẩy lãi suất lên cao hoặc
làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các NHTM.
b/ Công cụ gián tiếp
Đây là nhóm công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ,
thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các mục tiêu trung gian là
khối lượng tiền cung ứng và lãi suất. Bao gồm: Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản không
hưởng lãi tại NHTW. Nó được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi
tại một khoảng thời gian nào đó.
Lợi thế chủ yếu của dự trữ bắt buộc trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng là sự
thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngân hàng.
Đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng. Nhưng chính
gồm:
- Dự trữ bắt buộc
- Lãi suất
- Tái cấp vốn
- Nghiệp vụ thị trường mở
- Tỷ giá
II. Khái quát về nghiệp vụ thị trường mở
1. Khái niệm và cơ chế tác động
Khái niệm: Để xem xét khái niệm về nghiệp vụ thị trường mở, trước hết ta cần phải
hiểu thị trường mở là gì? Hiểu theo nghĩa rộng, thị trường mở (open market) là một khái
niệm chỉ 5 phạm trù: Thị trường cấp một (sơ cấp), thị trường cấp hai (thứ cấp), thị trường
vốn, thị trường tiền tệ và các thị trường tài chính khác. Còn hiểu theo nghĩa hẹp, thị trường
mở là thị trường tiền tệ mà ở đó người ta thực hiện việc mua bán các công cụ tài chính ngắn
hạn.
Vậy nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn hoặc
trung-dài hạn nhưng thời hạn còn lại là ngắn hạn của NHTW trên thị trường mở.
Cơ chế tác động: Khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động vào các
mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng.
Về mặt lượng: là ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở vào dự trữ của NHTM. Khi
NHTW mua (hoặc bán) các chứng từ có giá trên thị trường mở, nó sẽ làm tăng giảm (hoặc
tăng) ngay lập tức dự trữ của các NHTM dù người bán là NHTM hay khách hàng của nó. Vì
thế làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, dẫn đến khả năng tạo tiền gửi thông qua cung
ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng giảm xuống (hoặc tăng lên). Từ đó ảnh hưởng đến
lượng tiền cung ứng.
Về mặt giá: Khi vốn khả dụng của từng ngân hàng cá nhân giảm (tăng) do tác động
Nếu mua bán theo thoả thuận chuyển dịch tương đương hoặc mua bán lại dự trữ (còn
gọi là theo hợp đồng mua lại đảo ngược): NHTW bán chứng khoán cho người giao dịch và
người giao dịch đồng ý bán lại chứng khoán cho NHTW vào thời điểm xác định trong tương
lai. Nói cách khác, đây là một hợp đồng vay tiền. Các ngân hàng trung gian hoặc công ty
kinh doanh chứng khoán cho NHTW vay ngắn hạn chính dự trữ của họ tại tài khoản ở NHTW. Điều này sẽ tác động đến dự trữ của họ và do đó làm tăng, giảm khối lượng tín
dụng cấp phát vào nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
b/ Giao dịch hoán đổi ngoại tệ
Trong nghiệp vụ này, khi tham gia giao dịch, NHTW đồng thời ký hai hợp đồng:
- Ký một hợp đồng mua hoặc bán ngoại tệ với tỷ giá giao ngay.
- Ký một hợp đồng bán hoặc mua ngoại tệ với tỷ giá có kỳ hạn.
Tỷ giá có kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + điểm Swap
c/ Giao dịch hoán đổi các chứng khoán khi đến hạn
Loại hình này chủ yếu áp dụng ở các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ. Người nắm giữ
các chứng khoán, khi đến hạn thì có thể thực hiện nghiệp vụ chuyển đổi chứng khoán cũ
thành chứng khoán mới trên thị trường mở. Khi chuyển đổi, mệnh giá chứng khoán có thể
lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn chứng khoán mới.
Nếu giá chứng khoán cũ nhỏ hơn chứng khoán mới thì tức là NHTW thực hiện tăng
lượng tiền cung ứng. Ngược lại nếu giá chứng khoán cũ lớn hơn chứng khoán mới thì tức là
NHTW muốn hấp thụ khả năng thanh toán.
Ngoài các loại hình nghiệp vụ trên, NHTW còn có thể thực hiện một số nghiệp vụ
khác như: Phát hành chứng chỉ nợ của NHTW hoặc huy động tiền gửi với lãi suất cố định.
3. Phương thức giao dịch trên thị trường mở
a/ Giao dịch song phương: NHTW giao dịch trực tiếp với người mua bán thực hiện mua bán
hẳn chứng từ có giá.
b/ Giao dịch qua thị trường chứng khoán: Thông qua thị trường chứng khoán, qua các đại lý
chứng khoán mà NHTW tiếp cận với người mua hoặc người bán để tiến hành mua hoặc bán. 100365
1
x
LxT
Gt
Gd
Trong đó: Gd là giá bán các chứng từ có giá
Gt là giá trị của giấy tờ có giá khi đến hạn thanh toán.
T là thời hạn còn lại của giấy tờ có giá
L là lãi suất thống nhất hoặc lãi suất riêng lẻ (tính theo %/năm)
Nếu thực hiện mua bán có kỳ hạn thì giá mua bán lại giữa NHTW với các tổ chức tín
dụng được xác định theo công thức: Trong đó: Gv là giá mua lại
Tb là thời hạn mua bán
4. Ưu nhược điểm của công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở có nhiều ưu điểm. Với các nước phát triển đã từng
sử dụng các công cụ để điều chỉnh cơ cấu tiền tệ và tạo ra những biến động trong cung ứng
tiền thì nghiệp vụ thị trường mở luôn là công cụ tuyệt vời nhất, có vai trò quyết định quan
định mua hoặc bán thì nó tìm mọi cách định giá và đặt ra các điều kiện để thu hút các
NHTM tham gia tích cực đáp ứng được yêu cầu của NHTW. Ngoài ra, nghiệp vụ thị trường
mở có thể được hoàn thành nhanh chóng, không gây nên những chậm trễ về mặt hành chính.
Với những lợi thế hơn hẳn các công cụ khác nên sau khi ra đời, nghiệp vụ thị trường
mở đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước phát triển. Tuy nhiên, nghiệp vụ thị trường
mở còn có một số hạn chế. Nhược điểm lớn nhất của nghiệp vụ này là để công cụ này phát
huy hiệu quả thì quốc gia đó phải có một thị trường tài chính phát triển, hàng hoá của thị
trường là các giấy tờ có giá ngắn hạn phải phong phú và đa dạng. Không những thế, NHTW
còn phải có khả năng dự báo được vốn khả dụng của toàn hệ thống để can thiệp mua bán, có
như vậy việc can thiệp mới có ý nghĩa lớn trong việc tác động vào lượng tiền cung ứng.
Ngoài ra, khi NHTW mua bán làm tác động đến lượng tiền Trung ương, từ đó sẽ ảnh hưởng
đến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng này, NHTW
phải có các giải pháp xử lý phù hợp. Điều này đòi hỏi NHTW phải rất nhạy cảm và linh
hoạt trong việc phối hợp các công cụ điều hành chính sách tiền tệ. Chương II:
Thực trạng sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền
tệ ở Việt Nam I-/ Vài nét về nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam
1. Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operations, viết tắt là OMO) được NHTW các
quốc gia sử dụng như một công cụ gián tiếp trong việc điều hành chính sách tiền tệ, thông
qua việc làm thay đổi vốn khả dụng (hay nói cách khác là dự trữ) của hệ thống ngân hàng.
Từ đó gián tiếp làm thay đổi lượng tiền cơ bản theo mục tiêu của chính sách tiền tệ. Nghiệp
vụ thị trường mở đã ra đời từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi ở Mỹ và một số nước
trường đấu thầu vẫn chỉ là các NHTM quốc doanh và các công ty bảo hiểm Nhà nước quen
thuộc. Các thành viên khác đã có đăng ký nhưng rất ít tham gia. Trong từng phiên đấu thầu
còn quy định một loại kỳ hạn (364 ngày) và áp dụng cơ chế lãi suất trần. Cơ chế này, một
mặt chưa được phát huy đầy đủ hiệu lực của pháp luật hiện hành (Luật NHNN Việt Nam
cho phép tổ chức đấu thầu các loại tín phiếu và tín phiếu kho bạc), mặt khác chưa đáp ứng
được nhu cầu huy động vốn của các công trình đầu tư bằng nguồn vốn của Ngân sách Nhà
nước nhưng tạm thời Ngân sách Nhà nước chưa bố trí được.
b/ Thị trường trái phiếu Chính phủ
Năm 1991, trái phiếu Chính phủ ra đời để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ
(không thông qua kênh phát hành tiền của NHTW nữa). Đến 1994, khi trái phiếu kho bạc,
tín phiếu kho bạc và trái phiếu công trình được phép phát hành rộng rãi thì thị trường trái
phiếu Chính phủ mới tương đối được mở rộng. Trước năm 1995, trái phiếu Chính phủ phát
hành trực tiếp đến công chúng tại các chi nhánh kho bạc nên khối lượng trái phiếu nhỏ: 17
tỷ đồng (trong cả giai đoạn 1991-1995). Từ tháng 6/1995, bắt đầu phát hành qua NHNN, lượng trái phiếu đã dồi dào hơn. Theo Quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ được ban
hành kèm theo NĐ 01/2000/NĐ - CP ngày 13-1-2000 của Chính phủ thì trái phiếu Chính
phủ được ban hành qua các kênh như: đấu thầu qua NHNN; phát hành thông qua thị trường
chứng khoán, bán lẻ qua hệ thống kho bạc Nhà nước, đại lý phát hành và bảo lãnh phát hành
(đối với trái phiếu kho bạc và tín phiếu đầu tư).
Như vậy, trong nền kinh tế chuyển đổi theo cơ chế thị trường, trái phiếu Chính phủ đã
mở ra một kênh huy động vốn mới trong nền kinh tế với số lượng huy động hàng năm khá
lớn, thời gian phát hành tương đối liên tục, đối tượng huy động chủ yếu là nguồn vốn nhàn
rỗi trong dân cư, đã góp phần tích cực vào việc giảm bớt sức ép của tiền mặt trong lưu
thông, hạn chế những tác động tiêu cực của lạm phát. Trái phiếu Chính phủ ngày càng
khẳng định được ưu thế của nó trong thị trường tài chính. Với hình thức đa dạng, phương
thức phát hành phong phú và không ngừng được cải tiến, độ an toàn cao, phạm vi và đối
tượng huy động rộng, cơ chế quản lý ngày càng hoàn thiện, nó đã đảm bảo được quyền lợi
và thị hiếu của nhà đầu tư cũng như nhu cầu sử dụng vốn của Ngân sách Nhà nước, đồng
rộng rãi ra công chúng nhưng không có công bố công tin. Các trái phiếu hầu hết có thời hạn
ngắn (dài nhất là 5 năm, còn chủ yếu là 2 năm), do vậy chưa thể đáp ứng được các tiêu
chuẩn kỹ thuật để được niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán, kể cả trái phiếu của
các tổ chức tín dụng lớn phát hành. Đến nay mới chỉ có trái phiếu của ngân hàng Đầu tư và
phát triển Việt Nam đã hội đủ các điều kiện theo quy định và được cấp phép niêm yết tại
trung tâm giao dịch chứng khoán. Khối lượng trái phiếu giao dịch trên thị trường khá khiêm
tốn.
Hiện nay trên trung tâm giao dịch chứng khoán đã có 12 công ty niêm yết. Trong quý
II/2002, dự kiến có khoảng 5 đến 7 công ty lớn niêm yết và đưa cổ phiếu vào giao dịch
(tổng trị giá niêm yết từ 500 đến 700 tỷ đồng). Mặc dù số lượng hàng hoá đã tăng lên nhưng
vẫn còn ít và nghèo nàn. Đặc biệt giá cả chứng khoán biến động mạnh mẽ không theo một
quy luật nào làm cho một số nhà đầu tư cũng khá lo sợ khi quyết định đầu tư và thị trường
chứng khoán. Trái phiếu Chính phủ giao dịch trên thị trường là rất ít.
3. Khuôn khổ pháp lý
Trong năm 2000, hàng loạt các văn bản về các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ thị
trường mở đã được ban hành như: Quy chế nghiệp vụ thị trường mở, Quy trình nghiệp vụ
thị trường mở, Quy định đăng ký giấy tờ có giá, Quy chế quản lý vốn khả dụng, Quy trình
nghiệp vụ đấu thầu tín phiếu NHNN… Trong đó đáng chú ý nhất là Quy chế nghiệp vụ thị
trường mở được NHNN Việt Nam ban hành theo quyết định số 85/2000/QĐ - NHNN 14
ngày 9-3-2000. Nội dung cơ bản của quy chế đã nêu lên được những quy định chung về ban
điều hành nghiệp vụ thị trường mở, thành viên tham gia thị trường, phương thức đấu thầu,
quy trình đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam.
Ngoài ra, ngay trong Luật NHNN Việt Nam ban hành tháng 12/1997, cũng đã đề cập
đến việc sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ.
4. Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ
Theo quy định của NHNN thì các thành viên tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở
- Lượng ngoại tệ NHNN có thể bán cho các NHTM.
- Lượng tái cấp vốn chó các tổ chức tín dụng.
- Lượng vốn dùng để cấp tín dụng cho Chính phủ.
Tiếp đó là việc xác định lượng vốn khả dụng biến động qua các kỳ thông qua bảng cân
đối vốn của NHNN.
Tài s
ản có ròng (NFA)
Ti
ền mặt ngoài l
ưu thông (C)
Tài s
ản có nội
đ
ịa ròng (NDA)
D
ự trữ (R)
- Dự trữ bắt buộc
- Dự trữ vượt mức
Tài s
ản có khác (OA)
1353,5 tỷ đồng.
Từ 1-1-2001, NHNN thực hiện giao dịch định kỳ 7 ngày/lần. Từ đầu năm 2001 đến
15-2, lượng vốn khả dụng tiếp tục thiếu hụt do nhu cầu tiền mặt tăng (trong đó nguyên nhân
đây là thời gian cuối năm âm lịch), NHNN tiếp tục mua vào giấy tờ có giá, chủ yếu là mua
kỳ hạn do tính đến yếu tố lượng vốn khả dụng có thể tăng lên sau dịp Tết nguyên đán.
Từ 21-2 đến 14-4, lượng vốn khả dụng có biểu hiện dư thừa. Để rút bớt phương tiện
thanh toán khỏi hệ thống ngân hàng, NHNN thực hiện bán hẳn lượng giấy tờ có giá với giá
với giá trị là 470 tỷ VND.
Từ 21-3 đến cuối tháng 4, do nhu cầu vốn khả dụng tăng, NHNN tổ chức các phiên
giao dịch trên thị trường mở với mục tiêu cung ứng thêm phương tiện thanh toán cho hệ
thống.
Một vấn đặt ra là khi tham gia nghiệp vụ thị trường mở các tổ chức tín dụng được lợi
ích gì? Đây là vấn đề cốt yếu mà các tổ chức tín dụng cần quan tâm đến. Trong hoạt động
kinh doanh, để đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên của mình, các tổ chức tín dụng
phải dự trữ một số tiền nhất định theo tỷ lệ với tổng nguồn vốn huy động để thực hiện dự trữ
bắt buộc theo quy định của NHNN và bảo đảm khả năng thanh toán. Theo phương pháp
truyền thống, ngoài dự trữ tiền mặt tại các tổ chức tín dụng thì còn gửi một phần vốn tiền
gửi tại NHNN (gọi là dự trữ sơ cấp). Nếu xác định khối lượng dự trữ cần thiết không chuẩn
xác sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Cụ thể là,
nếu dự trữ quá cao sẽ lãng phí, chi phí đầu vào cao; nếu dự trữ quá thấp sẽ không bảo đảm
an toàn trong hoạt động kinh doanh. Để năng động trong sử dụng vốn, ngoài dự trữ truyền
thống, các tổ chức tín dụng cần thực hiện dự trữ các giấy tờ có giá có tính lỏng cao: tín
phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN… (gọi là dự trữ thứ cấp) nhằm tận dụng tối đa khả năng
nguồn vốn của mình trong hoạt động kinh doanh. Việc dự trữ thứ cấp vừa mang lại một
nguồn thu nhập cho các tổ chức tín dụng, đồng thời còn đảm bảo khả năng thanh toán cho
họ. Trong điều kiện ở Việt Nam, thị trường thứ cấp, mua bán lại giấy tờ có giá chưa phát
triển thì thị trường mở là nơi lý tưởng để các tổ chức tín dụng thực hiện việc mua bán, kinh doanh giấy tờ có giá với NHNN theo giá thị trường. Tham gia nghiệp vụ thị trường mở, các
Như vậy, có thể thấy, NHNN đã cố gắng thực hiện việc điều hành chính sách tiền tệ
bằng công cụ gián tiếp. Nghiệp vụ thị trường mở đã được thực hiện tương đối linh hoạt đáp
ứng được phần nào đó nhu cầu về vốn khả dụng cũng như giải quyết được một phần lượng
vốn khả dụng dư thừa trong một số thời kỳ. Các công cụ và hình thức thực hiện cũng đã
được áp dụng tương đối thành công.
2. Một số tồn tại và hạn chế.
Tuy nghiệp vụ thị trường mở bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng
vẫn bộc lộ một số tồn tại và hạn chế.
a/ Số lượng thành viên tham gia thị trường còn quá ít.
Thực tế hoạt động thị trường mở chưa thật sôi động. Trong số 21 thành viên tham gia
thị trường thì chủ yếu là 4 NHTM quốc doanh. Và trên thực tế, các NHTM quốc doanh cũng
nắm giữ tới hơn 70% lượng tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN. Mặc dù số thành viên đăng
ký tham gia là 21 nhưng ở mỗi phiên giao dịch chỉ có từ 1đến 5 thành viên tham gia. Các
thành viên tham gia chủ yếu là các NHTM Nhà nước. Sự tham gia của các tổ chức tín dụng
khác trên thị trường còn mờ nhạt.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên?
Chúng ta biết rằng các chủ thể tham gia trên thị trường mở là rất phong phú. ở các
nước phát triển, đó là NHTW, các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, kho bạc Nhà
nước, các doanh nghiệp tốt, các nhà môi giới và cả các hộ gia đình. ở Việt Nam, do quy
định của NHNN khá chặt chẽ nên thành viên tham gia thị trường mở đa số là các tổ chức tín
dụng. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng chỉ có duy nhất một công ty tài chính tham gia.
Các doanh nghiệp và hộ gia đình không thể trực tiếp tham gia vào thị trường mở. Muốn giao
dịch ở đây, họ phải gián tiếp thông qua các NHTM.
Một lý do khác là hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn cải
cách, củng cố nên cũng ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào thị trường. NHNN lại chưa phát huy tốt vai trò hướng dẫn thị trường nên việc tham gia thị trường của các tổ chức, cá
nhân còn hạn chế. Một số định chế tài chính như công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ… chưa
năng rủi ro thì việc hạn chế sử dụng những chứng khoán có rủi ro cao hơn trong giao dịch
trên thị trường mở là một việc làm đúng.
c/ Chất lượng hàng hoá chưa cao nên sức hấp dẫn kém
Không chỉ ít ỏi về khối lượng, chất lượng các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị
trường cũng là một vấn đề đáng suy nghĩ. Điều đầu tiên cần đề cập đến chính là lãi suất của
các loại chứng khoán Chính phủ.
Đối với các nhà đầu tư thì lãi suất của chứng khoán Chính phủ không có sức hấp dẫn.
Lãi suất tín phiếu kho bạc đang thấp hơn lãi suất tiền gửi 12 tháng của các ngân hàng, không
lẽ lại huy động tiền gửi với lãi suất 6,5%/năm để đi mua trái phiếu kho bạc lãi suất
5,5%/năm? Nó còn bị lệ thuộc vào chỉ đạo nên chưa phản ánh được lãi suất thị trường. Lãi
suất của trái phiếu Chính phủ thì chỉ có 6,5% đến 6,6%/năm và lãi suất năm của tín phiếu
kho bạc 5 năm tương đương với lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1 năm và thấp hơn nhiều so với
10%/năm là tỷ lệ cổ tức nhỏ nhất mà các doanh nghiệp đảm bảo trả cho các cổ phiếu mà họ
phát hành. Mặc dù đó chỉ là lãi suất danh nghĩa, nếu tính toán quy đổi lãi suất thực có thể
không đúng như vậy, nhưng người đầu tư chưa quen kỹ thuật tính toán để đầu tư có hiệu
quả trên thị trường chứng khoán. Hơn nữa, một số người mua chứng khoán không phải vì
mục tiêu hưởng lãi mà vì chênh lệch giá.
Bên cạnh đó, kỳ hạn của tín phiếu lại hạn chế, chỉ gồm một kỳ hạn duy nhất là 364
ngày.
Mặt khác, mục đích mua trái phiếu Chính phủ của các tổ chức tín dụng chủ yếu để giải
quyết tình trạng thừa vốn tạm thời. Nhưng khi cần vốn thì khả năng thanh toán lại rất kém vì
việc bán trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp không dễ dàng.
Với những lý do trên thì sức hút ở đâu để cho các NHTM và các nhà đầu tư có thể thường
xuyên dự trữ và giao dịch chứng khoán kho bạc trên thị trường mở.
d/ Phương thức giao dịch chưa đa dạng và linh hoạt