Câu 2:
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM & GIẢI PHÁP
TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGÒAI TẠI VIỆT NAM
A.T ÌNH H ÌNH CHUNG
Ngày 1/1/1988, Luật đầu tư trực tiếp của nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam chính thức có hiệu
lực, kể từ đó đến cuối năm 2004 ĐTNN tại Việt Nam đã qua chặng đường 17 năm và đã thu được những
kết quả to lớn, tạo ra một động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế-xã hội Việt Nam không ngừng phát triển.
Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào tháng 6/1992; 11/1996; 6/2000; năm
2003 Ngoài ra nhiều chủ trương chính sách, cơ chế liên quan đến thu hút ĐTNN được Chính phủ, Bộ
ngành, các địa phương ban hành. Tất cả các việc làm đó đều hướng tới xây dựng một môi trường đầu tư
hấp dẫn, thông thoáng, hiệu quả, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các nhà ĐTNN yên tâm đầu tư và làm ăn
lâu dài tại Việt Nam.
Theo thống kê trên cả nước, hiện có trên 5000 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư
đăng ký trên 45,5 tỷ USD. Đã có trên 50% tổng số dự án trên đi vào hoạt động với tổng vốn thực hiện
đạt trên 26 tỷ USD. Khu vực ĐTNN đứng đầu cả nước về xuất nhập khẩu: xuất khẩu đạt 8,6 tỷ USD,
tăng 35,6% so với năm ngoái; nhập khẩu 10,97 tỷ USD, tăng 24,4% với doanh thu đạt 18 tỷ USD, tăng
20%. Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã đóng góp khoảng 15% GDP của Việt Nam và gần 17% vốn đầu
tư phát triển của đất nước. Các dự án có vốn ĐTNN đã tạo việc làm cho khoảng 739.000 người, chưa kể
hàng vạn người có việc làm thu nhập gián tiếp qua các dự án ĐTNN.
Tổng vốn ĐTNN vào Việt Nam năm 2004 đạt hơn 4 tỷ USD, tăng 900 triệu USD so với năm
2003 và là mức cao nhất trong vòng 7 năm qua. Theo Cục ĐTNN, vốn đầu tư thực hiện đến nay đã đạt
2,85 tỷ USD tăng 7,5% so với năm 2003 vượt kế hoạch dự kiến (2,75 tỷ USD). Vốn ĐTNN cho công
nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao (chiếm 67% trong tổng số dự án).
Năm 2004, điểm mới trong hoạt động ĐTNN tại Việt Nam là: Lần đầu tiên Nhà nước chủ trương
cho các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện cổ phần hoá; Lần đầu tiên Nhà nước xem xét tới một phương án
Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư chung, tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả cộng đồng doanh nghiệp, các
nhà đầu tư trong và ngoài nước; Sự phân cấp mạnh mẽ hơn-Chính phủ cho Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
cấp phép các dự án ĐTNN có vốn 40 triệu USD thay vì 10 triệu USD như hiện nay. Các tỉnh TP khác sẽ
được cấp phép đối với các dự án có vốn đầu tư 20 triệu USD (trừ dự án nhóm A) thay vì 5 triệu USD
như hiện nay.
Tính đến nay, có 60 địa phương trong cả nước đã thực hiện việc cấp giấy phép đầu tư cho các dự
1999 4.667 2.197
2000 2.016 1.519
2001 3.036 2.300
2002 2.790 2.345
2003 3.100 2.500
2004 4.200 2.850 (trong đó có 1.472 triệu
USD là tăng vốn)
2005 6.100 (4.200 triệu USD là đăng
ký mới)
3.500 (trong đó có 1.800 triệu
USD là tăng vốn)
Đến hết năm 2005 có trên 6.000 dự án với tổng số 60 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt
động tại Việt Nam.
Những nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam qua các năm được xếp thứ hạng như sau:
Thứ hạng 1997 1998 1999 2000 2003 2004 2005
1 Singapore Nhật Bản Pháp Đài Loan Đài Loan Đài Loan Đài Loan
2 Đài Loan Hàn Quốc Singapore British
Virgin
Island
Singapore Hàn Quốc
3 Hồng
Kông
Pháp Đài Loan Australia Hàn Quốc Nhật Bản Nhật Bản
4 Nhật Bản Singapore Nhật Bản Nhật Bản Australia Hàn Quốc Singapore
5 Hàn Quốc Đài Loan Hàn Quốc Hồng
Kông
Hồng
Kông
Hồng
Kông
chính là mục tiêu đầu tiên của nước ta trong qúa trình CNH-HĐH đất nước: xây dựng và hòan chỉnh các
nghành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo nhằm cung cấp đủ cơ sở vật chất cho qúa trình phát triển
kinh tế ở Việt Nam.
Đến năm 2006 Việt Nam đã thu hút các nhà đầu tư nước ngòai đến đầu tư vào nhiều nghành
nghề, nhiều lĩnh vực và xây dựng cơ sở ở tất cả 64 tỉnh, thành phố.
BẢNG 1: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGÒAI TẠI VIỆT NAM THEO CÁC LĨNH
VỰC TỪ 1998 ĐẾN 2005 (XẾP THEO THỨ TỰ VỐN THỰC HIỆN NHỎ NHẤT)
Stt Lĩnh vực đầu tư Số dự án Vốn đăng ký Vốn thực hiện
1 XD khu đô thị mới 4 2,552 0,051
2 Thủy sản 114 0,308 0,155
3 Văn hóa, y tế, giáo dục 201 0,904 0,283
4 Dịch vụ khác 442 1,152 0,348
5 XD hạ tầng KCX-KCN 21 1,026 0,527
6 Tài chính – Ngân hàng 60 0,788 0,643
7 GTVT – Bưu điện 161 2,917 0,736
8 Nông – Lâm nghiệp 658 3,422 1,660
9 XD văn phòng – căn hộ 111 3,932 1,770
10 CN thực phẩm 261 3,135 1,894
11 Xây dựng 311 3,995 2,321
12 Khách sạn – Du lịch 163 2,864 2,335
13 CN nhẹ 1.667 8,335 3,152
14 CN dầu khí 27 1,891 4,665
15 CN nặng 1.717 13,313 6,531
Đầu tư nước ngòai tập trung ở những tỉnh, thành phố có cơ sở hạ tầng hòan chỉnh, thủ tục thông
thóang và nguồn nhân lực có chất lượng tốt. tại một số tỉnh, thành phố, lọai hình đầu tư 100% vốn nước
ngòai chiếm tới 70% tổng số dự án, đặc biệt trong các KCX-KCN (như ở TPHCM, Bình Dương, Đồng
Nai).
Những năm sau này ngày càng có nhiều dự án tập trung vào lĩnh vực trọng yếu và địa bàn trọng
điểm, đặc biệt những nơi có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông và hệ thống cấp
thóat nước đầy đủ, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngòai (như Hà Nội, TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai,
15 Đà Nẵng 73 0,47 0,21 0,16
Đến tháng 8/2006 TPHCM đã khôi phục lại vị trí dẫn đầu cả nước cả về số lượng và chất lượng :
8 tháng đã có 168 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư 1,1 tỉ USD (không kể những dự án tăng
vốn). Tuy số lượng dự án tăng không nhiều nhưng số vốn đầu tư đã tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm
2005.
Về chất lượng: cơ cấu phân bố FDI dịch chuyển theo hướng từ những nghành thâm dụng lao
động sang những nghành có giá trị gia tăng cao. Cụ thể trong số 168 dự án được cấp phép mới có 66 dự
án đầu tư vào nghành công nghiệp chế biến với tổng vốn đầu tư 674,8 triệu USD; 59 dự án đầu tư vào
nghành kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn (62,4 triệu USD).
Qui mô bình quân một dự án ngày càng tăng:
Giai đọan 1988 – 1990: bình quân một dự án khỏang 7 triệu USD
1992: bình quân một dự án khỏang 16,4 triệu USD
1995: bình quân một dự án khỏang 24 triệu USD
Giai đọan 2000 – 2005 khỏang 90 triệu USD/ dự án.
Các dự án có qui mô lớn ngày càng tăng: giai đọan 1 mức vốn lớn nhất có giá trị hàng chục triệu
USD; giai đọan 2 mức vốn lớn nhất là hàng trăm triệu USD; từ năm 2003 đã xuất hiện những dự án có
tổng mức vốn đầu tư trên 1 tỉ USD như dự án xây dựng khu du lịch đảo Tuần Châu (Quảng Ninh); dự án
xây dựng khu du lịch Đankia – suối vàng ở lâm Đồng…
Riêng trong 7 tháng đầu năm 2006 nhiều dự án có qui mô lớn đã được xét duyệt như dự án sản
xuất phôi thép của công ty TNHH Tycoons WordwideSteel do tập đòan sản xuất thép Tycoons
Wordwide Steel Group (Đài Loan) đầu tư hơn một tỉ USD tại Quảng Ngãi; dự án sản xuất thép và luyện
kim với số vốn 1,94 tỉ USD của công ty S.H.T Iron & Steel Co. Dự án xây dựng cảng container trung
tâm Sài Gòn tại KCN Hiệp Phước do P&O – tập đòan chuyên về cảng container của Anh – đầu tư 300
triệu USD.
Với những qui định ngày càng thông thóang, Việt Nam đã ngày càng trở nên hấp dẫn đối với các
nhà đầu tư nước ngòai, đặc biệt đối với những nước công nghiệp phát triển, nơi có những MNC phát
triển với tốc độ cao; kéo theo các công ty đa quốc gia tăng cường đầu tư vào Việt Nam, gây tác động
dây chuyền đẩy nhanh tốc độ hình thành các tập đòan kinh tế ở Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
BẢNG 3: CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGÒAI VÀO VIỆT NAM(CHỈ
thuế hàng năm vào khoảng 0.7% GDP.
Một hệ thống ưu đãi cần được thiết kế và thực thi sao cho đạt được mục tiêu đặt ra với chi phí
thấp. Nhìn từ góc độ này thì chưa có một đánh giá quy mô nào về hiệu quả của các hệ thống ƯĐĐT
hiện tại ở Việt Nam. Rất có thể tác động thực sự của hệ thống ƯĐĐT hiện tại bị giới hạn vì quá phức
tạp. Nhiều ƯĐĐT được sử dụng để đồng thời đạt được các mục tiêu khác nhau nên rất có thể có
những ưu đãi triệt tiêu lẫn nhau. Ngoài ra, những ưu đãi thuế nhằm mục đích giải quyết các vấn đề xã
hội (như tạo việc làm, đa dạng hóa thành phần lao động) cũng không thực sự có hiệu quả vì có thể
khiến các doanh nghiệp áp dụng một cơ cấu lao động nào đó mà cơ cấu này lại giảm tính cạnh tranh
của doanh nghiệp. Chính nghiên cứu của VNCI cũng chỉ ra rằng chỉ có rất ít doanh nghiệp trong
nước đang đầu tư vào những vùng và ngành nghề trong danh mục được khuyến khích, và hầu hết các
nhà đầu tư đang hưởng ưu đãi thuế là những doanh nghiệp lớn.
3. Còn nhiều bất cập trong quản lý hành chính ƯĐĐT
Nghiên cứu của VNCI cũng cho thấy công tác quản lý hành chính ƯĐĐT vẫn còn nhiều bất
cập. Đó là:
• Cấp/quản lý hành chính ƯĐĐT còn mang nặng tính chủ quan do thiếu những quy định
rõ ràng
• Các doanh nghiệp khó xác định được mình có đủ tiêu chuẩn được hưởng ƯĐĐT hay
không
• Có hiện tượng các doanh nghiệp lợi dụng chính sách ƯĐĐT để thu được các khoản lợi
thuế không chính đáng
• Còn tồn tại kẽ hở cho các hành vi cơ hội, tham nhũng do chính sách thiếu minh bạch.
Nguyên nhân của những vấn đề trên một phần là do các nhà đầu tư phải xin giấy chứng nhận
ưu đãi từ một cơ quan có thẩm quyền chứ không phải cứ đáp ứng các điều kiện đặt ra là nghiễm
nhiên được nhận ƯĐĐT. Ngoài ra còn có những bất cập do việc các địa phương đua nhau đưa ra
những ưu đãi vượt quá thẩm quyền và trái với các quy định chung của Nhà nước.
4. Các nguyên tắc chống phân biệt đối xử và cam kết WTO cần được xem xét
Hiện tại đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vẫn được điều chỉnh bởi hai luật riêng. Điều
này dẫn đến tình trạng có sự đối xử khác nhau đối với hai khu vực. Ví dụ, tính trung bình, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thấp hơn các
doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nhiều trường hợp
nhận hồ sơ, thẩm định cấp phép còn chậm, diện các dự án được đăng ký cấp phép còn quá ít.
C. NH ỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU H ÚT VỐN ĐẦU T Ư N ƯỚC NGOÀI TẠI
VI ỆT NAM
1. Hoàn thiện hệ thống văn bản luật pháp, chính sách đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập
theo hướng xóa bỏ phân biệt đối xử, thông thoáng, minh bạch
- Đẩy nhanh việc xây dựng và triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư áp dụng chung
cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động ĐTNN với
các nội dung cơ bản là:
• Thể chế hóa chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế phải
được hoạt động trên một khuôn khổ pháp lý chung, bình đẳng.
• Mở rộng và phát triển quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong tất cả
các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Doanh nghiệp có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn, thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình
thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật bảo hộ.
• Đơn giản hóa thủ tục hành chính. Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của doanh
nghiệp, áp dụng phổ biến chế độ đăng ký (thay cho cấp phép), xóa bỏ những quy định “xin-
cho”, “phê duyệt”, “chấp thuận” bất hợp lý, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền
hà cho doanh nghiệp.
• Chuyển đổi chức năng quản lý của Nhà nước theo hướng coi việc khuyến khích, hướng dẫn,
trợ giúp doanh nghiệp là chức năng chính, coi nhà đầu tư và doanh nghiệp là đối tượng phục
vụ của các cơ quan hành chính nhà nước. Cần quy định rõ và đủ chi tiết cụ thể về trách
nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việc thực
hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía. Điều chỉnh các
quy định về thành lập, tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nhằm tiến tới
thực hiện đối xử quốc gia đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
- Triển khai việc thực thi phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; chú trọng vào công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; giảm dần sự tham gia trực
tiếp vào xử lý các vấn đề cụ thể, trong đó nhiệm vụ giám định đầu tư và hậu kiểm được tăng cường.
Để mở rộng hình thức thu hút ĐTNN phù hợp với thông lệ quốc tế, nhất là tranh thủ tiềm lực của các
công ty xuyên quốc gia, cần nghiên cứu bổ sung các quy định cho phép thành lập chi nhánh của Công ty
nước ngoài tại Việt Nam.
• Bốn là, cho phép thành lập Công ty quản lý vốn (Holding Company).
Một số tập đoàn kinh tế lớn đã đầu tư cùng lúc nhiều dự án ĐTNN tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy
định của pháp luật hiện hành, mỗi doanh nghiệp có vốn ĐTNN có cùng một chủ đầu tư có bộ máy điều
hành riêng, hoạt động kinh doanh độc lập. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh, giảm
những chi phí không cần thiết , cần khẩn trương nghiên cứu cho phép các tập đoàn lớn thành lập công
ty quản lý vốn, điều phối và hỗ trợ các dự án đầu tư của họ tại Việt Nam.
4. Cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn với tăng cường phối hợp giám
sát hoạt động quản lý ĐTNN
Giảm thiểu tối đa thủ tục hành chính theo hướng thu hẹp diện các dự án thẩm định cấp phép đầu tư,
loại bỏ các tiêu chí thẩm định không cần thiết đối với dự án ĐTNN; mở rộng diện các dự án đăng ký cấp
phép đầu tư; mở rộng phân cấp quản lý ĐTNN cho các địa phương.
Để tăng cường sự quản lý thống nhất ĐTNN trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp cho các cơ quan
chính quyền địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và UBND địa phương. Tăng
cường, việc giám sát công tác ban hành các văn bản pháp luật về ĐTNN của các Bộ, ngành và UBND
địa phương nhằm đảm bảo tính thống nhất, không chồng chéo và vượt khuôn khổ pháp luật hiện hành.
Minh bạch hóa thủ tục cấp đất và sử dụng đất. Hoàn chỉnh các biện pháp và quy trình về thủ tục giao
quyền sử dụng đất liên quan đến các dự án ĐTNN, hướng tới giảm bớt các đầu mối trung gian không
cần thiết để rút ngắn khoảng thời gian chờ đợi kéo dài cho các chủ đầu tư. Cải tiến và tạo cơ chế phối
hợp có hiệu quả giữa chính quyền các cấp trong việc triển khai các thủ tục cho thuê đất thực hiện dự án.
5. Nâng cao chất lượng xây dựng Danh mục dự án đầu tư
Xây dựng Danh mục dự án gọi vốn đầu tư thống nhất, minh bạch, rõ ràng có thể dự đoán trước các
lĩnh vực đầu tư theo tiêu chí cấm đầu tư, đầu tư có điều kiện căn cứ trên các quy hoạch ngành, lãnh thổ
trong từng thời kỳ, có chú ý việc khai thác lợi thế tại chỗ và hiệu quả kinh tế, xã hội mà dự án đem lại
cũng như phù hợp với mối quan tâm của các nhà đầu tư. Các dự án cần đáp ứng các điều kiện thông tin
về mục tiêu, địa điểm, đối tác thực hiện, hình thức đầu tư, nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và cơ
sở hạ tầng.
ngoái, chiếm gần 1/3 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam (1,4 tỷ USD). Trong khi thu
hút vốn FDI của nhiều địa phương khác giảm sút, thì thành quả trên của Bình Dương nổi lên như một kỳ
tích.
Theo Nghị quyết của tỉnh Bình Dương, trong năm 2004, tỉnh cố gắng thu hút 300 đến 350 triệu USD vốn
FDI. Nhưng chỉ mới 6 tháng, tổng vốn FDI vào Bình Dương đã vượt xa mục tiêu này.
Liên tiếp các năm gần đây, Bình Dương nổi lên như là một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước
ngoài. Giá trị sản xuất kinh doanh từ khu vực FDI đã thúc đẩy kinh tế Bình Dương phát triển vượt bậc và
là một trong những tỉnh thành có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước, đạt trên 30%/năm. “Được vậy
là vì tỉnh đã thu hút và tận dụng hiệu quả nguồn vốn FDI”.
Đến nay, Bình Dương có 812 dự án FDI với tổng vốn đầu tư gần 4 tỷ USD. Năm 2003, khu vực FDI đạt
giá trị sản xuất công nghiệp là 15.015,3 tỷ đồng, chiếm 63,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh
và xuất khẩu đạt 884,2 triệu USD, chiếm 62,3% kim ngạch xuất khẩu. 7 tháng đầu năm 2004, khu vực
kinh tế FDI tiếp tục khẳng định ưu thế và tăng trưởng tốt. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 11.643,4 tỷ
đồng, chiếm 66,67% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh và tăng 45,4% so với cùng kỳ năm trước.
Năm nay, nhiều khả năng xuất khẩu của Bình Dương sẽ vượt mức 2 tỷ USD.
Nhờ thu hút nhiều các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp, Bình Dương đang tạo sự đột phá mạnh mẽ về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm giá trị nông nghiệp. Nếu
như trước đây, nông nghiệp giữ vai trò chính yếu, thì hiện nay trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, công nghiệp
chiếm đến 62%, dịch vụ chiếm 26% và nông nghiệp chỉ chiếm 12%.
Chính sách của tỉnh Bình Dương: Trải chiếu hoa nâng niu nhà đầu tư
Phần lớn dự án đầu tư
vào Bình Dương đều
tập trung vào các
KCN. Ảnh: KCN Việt
Nam - Singapore.
Trong buổi hội thảo liên kết phát triển chính sách và cơ chế quản lý vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam mới đây, khi đề cập đến “hiện tượng Bình Dương”, tiến sĩ Trần Du Lịch - Viện trưởng Viện Kinh tế
TP.HCM, nói: “Về chính sách thu hút đầu tư, chính quyền Bình Dương có một sự trọng thị thật sự. Tôi
cảm nhận tỉnh rất khát khao mời gọi các nhà đầu tư. Và, lãnh đạo tỉnh nhận thức được rằng, muốn vậy,
phải đổi mới cơ chế, thủ tục hành chính, xây dựng hạ tầng kinh tế và xã hội tốt nhằm tạo điều kiện tốt
(Đức) kể rằng, khi công ty ông đang tất bật lo xây dựng nhà máy thì bất ngờ lãnh đạo Sở Kế hoạch - Đầu
tư và Ban Quản lý KCN ra tận công trường thăm và hỏi ông có hài lòng với điều kiện hạ tầng kỹ thuật
hay không. Tiện thể, ông nói các họng cứu hỏa đặt quá xa nhà máy, nếu không may xảy ra sự cố, ứng
biến sẽ chậm. Ngay hôm sau, một họng nước cứu hỏa đã được lắp sát cạnh nhà máy của ông.
Bình Dương: Thu hút mạnh đầu tư không chỉ nhờ giá thuê đất rẻ
Có hai loại phí các KCN đang thu, đó là phí bảo dưỡng và phí dịch vụ.
• Phí bảo dưỡng (được sử dụng cho công tác quản lý và bảo dưỡng các tiện ích công cộng như: hệ
thống đường nội bộ, hệ thống thoát nước mưa, các họng cứu hoả, cổng, tường rào, cầu vào KCN),
mức thu trung bình ở các KCN Bình Dương là 0,479 USD/m²/năm; các KCN ở TP.HCM là
0,667 USD.
• Phí dịch vụ (được sử dụng cho việc vận hành, bảo dưỡng các tiện ích chung, các thiết bị cung
cấp nước, trồng cây xanh, bảo dưỡng hệ thống chiếu sáng công cộng, an ninh chung trong KCN)
ở các KCN Bình Dương là 0,406 USD/m²/năm, ở các KCN TP.HCM là 0,648 USD.
Bình Dương có hai Ban Quản lý KCN, trong đó KCN Việt Nam - Singapore được Chính phủ đặc biệt hỗ
trợ qua việc cho phép thành lập một ban quản lý riêng để tư vấn, thẩm định và cấp giấy phép đầu tư và
các thủ tục khác cho nhà đầu tư. Đặc biệt, tại đây còn có hải quan riêng của KCN nhằm giúp DN thông
quan hàng hóa nhanh, tiết kiệm.
Tại các KCN ở Bình Dương, nhà đầu tư được hỗ trợ miễn phí từ việc lập hồ sơ thành lập công ty, xin
giấy phép đăng ký kinh doanh, lập dự án đầu tư, hướng dẫn làm thủ tục xin ưu đãi đầu tư, thiết kế nhà
xưởng
Ngoài cơ chế chính sách, Bình Dương chủ trương xây dựng thật tốt cơ sở hạ tầng kỹ thuật các KCN
nhằm thỏa mãn yêu cầu nhà đầu tư. Cở sở hạ tầng tại các KCN Bình Dương được giới đầu tư đánh giá
không hề thua kém những KCN trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Lý giải về các KCN Bình Dương đang có sức hút đầu tư lớn hơn so với các KCN ở phía Nam, ông Trần
Văn Liễu - Trưởng ban Quản lý các KCN Bình Dương, nói: “Ngoài giá thuê đất rẻ hơn thì môi trường
đầu tư là rất quan trọng. Nếu giá thuê đất rẻ, nhưng dịch vụ không tốt, hay có nhiều loại phí thì chi phí
cộng dồn của DN sẽ lớn. Như vậy thì DN sẽ rất cân nhắc khi quyết định đầu tư vào đâu”.
Trong các cuộc tiếp xúc với DN, lãnh đạo tỉnh Bình Dương khẳng định quyết tâm tiếp tục tháo bỏ những
cơ chế hành chính gây cản trở tiến trình thu hút đầu tư và hoạt động của DN, có những chỉnh đổi chính