Gợi ý làm dạng bài so sánh văn học
(GD&TĐ)-Gần đây, trong các đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, ở
câu 5 điểm, đề bài thường ra kiểu bài so sánh văn học(đề thi tuyển
sinh đại học, cao đẳng năm 2007-2008, 2008-2009).
Đây là một kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng
trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó đã ảnh
hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình
định hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ
những khó khăn trên, bài viết này xin đưa ra một số gợi ý để cùng các em
ôn tập, phục vụ cho mùa thi 2009-2010.
1. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác
nhau. Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh
cho câu văn”(1) . Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh
các thao tác lập luận như: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào
sách giáo khoa Ngữ văn 11. Thứ ba, nó được xem như “một phương
pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận”(2), tức là như một
kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác
phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ở sách giáo
khoa Ngữ văn 12. Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận
văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập. Vì vậy, từ việc
xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm
bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết.
2. Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên
nhiều bình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình,
chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ
diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra
ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại,
giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một
nền văn học. Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ
ra được chỗ giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó
diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà
văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao
tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
KẾT BÀI:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
Bây giờ thử kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án câu
III.a - Đề thi tuyển sinh đại học – cao đẳng năm 2009, khối C như sau:
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người
vợ nhặt (Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc
thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).
MỞ BÀI
Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân
quê, có sở trường về truyện ngắn. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết
về tình huống "nhặt vợ" độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào
phẩm chất tốt đẹp của những con người bình dị trong nạn đói thê thảm.
- Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút
tiên phong thời đổi mới. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở
thời kì sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy
nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi
lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ
sĩ.
THÂN BÀI
1. Làm rõ đối tượng thứ nhất
(bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là
thao tác lập luận phân tích)
Nhân vật người vợ nhặt
cực lam lũ làm khuất lấp. Cả hai đều được khắc hoạ bằng những chi tiết
chân thực
- Khác biệt: Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là
những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư
vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở người đàn
bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu
sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia
đình
4. Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình
diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà
văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao
tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển,
biến đổi từ thấp đến cao(cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà
chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn
tại(cảm hứng thế sự-đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại)
+ Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan
niệm con người đa dạng, phức tạp( Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự
khác biệt này
(có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề thi)
KẾT BÀI
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
(Học sinh dựa vào gợi ý bên để viết kết bài. Có nhiều cách kết bài khác
nhau, hướng dẫn bên chỉ có tính chất tham khảo)
Bảng so sánh trên đây đã chỉ ra rằng, dàn bài khái quát mà chúng tôi đề
xuất về cơ bản đã thể hiện được một cách tuần tự hệ thống ý trong đáp
án của đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009. Tiếc rằng, trong đáp
án của đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009 lại chưa yêu cầu so
sánh về nghệ thuật xây dựng nhân vật và yêu cầu lí giải về nguyên nhân
• )
Đề thi Ngữ Văn vào lớp 10 (thời gian làm bài 120 phút) của Hà Nội năm2010
Phần I (7 điểm):
Cho đoạn trích: “Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai,
mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: Má! Má!”. Còn anh, anh đứng
sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng
thương và hai tay buông xuống như bị gãy.”(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục
2009, tr.196)
1. Đoạn trích trên được rút từ tác phẩm nào, của ai? Kể tên hai nhân vật được
người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
2. Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh đứng sững lại đó,
nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai
tay buông xuống như bị gãy.”
3. Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc
nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” “đau đớn”. Vì sao
vậy?
4. Hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy nạp
làm rõ tình cảm sâu nặng của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong
đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế (gạch dưới câu bị động và những từ
ngữ dùng làm phép thế).
Phần II (3 điểm)
Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt được mở đầu như sau:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009,
tr.143)
1. Chỉ ra từ láy trong dòng thơ đầu. Từ láy ấy giúp em hình dung gì về hình ảnh
“bếp lửa” mà tác giả nhắc tới?
2. Ghi lại ngắn gọn cảm nhận của em về câu thơ: “Cháu thương bà biết mấy nắng
mưa.”