TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TERM PAPER TCDN
ĐỀ TÀI:
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ
GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Kuben Rayan
Ngày 13 Tháng 11, năm 2008
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. Trần Ngọc Thơ
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Lớp : TCDN-Đêm 1-K20
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2012
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
DANH SÁCH NHÓM 8 - TCDN ĐÊM 1 - K20
HỌ VÀ TÊN
1. Vũ Trung Dũng
2. Nguyễn Tuấn Đạt
3. Huỳnh Thị Hải Hà
4. Nguyễn Thị Thu Hà
5. Nguyễn Thị Hoa
6. Đặng Thị Hòa
7. Ngô Thị Hân
8. Hà Đức Hiếu
9. Trần Minh Lam
10. Huỳnh Thị Phương Lan
11. Văn Thị Mỹ Ngân
12. Phạm Văn Thường
13. Trần Thị Ánh Tuyết
14. Trần Thị Kim Yến
15. Lê Thị Hồng
- 2 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Phân tích này được tiến hành trên tất cả các công ty được liệt kê trên JSE ngoại
trừ các ngân hàng và các công ty khai thác khoáng sản giai đoạn từ 1997 đến 2007. Đầu
tiên phải xác định mối tương quan trực tiếp giữa đòn bẩy tài chính và giá trị doanh
nghiệp. Tiếp theo, xác định mối tương quan trực tiếp giữa cấu trúc vốn của doanh
nghiệp và tỷ lệ lãi suất ở Nam Phi trong giai đoạn mười năm để tìm hiểu về tác động tích
cực và tiêu cực của chúng. Cuối cùng là tìm hiểu về cấu trúc vốn đã tiến triển qua các
giai đoạn trong các ngành công nghiệp khác nhau như thế nào.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu nhân quả. Cách tiếp cận để
xác định mối quan hệ nhân quả đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp cũng như giữa
sự thay đổi của lãi suất và cấu trúc vốn (Zikmund, 2003).
Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách sử dụng các dữ liệu thứ cấp từ nguồn
của McGregor BFA trong giai đoạn 1998-2007. Mẫu nghiên cứu bao gồm 113 doanh
nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Johannesburg (JSE), phân chia
theo lĩnh vực khác nhau để phân biệt tính năng động giữa các ngành.
Phân tích hồi quy được thực hiện cho cả hai lần kiểm định
- 4 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Đòn bẩy và cấu trúc vốn
Theo Ward và Price (2006), đòn bẩy tài chính là phần vốn được tài trợ bởi nợ,
chứ không phải vốn cổ phần. Vì vậy đòn bẩy càng cao, khoản nợ vay cũng càng cao.
Còn theo các tác giả: Firer, Ross, Westerfield và Jordan (2004) cũng cho rằng cấu
trúc vốn đề cập đến các khoản nợ liên quan và vốn cổ phần mà một doanh nghiệp sử
dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình.
4. Có một số chi phí phát sinh trong trường hợp phá sản.
Các lý thuyết cấu trúc vốn khác nhau đã được phát triển qua các thập kỷ. Những
điểm nêu trên cũng sẽ được thảo luận chi tiết hơn.
1.1.4 Lý thuyết trật tự phân hạng
Myers và Majluf (1984) cho rằng khuôn khổ "trật tự phân hạng" được dựa trên
các thông tin bất cân xứng, khi các giám đốc có thông tin nội bộ về tiềm năng của doanh
nghiệp và hành động vì lợi ích của cổ đông hiện hữu. Theo thuyết trật tự phân hạng, các
doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ (từ lợi nhuận giữ lại) hơn là tài trợ từ bên ngoài, và khi
cần tài trợ từ bên ngoài, các doanh nghiệp lại thích nợ rồi mới đến vốn cổ phần. Myers
(1984) làm dịu lý thuyết trật tự phân hạng cứng nhắc và đề nghị rằng các doanh nghiệp
với nhiều cơ hội đầu tư có thể quyết định phát hành vốn cổ phần trước khi điều đó là
hoàn toàn cần thiết.
- 6 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
1.1.5 Lý thuyết đánh đổi
Myers (2001) mặc nhiên công nhận rằng nợ mang lại cho các doanh nghiệp một
lá chắn thuế, và do đó các doanh nghiệp thường theo đuổi tỷ lệ nợ cao hơn để đạt được
lợi ích thuế tối đa và cuối cùng là nâng cao lợi nhuận. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ cao làm gia
tăng khả năng phá sản.
Myers (1984) khẳng định rằng phương pháp tiếp cận thuyết đánh đổi có nghĩa là
sử dụng đòn bẩy như là một mục tiêu hoặc ở mức tối ưu. Frank và Goyal (2005) chia
thuyết đánh đổi Myers thành hai phần:
1.Thuyết đánh đổi tĩnh, khi mà đòn bẩy nợ được quyết định bởi sự đánh đổi trong
một giai đoạn.
2. Hành vi điều chỉnh mục tiêu, khi mà đòn bẩy của doanh nghiệp dần dần trở
thành mục tiêu theo thời gian.
Gần đây tác giả đã phát triển một mô hình đánh đổi năng động không chỉ để
chứng minh đòn bẩy phải đạt mức độ tối ưu, mà còn để hiểu làm thế nào nhanh chóng
thực hiện điều chỉnh này (Hennessy và Whitehead, 2005).
này ít được kiểm tra bằng thực nghiệm. Chỉ dựa trên sự khan hiếm thông tin sẵn có, lý
thuyết vòng đời cho thấy, họ đồng ý với thuyết đánh đổi tĩnh, rằng tỷ lệ nợ nên theo một
mô hình thấp – cao - thấp trong vòng đời của một doanh nghiệp.
1.1.8 Lý thuyết bất cân xứng thông tin
Lý thuyết bất cân xứng thông tin của cấu trúc vốn được ghi nhận là công trình của
Ross (1977). Ông cho rằng các giám đốc biết nhiều thông tin về các tiềm năng của doanh
nghiệp mình hơn là các nhà đầu từ bên ngoài. Vì vậy sự lựa chọn cấu trúc vốn của các
giám đốc có thể cung cấp cho thị trường các tín hiệu về tiềm năng của doanh nghiệp
trong tương lai. Tăng đòn bẩy sẽ báo hiệu cho thị trường rằng các giám đốc tự tin về việc
- 8 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
trả lãi vay, và từ đó thể hiện sự tự tin về tiềm năng của doanh nghiệp. Do đó một sự gia
tăng đòn bẩy sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp khi các nhà đầu tư cho rằng điều này
sẽ là một tín hiệu tích cực về qui mô và sự ổn định của dòng tiền trong tương lai.
Fama và Pháp (1988) không đồng ý với quan điểm này, cho rằng các doanh
nghiệp có lợi nhuận càng cao thì xu hướng sẽ có tỷ lệ nợ càng thấp. Trong trường hợp
này gia tăng nợ sẽ báo hiệu viễn cảnh tương lai khó khăn cho doanh nghiệp, vì thu nhập
trong tương lai sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực do dòng tiền được sử dụng để trả nợ, giảm
lượng tiền và nguồn tiền sẵn có để tài trợ cho các dự án phát triển trong tương lai. Raju
và Roy (2000) cho rằng giá trị của thông tin sẵn có đóng góp vào lợi nhuận doanh
nghiệp cao hơn đối với những doanh nghiệp lớn và lợi nhuận cũng cao hơn đối với
những ngành công nghiệp có sự cạnh tranh ở cường độ cao. Vì vậy, khi các giám đốc
phát đi thông tin đáng tin cậy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và có tác
động đến nhận thức của các nhà đầu tư bên ngoài.
Cuối cùng, Liu (2006) khẳng định rằng có sự gia tăng trong việc giám sát doanh
nghiệp như là qui mô của việc gia tăng tài trợ từ bên ngoài. Điều này xem như là một
yếu tố giảm nhẹ đối với những thách thức của bất đối xứng thông tin và các chi phí đại
diện như đã đề cập trước đó. Stulz (2000), Rajan và Winton (1995) cũng ủng hộ quan
điểm này. Mặc nhiên, việc vay mượn này hỗ trợ cho lý thuyết trật tự phân hạng khi các
cuối cùng là ảnh hưởng đến dòng tiền của một doanh nghiệp.
Choi, Elyasiani, và Kopecky (1992); Choi, và Elyasiani (1997) điều tra sự nhạy
cảm của tỷ suất sinh lợi và lãi suất, tỷ giá hối đoái thấy rằng tất cả hệ số rủi ro lãi suất có
ý nghĩa tiêu cực. Joseph (2002) trong mô hình tác động của việc thay đổi lãi suất và tỷ
giá hối đoái lên lợi nhuận trên một cổ phiếu (stock returns) ở Anh, nghiên cứu của ông
về lợi nhuận trên một cổ phiếu Anh phát hiện rằng thay đổi lãi suất có tác động lớn hơn
đến lợi nhuận trên một cổ phiếu so với thay đổi trong tỷ giá hối đoái. Cuối cùng Hyde
(2007) kết luận rằng các ngành công nghiệp ở Pháp và Đức đã bộc lộ mức độ quan trọng
- 10 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
của rủi ro lãi suất, trong khi đây không phải là trường hợp ở Ý. Ông cũng nói rằng những
thay đổi bất ngờ về lãi suất thực có chứa thông tin quan trọng về dòng tiền tương lai và
lợi nhuận siêu ngạch trong tương lai.
1.1.11 Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn
1.1.11.1 Lợi nhuận
Theo lý thuyết đánh đổi, các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi huy động nợ
nhiều hơn khi họ muốn có một gánh nặng thuế cao và nguy cơ phá sản thấp (Ooi, 1999).
Tuy nhiên, Myers (1984) lập luận rằng các doanh nghiệp thành công không cần phải phụ
thuộc nhiều vào nguồn vốn bên ngoài, vì họ dựa vào nguồn nội bộ. Do đó, có một mối
quan hệ nghịch biến giữa nợ và lợi nhuận. Titman và Wessels (1988) cũng đồng tình với
lập luận này.
1.1.11.2 Tăng trưởng
Mối quan hệ giữa tăng trưởng và cấu trúc vốn có thể được giải thích bằng lý
thuyết trật tự phân hạng. Các doanh nghiệp tăng trưởng đặt ra yêu cầu cao hơn về dự trữ
nội bộ. Marsh (1982) cũng thừa nhận làcác doanh nghiệp với mức tăng trưởng cao sẽ có
tỷ lệ nợ tương đối cao. Tuy nhiên, Myers (1977) lập luận rằng giá trị của nợ là tỷ lệ
nghịch với tốc độ tăng trưởng trong việc tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Titman và Wessels (1988) cơ hội phát triển tài sản vốn làm tăng giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên kể từ khi các tài sản này không tạo ra thu nhập chịu thuế thì chúng không thể
thuế sẽ làm giảm tỉ lệ thuế biên hiệu quả lên khấu trừ lợi nhuận. Graham (1996) kết luận
thuế có tác động đến quyết định tài trợ doanh nghiệp, nhưng mức độ của tác động này thì
không quan trọng. Mặt khác, DeAngelo và Masulis (1980) kết luận rằng tác động thay
thế là rất khó để đo lường, như tìm kiếm một sự hiện diện chính xác cho sự khấu trừ thuế
cái mà sẽ loại trừ tác động của khấu hao và chi phí gặp nhiều khó khăn.
- 12 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
1.2 Các bằng chứng thực nghiệm
1.2.1 Sharma, A.K. (2006) Financial Leverage and Firm’s Value: A Study of
Capital Structure of Selected Manufacturing Sector Firms in India. The Business Review,
Cambridge.
1.2.2 De Wet, J.H.VH năm 2006: Determining the optimal capital structure: a
practical contemporary approach
1.2.3 Frielinghaus, A., Mostert B., and Firer, C. (2005) Capital Structure and
the firm’s life stage. South African Journal of Business Management
1.2.4 Harrris, M., and Raviv, A. (1990) Capital structure and the
informational role of debt. Journal of Finance
1.2.5 Grossman S.J., and Hart O.D. (1982) Corporate Financial
Structure and Managerial Incentives. In The Economics of Financial Uncertainty.
Chicago. University of Chicago Press.
1.2.6 Annalien de Vries (2010), The effect of characteristics and economic factors
on the capital structure of South African listed industrial firms.
1.2.7 Frank, M.Z., and Goyal, K.(2003) Testing pecking order of capital structure.
Journal of Financial Economic
1.2.8 Amidu, M. (2007) Determinants of capital structure of banks in Ghana: an
empirical approach. Baltic Journal of Management
1.2.9 Lui, Y. (2006) The sources of debt matter too. Journal of Financial and
Quantitative Analysi
1.2.10 Ottoson, E. and Weissenrieder, F. (1996) Cash Value Added - A New
phù hợp theo Ward and Price.
Ý nghĩa của tỷ số nợ trên vốn cổ phần đối với thị trường tương đối cao. Một số
các nhân tố có thể giải thích điều này và nó liên quan tới cả các lý thuyết về cấu trúc vốn
và các nhân tố vĩ mô. Nhiều DN trong mẫu nghiên cứu chỉ hoạt động trong một số năm.
Một tỷ lệ lớn mẫu được hình thành từ DN thuộc nhóm ngành công nghiệp, hàng hóa tiêu
dùng và khu vực hàng hóa dịch vụ. Khu vực này tương đối trưởng thành. Vì thế, tỷ lệ nợ
- 15 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
cao có thể là đặc trưng cho những doanh nghiệp trưởng thành trong mẫu. Điều này phù
hợp với lý thuyết vòng đời của Bender and Ward (1993). Tỷ lệ nợ cao cung cấp chứng
cứ của các DN đại diện trong mẫu là trưởng thành. Với sự liên quan tới ảnh hưởng của
kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán sụp đổ vào cuối những năm 1990 và ảnh hưởng
của hiện tượng dot com đầu năm 2000, cả hai đều cung cấp tình trạng không hoàn hảo
của thị trường, đưa ra sự giải thích cho việc gia tăng nợ trong đầu năm 2000. Các DN gia
tăng tỷ lệ nợ để đáp ứng cho những nhu cầu tài chính phát sinh.
Một sự đóng góp xa hơn cho việc ra quyết định của các nhà quản lý dựa trên các
nhân tố vĩ mô bên ngoài giai đoạn này tương thích với lý thuyết Bất cân xứng thông tin
(information asymmetry) của Ross. Trong nổ lực để đưa ra cho thị trường một dấu hiệu
rõ ràng về triển vọng DN, những nhà quản trị tăng sử dụng nợ đầu năm 2000, như được
trình bày trong biểu đồ 2. Sự gia tăng về tỷ lệ nợ trong biểu đồ 2 ủng hộ lập luận của
Milov’s (2002) cho rằng cam kết trong quản trị doanh nhgiệp đối với các quy tắc nội bộ
giảm chi phí đại diện của việc sử dụng nợ, bởi vì tăng mức độ sử dụng nợ đồng nghĩa
với việc bị kiểm soát chặt chẽ hơn bởi các chủ nợ.
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp theo ngành
Các kết quả nghiên cứu cho các ngành khác nhau cũng có sự khác biệt. Hầu hết
các nghiên cứu về tỷ số giá trị DN đều chỉ ra rằng có mối tương quan nghịch biến với sự
thay đổi trong đòn bẩy tài chính, trừ trường hợp đối với nghành Y tế. Sự khác biệt được
tìm thấy này ủng hộ cho lý thuyết của Schwart và Aronson’s (1967).
Kết quả thể hiện tác động của đòn bẩy tài chính lên giá trị DN đối với nghành Y
Với độ trễ 1 năm, ở mức ý nghĩa 5%, kết quả hồi quy cũng cho thấy không có
mối tương quan đáng kể nào giữa lãi suất và tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần ở các ngành.
Kết quả của giả thuyết 2:
Giả thuyết H0 là một sự gia tăng về lãi suất sẽ không tác động đến đòn bẩy của
DN. Giả thuyết ngược lại H1 là việc thay đổi lãi suất tác động đến đòn bẩy của doanh
nghiệp .
Kết quả thu được cho thấy không thể đưa đến kết luận cho giả thuyết H1. Nó
cũng không đồng tình với phát hiện của Ju và Leland (2001), họ thừa nhận rằng cấu trúc
vốn tối ưu thì rất nhạy cảm với việc thay đổi của lãi suất.
- 17 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Một lý do có thể không đưa ra được kết luận là dữ liệu tài chính phản ánh theo
từng năm, trong khi sự thay đổi lãi suất xảy ra thường xuyên hơn. Nếu tỷ lệ nợ trên vốn
chủ sở hữu có thể thay đổi thường xuyên hơn, thí dụ như thay đổi hàng quý, thì kết quả
thu được có nhiều ý nghĩa hơn, do sự thay đổi tỷ lệ D/E sẽ theo dõi tốt hơn phản ứng của
chúng đối với sự biến động lãi suất.
Giả thuyết trên đã được kiểm định với độ trễ một năm để chắc chắn liệu rằng cấu
trúc vốn có phản ứng trễ đối với sự biến động lãi suất. Tuy nhiên kết quả này không cho
ra kết luận.
- 18 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CÁC NGHIÊN CỨU TIẾP
THEO
3.1 Cấu trúc vốn và Giá trị doanh nghiệp
Tranh luận về cấu trúc vốn diễn ra trong nhiều thập kỷ qua đều đưa ra những lập
luận hợp lý cho việc ủng hộ hay phản đối việc gia tăng mức độ đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp. Những kết quả thu được từ nghiên cứu này cho thấy sự phức tạp của cấu
trúc vốn và những tác động của nó lên giá trị doanh nghiệp. Việc đưa vào một số lượng
năm của doanh nghiệp. Do vậy, chỉ có dữ liệu theo năm, trong khi mức lãi suất tại Nam
Phi biến động nhiều lần trong năm (SA Reserve bank, 2008).
Trong khi các kết quả thu được cung cấp rất ít thông tin, những kết quả thống kê
cung cấp cái nhìn rõ ràng hơn về rủi ro trong việc sử dụng đòn bẫy quá cao. Cần tập
trung vào sự biến động lãi suất và các tác động của nó không chỉ đối với các doanh
nghiệp nói riêng mà còn cả các ngành và nền kinh tế nói chung như các bằng chứng đã
được đưa ra bởi Mapenzauswa (2008). Những tác động của lãi suất trong năm qua đã
khiến nhiều doanh nghiệp phá sản do tình trạng kiệt quệ tài chính. Điều này minh chứng
thêm cho Ward và Price (2006) và Mayer (2001), những người đã lập luận rằng việc gia
tăng tỷ lệ nợ làm tăng nguy cơ phá sản. Cuộc khủng khoảng tín dụng trong năm vừa qua
ở Nam Phi đưa ra dấu hiệu ban đầu bằng sự gia tăng trong lãi suất và sau đó bằng cuộc
khủng hoảng trên thị trường chứng khoán. Điều này cung cấp bằng chứng thuyết phục về
tác động tiêu cực của việc mở rộng nợ vay vượt ra khỏi ngưỡng nợ tối ưu đã được chỉ ra
bởi De Wet (2006).
3.3 Tổng hợp cách tiếp cận với cấu trúc vốn tối ưu
Dựa trên những kết quả nghiên cứu trước đây cũng như kết quả thu được trong
bài nghiên cứu này, cho thấy rằng cấu trúc vốn là một chủ đề phức tạp. Đã có nhiều các
- 20 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
lý thuyết chỉ ra các tác động. Mô hình được đưa ra trong biểu đồ 10 bên dưới chỉ ra sự
phức tạp cũng như khả năng tiếp cập tốt nhất để xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu.
Có thể thấy rằng các lý thuyết được miêu tả trong mô hình chưa thể hiện được hết
các khía cạnh của vấn đề. Tuy nhiên trong bối cảnh của bài nghiên cứu này việc sử dụng
chúng là phù hợp. Lưu ý rằng để đạt được một cấu trúc vốn tối ưu là điều hết sức khó
khăn; do vậy sẽ thích hợp để thực hiện trong một khoảng thời gian hoặc phạm vi chấp
nhận được (De Wet, 2006).
Đồ thị 10 cung cấp một cách tiếp cận tổng hợp tới cấu trúc vốn, nó đề cập tới một
số các lý thuyết và tác động. Trong bài nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận được tiến
hành như sau: doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều chiến lược để tối đa hóa giá trị cho các
các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về khách hàng mà còn cả nguồn lực bao gồm
nguồn vốn (Porter, 2004). Thứ ba, môi trường vĩ mô tác động, bao gồm sự thay đổi về
lạm phát, tỷ giá hối đoái với các doanh nghiệp hoạt động toàn cầu cũng như nguồn tài
- 22 -
Đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp-Nhóm 8 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
trợ quốc tế. Một vấn đề chính trong phần này là lãi suất, những diễn biến gần đây trong
thị trường nội địa cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho tác động của việc tăng lãi suất.
Những thảo luận trên cho thấy sự phức tạp trong quyết định về cấu trúc vốn. Điều
này càng trở nên trầm trọng hơn bởi mối quan hệ bên trong của các nhân tố được đề cập
nêu trên. Việc điều chỉnh cấu trúc vốn để mang lại lợi ích được cung cấp bởi một yếu tố
có thể là nguyên nhân tác động tiêu cực do sự mất cân bằng gây nên bởi yếu tố thứ hai.
Ví dụ, nếu những nhà quản trị nhận thức được các triển vọng lớn trong tương lai cho
doanh nghiệp, và đang mong đợi đối với việc tăng độ tin cậy trên thị trường, việc tăng
mức độ nợ có thể cung cấp một tín hiệu ra thị trường, tuy nhiên mức độ gia tăng của nợ
cũng có thể dẫn đến sự di chuyển của cấu trúc vốn ra khỏi phạm vi tối ưu, do đó làm
tăng khả năng phá sản, cũng như chi phí của vốn cổ phần, cổ đông phải gánh chịu rủi ro
tăng lên này (Modigliani và Miller, 1963).
3.4 Các kiến nghị cho nghiên cứu tiếp theo
Các nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp nên cân nhắc số
lượng các nhân tố. Cách thức chọn mẫu cần được kiểm tra như mẫu chứa đựng những
sai lệch. Chỉ những doanh nghiệp có dữ liệu ít nhất 10 năm mới được chọn cho nghiên
cứu. Bất kỳ doanh nghiệp nào bị dỡ bỏ niêm yết trong kỳ, cũng như các doanh nghiệp
niêm yết trên JSE trong khoảng dưới mười năm đều bị loại khỏi mẫu. Cho phép tất cả
các doanh nghiệp có cơ hội ngang bằng nhau được chọn có thể mang lại kết quả khác
nhau.
Các chỉ số sử dụng cho nghiên cứu cũng cung cấp thêm những vấn đề phức tạp.
Cách sử dụng dữ liệu tài chính mang đến những kết quả khác biệt.
Một nghiên cứu toàn diện có thể được tiến hành để hiểu rõ về cách mà vòng đời
của doanh nghiệp tác động lên quyết định về cấu trúc vốn. Nghiên cứu này có thể hữu