TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
TIỂU LUẬN
KINH TẾ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Đề tài :
Tăng trưởng trong Doanh nghiệp
thương mại
2005
MỤC LỤC
Trang
Phần I
KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TRONG DNTM
Phần II
CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐẢM BẢO SỰ TĂNG TRƯỞNG
1.Nguồn vốn ………………………………………………………………. 4
2.Nguồn nhân lực …………………………………………………………. 5
Phần III
CÁC PHƯƠNG THỨC TĂNG TRƯỞNG
1.Tăng trưởng nhờ sát nhập theo chiều dọc …………………………………. 6
2.Tăng trưởng bằng đa dạng hóa ……………………………………………. 8
3.Tăng trưởng nhờ liên doanh ………………………………………………. 10
Phần IV
CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ
1.Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của công ty ……………………. 11
2.Các nhân tố thuận lợi, khó khăn tác động đến sự tăng trưởng của công ty …… 13
3.Hợp tác đầu tư ………………………………………………………………… 14
2
2
Phần I >KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
nước trong từng giai đoạn. Vì mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế , một đất
nước mạnh bởi có một hệ thống doanh nghiệp mạnh, thường xuyên tăng trưởng và phát
triển.
Đối với doanh nghiệp : tăng trưởng là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp đạt được
các mục tiêu của mình trong suốt cuộc đời hoạt động, tăng vị thế cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thương trường đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp
trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Đối với người chủ và người lao động : sự tăng trưởng sẽ thoả mãn được mục tiêu
của mỗi thành phần tham gia vào doanh nghiệp . Người chủ thu được lợi nhuận cao và
3
ổn định qua đầu tư, người lao động tăng thu nhập, có việc làm ổn định, tay nghề được
nâng cao.
Đối với người cung ứng : cũng nhận được một phần lợi ích thông qua hoạt động
cung ứng cho doanh nghiệp – góp phần tăng cường được cac mối quan hệ bạn hàng, hạn
chế được nhưng rủi ro nhờ các mối liên kết kinh doanh tin cậy và bền vững.
3.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp thương mại
Có những yếu tố khác nhau ở cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp thúc đẩy
hay kìm hãm sự tăng trưởng của doanh nghiệp .
Thị trường và môi trường hoạt động : sự thay đổi cung cầu và cơ cấu thị trường,
tình trang cạnh tranh có thể tạo thời cơ hay cản trở cho sự tăng trưởng . Sự cạnh tranh
gay gắt vừa tạo những kho khăn cho doanh nghiệp cũng là yếu tố kích thích các nhà
quản lý doanh nghiệp phấn đấu tăng trưởng để đạt được lợi thể trong cạnh tranh. Các
yếu tố kinh tế, kỹ thuật , công nghệ, pháp luật, chính trị xã hội… cũng góp phần thúc
đẩy hạn chế tăng trưởng .
Mục tiêu của các thành phần tham gia doanh nghiệp , cả người chủ và người lao
động đều mong muốn doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng liên tục bền vững vì đó là
điều kiện cơ bản đảm bảo thu nhập cho các nhà đầu tư và công ăn việc làm cho người
lao động…. Quy mô lớn vừa là kết quả của sự tăng trưởng vừa là yếu tố kích thích tăng
trưởng vì những lợi thế của nó. Sự tăng trưởng dẫn đến tăng quy mô hoạt động của
doanh nghiệp. Và quy mô lớn đem lại hiệu quả hoạt động cao hơn. Vì tận dụng được cơ
Lựa chọn các phương pháp mà vốn bỏ ra mang lại mức lãi cao nhất. Quá trình đầu
tư vốn tiếp tục cho đến khi doanh nghiệp sử dụng hết vốn hiện có hay mức lãi của dự án
xuống thấp dưới mức doanh nghiệp có thể chấp nhận.
-Thứ ba : Phân tích cơ cấu tài chính của doanh nghiệp .
Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thương mại bao gồm vốn sở hữu và vốn vay mà
doanh nghiệp sử dụng – cơ cấu này thể hiện mạnh, yếu của tài chính doanh nghiệp và có
ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến việc thu hút các nguồn vốn. Cơ cấu tài chính cũng
thể hiện khả năng chi trả tài chính. Cơ cấu tài chính chịu ảnh hưởng của mục tiêu và
chiến lược doanh nghiệp và phải thích ứng với tính chất của các nhu cầu về vốn. Định
kỳ doanh nghiệp cần phải kiểm tra tính hợp lý của cơ cấu hiện tại. Đặc biệt khi thu hút
thêm nguồn vốn mới cần phải kiểm tra lại cơ cấu tài chính mà doanh nghiệp muốn đạt
được.
-Thứ tư : Phân tích và đánh giá các nguồn vốn khác nhau trước khi đi đến lựa chọn
nguồn vốn nào đó.
Có những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tăng trưởng của doanh nghiệp khi lựa
chọn nguồn tài chính của doanh nghiệp : cơ cấu tài chính hiện tại, tính chất các tài sản
có, thu nhập và sự ổn định của thu nhập cũng như các điều kiện của thị trường tài chính
hiện tại chi phối. Điều quan trọng nhất trong việc thu hút vốn là doanh nghiệp cần phải
tạo ra và duy trì sự hấp dẫn của mình trên thị trường tài chính. Doanh nghiệp cũng có
thể thu hút vốn nhờ các chủ sở hữu, cổ đông hay các nguồn tín dụng dài hạn trung hạn
và các nguồn khác………
5
-Thứ năm : Sau khi đã phân tích , đánh giá các nguồn vốn, doanh nghiệp thường
lựa chọn nguồn vốn đảm bảo thực hiện phương thức tăng trưởng trên cơ sở xem xét các
yếu tố cơ bản.
+ Mục đích sử dụng vốn
+ Chi phí sử dụng vốn
+ Những lợi ích và thiệt hại khi thu hút vốn
b) Ngân sách
Ngân sách là công cụ quan trọng của quản lý tài chính và kiểm tra quản lý. Với ý
thực hiện có hiệu quả phương thức tăng trưởng đã lựa chọn.
6
PHẦN III >CÁC PHƯƠNG THỨC TĂNG TRƯỞNG
Có hai phương thức tăng trưởng trong các doanh nghiệp thương mại :
Một là : Tăng trưởng bằng tự đầu tư, tức là bằng cách tăng thêm nguồn lực nhờ khả
năng sẵn có của doanh nghiệp mà không có sự tham gia của chủ đầu tư khác.
Phương thức tăng trưởng này có những ưu thế :
Thuận lợi và chủ động kiểm soát được sự phát triển của doanh nghiệp.
Không có nguy cơ bị mất quyền soát vốn trong điều kiện doanh nghiệp vẫn còn
những nguồn tiềm năng để tăng trưởng.
Song trong trường hợp có những điều kiện về môi trường và thị trường như nhu
cầu tăng cao đặc biệt, các đối thủ cạnh tranh mạnh lên, hoạt động ráo riết sự xuất hiện
những mặt hàng có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ đòi hỏi phải có đầu tư lớn để đổi mới
kinh doanh, đầu tư vào maketing, mạng lưới tiêu thụ …. thì các nguồn lực của doanh
nghiệp có thể phải tìm cách tăng trưởng thông qua con đường thu hút các nguồn lực từ
bên ngoài như tìm kiếm, mua lại công ty khác…(Sự tăng trưởng như vậy được gọi là
tăng trưởng ngoại vi).
Hai là : tăng trưởng ngoại vi có ưu điểm là khắc phục những khuyết điểm của tăng
trưởng nhờ các nguồn lực bên trong doanh nghiệp . Nó cho phép doanh nghiệp có thể
thu hút được khối lượng các nguồn lực và sự tham gia của các chủ thể mới, làm tăng
thêm khả năng doanh nghiệp thích ứng được sự biến động lớn của thị trường và môi
trường, giảm bớt được các chi phí đào tạo và chi phí thâm nhập thị trường. Sau nữa dễ
thực hiện với những thuận lợi về tài chính, vì với các giá tài sản hiện có thường rẻ hơn
so với việc đầu tư mới, rút ngắn thời gian khai thác. Đương nhiên việc có mặt thêm các
chủ sở hữu càng làm mất đi quyền tự do lựa chọn các quyết định, phải chia sẻ quyền lực
và lợi ích.
*Tăng trưởng ngoại vi
1.Tăng trưởng nhờ sát nhập theo chiều dọc
Tăng trưởng bằng hội nhập của doanh nghiệp thương mại được thực hiện bằng
cách doanh nghiệp liên kết (sát nhập) với những người cung ứng (doanh nghiệp sản xuất
những đối kháng giữa những đối tác trước đây.
Sự sát nhập theo chiều dọc cũng giúp các doanh nghiệp thương mại thực hiện được
sự điều hoà thị trường ở đầu ra do các thông tin ở đầu vào và đầu ra được xử lý tốt hơn,
đồng bộ và toàn diện hơn, sự xích lại gần giữa cung ứng và tiêu thụ sẽ làm cho các
quyết định được đưa ra nhanh chóng, kịp thời, hiệu chỉnh tốt hơn các hoạt động trong
quá trình hàng hoá đi từ sản xuất đến tiêu dùng, tiết kiệm được các chi phí và nâng cao
hiệu quả .
Sau cùng, sát nhập theo chiều dọc sẽ giúp tận dụng được những nguồn tiềm năng
của từng doanh nghiệp chưa được khai thác hết hay chưa khai thác có hiệu quả.
a.Sự sát nhập theo chiều dọc với người cung ứng
Đây là hình thức tìm cách đạt được sự tăng trưởng bằng cách nắm quyền sở hữu
hay tăng sự kiểm soát đối với người cung ứng, có hai cách để đạt được mục tiêu này:
Một là : Doanh nghiệp thương mại thành lập một công ty con chuyên thực hiện
chức năng cung ứng, qua đó thiết lập nguồn cung ứng của mình.
Hai là : Thực hiện việc mua một phần hay toàn bộ các cơ sở cung ứng cho doanh
nghiệp .
Sát nhập ngược chiều đặc biệt có lợi trong trường hợp người cung ứng đang tăng
trưởng nhanh, có nhiều khả năng thu được lợi nhuận. Nó cũng hấp dẫn nếu như nguồn
cung ứng hàng hoá cho doanh nghiệp bấp bênh, không ổn định và có thể giảm được các
chi phí giao dịch.
Tuy vậy sát nhập ngược chiều cũng có không ít những vấn đề phát sinh : để thực
hiện việc kiểm soát đối với cung ứng cần phải có vốn lớn, quy mô tăng dẫn đến việc
quản lý cũng trở nên phức tạp hơn. Nếu không đạt được sự phối hợp đồng bộ, nhịp
nhàng thì hiệu quả có thể bị hạ thấp, tính linh hoạt sẽ giảm.
b.Sát nhập theo chiều dọc với người tiêu thụ ( sát nhập thuận chiều)
Đây là hình thức doanh nghiệp thương mại tìm cách tăng trưởng bằng việc mua lại
toàn bộ hay một phần các doanh nghiệp hay đại lý … thuộc hệ thống tiêu thụ sản phẩm
sát với thị trường đích, cụ thể là có thể lập hệ thống bán buôn, bán lẻ trực thuộc doanh
nghiệp hay mua lại các cơ sở này từ bên ngoài để thực hiện quyền kiểm soát toàn bộ hay
một phần các kênh tiêu thụ mà doanh nghiệp thấy cần thiết.
mặt hàng mang tính thời vụ, những mặt hàng mà nhu cầu của thị trường thay đổi không
ổn định.
Đa dạng hoá cũng giúp doanh nghiệp khai thác tốt hơn các nguồn lực về lao động
và tiềm năng của cán bộ quản lý. Tận dụng được các lợi thế và vị trí của doanh nghiệp
cũng như lợi thế thương mại, sử dụng có hiệu quả hơn các chi phí tiếp thị và phân phối.
Đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh cũng tạo ra sự hấp dẫn hơn đối với khách hàng gây
được sự uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
Sự đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh và thị trường kinh doanh cũng giúp doanh
nghiệp giảm được những rủi ro nhất là rui ro tài chính đối với các doanh nghiệp lớn.
Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các tập đoàn kinh doanh, các doanh nghiệp lớn ở
trong nước cũng như nước ngoài đều đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh và thị trường
kinh doanh . Sự phân chia rủi ro cho các mặt hàng kinh doanh và cho thị trường làm cho
doanh nghiệp có thể bù trừ được các khoản lỗ của một mặt hàng hay tên một thị trường
bằng những khoản lãi cao hơn ở những mặt hàng và thị trường khác.
Chính vì giảm bớt rủi ro, thu lợi nhuận ổn định nên các doanh nghiệp này thu hút
vốn đầu tư hay vay vốn lợi nhuận lớn hơn với những chi phí thấp hơn. Lợi thế đòn bẩy
9
đánh giá tăng lên của khả năng sinh lời của vốn tự có kéo theo sự tăng lên của hệ số vay
nợ. Doanh nghiệp cũng đạt được sự hoà vốn nhanh hơn.
Sự giảm bớt rủi ro trong kinh doanh vừa làm yên lòng người chủ vừa là một trong
những mục tiêu của nhà quản lý cũng như người lao động vì thu nhập và công việc làm
ổn định của họ.
Đa dạng hoá giúp doanh nghiệp giảm được những rủi ro nếu doanh nghiệp khẳng
định được đầy đủ các yếu tố cần thiết đảm bảo thành công khi thực hiện đa dạng hoá
phải đánh giá được chính xác nhu cầu thị trường, lối vào thị trường , phản ứng của đối
thủ cạnh tranh và của khách hàng…. Và các vấn đề liên quan khác. Phải xác định chính
xác quy mô hiệu quả của tăng trưởng , đảm bảo thu hút được các nguồn lực và tránh
lãng phí nguồn lực trong tương lai. Sau cùng tăng trưởng bằng đa dạng hoá phải nằm
trong chiến lược phát triển doanh nghiệp , đảm bảo thực hiện có hiệu quả chiến lược mà
doanh nghiệp đang theo đuổi.
3.Tăng trưởng nhờ liên doanh
Liên doanh là sự tham gia của hai hay nhiều công ty vào một doanh nghiệp trong
đó các bên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Sự
liên doanh có thể thực hiện giữa các công ty trong một nước hay của các nước khác
nhau.
Thực hiện liên doanh với các doanh nghiệp khác sẽ tạo được thị trường tiêu thụ lớn
hơn, thâm nhập thị trường của các nước đối tác dễ dàng hơn. Khai thác tốt hơn lợi thế so
sánh và những nguồn tiềm năng của các bên do có thể bổ sung cho nhau những khiếm
khuyết về các nguồn lực cũng như thị trường tiêu thụ. Những tiến bộ và kinh nghiệm
quản lý và công nghệ cho phép doanh nghiệp sẽ hoạt động có hiệu quả hơn khi ở quy
mô lớn. Liên doanh cũng cho phép doanh nghiệp dễ dàng đạt được sự đa dạng hoá thị
trường . Đồng thời cũng giúp cho các doanh nghiệp phân tán được rủi ro trong kinh
doanh , nâng cao lợi nhuận.
Song tăng trưởng nhờ liên doanh cùng làm cho doanh nghiệp bị mất đi những lợi
thế : do phân chia quyền sở hữu nên doanh nghiệp cũng mất đi quyền tự do hành động ,
lợi nhuận thu được cũng bị chia sẻ. Những bí quyết công nghệ , kinh doanh , quản lý có
thể cũng bị mất. Sau nữa việc hoạt động ở một thị trường mới lạ cũng dễ bị rủi ro hơn
so với thị trường quen thuộc.
11
PHẦN IV > CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ
1.Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của công ty
Công ty cổ phần Kinh Đô được thành lập năm 1993, khởi đầu là một doanh nghiệp nhỏ
sản xuất bánh Snack tại Phú Lâm, quận 6. Trải qua quá trình 10 năm xây dựng và phát
triển, đến nay công ty Kinh Đô có 4 công ty thành viên với tổng số lao động hơn 4000
người:
• Công ty cổ phần Kinh Đô tại TP. HCM.
• Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc.
• Công ty TNHH xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô – Hệ thống Kinh Đô
Bakery.
• Công ty cổ phần kem KI DO
cung ứng cho thị trường phía Bắc. Đến năm 2002 vốn điều lệ Công ty Kinh Đô lên 150
12
tỷ đồng, trong đó có sự góp vốn của Công ty TNHH Xây dựng và Chế biến Thực phẩm
Kinh Đô là 50 tỷ đồng. Tính đến nay Công ty CP Kinh Đô có vốn điều lệ là 200 tỷ
đồng, trong đó có 7 đơn vị và cá nhân có số cổ phần tỷ lệ từ 5% trở lên, với tổng giá trị
cổ phiếu sở hữu là 182 tỷ đồng. Số còn lại là của cán bộ CNV.
Bắt đầu từ ngày 01/10/2002, Công Ty Kinh Đô chính thức chuyển thể từ Công ty
TNHH Xây dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô sang hình thức Công ty Cổ Phần
Kinh Đô. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 được
thay thế bằng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, nhằm tăng
hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhanh chóng hội nhập với quá trình phát
triển của các nước trong khu vực, chuẩn bị cho tiến trình gia nhập AFTA vào năm 2003.
Tình hình sản xuất, kinh doanh
Cty đang sản xuất 7 nhóm sản phẩm: bánh cookies, bánh crackers, bánh quế, bánh
snack, bánh trung thu, bánh mì công nghiệp, kẹo cứng, mềm và chocolate. Trong đó
bánhn crackers là sản phẩm chủ lực của Cty, chiếm 52% thị phần bánh crackers trong
nước. Sản phẩm bánh crackers của Cty đã được xuất đi nhiều nước trong đó có cả thị
trường Mỹ. Kế đến là bánh cookies của Công ty chiếm tới 45% thị phần bánh cookies
trên thị trường trong nước. Tiếp theo là bánh trung thu, tuy là mặt hàng có tính chất thời
vụ nhưng doanh thu từ bánh trung thu lại chiếm tới 15% tổng doanh thu của Cty và
Kinh Đô là nhãn hiệu chiếm vị trí số một về sản lượng, doanh số và công nghệ.
Hiện nay đã là nhà sản xuất bánh kẹo có hệ thống phân phối lớn với 150 nhà phân
phối, 40.000 điểm bán lẻ và 25 bakery tại VN.
Doanh thu thuần (đơn vị : tỷ đồng)
Năm 2003 : 623
Năm 2004 : 718
Theo Kế hoạch :
Năm 2005 : 870
Năm 2006 : 1.050
Năm 2007 : 1.250
Sự biến động giá nguyên vật liệu : Do nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá
thành sản phẩm (khỏang 65% đến 70%) nên biến động giá cả nguyên vật liệu sẽ tác
động đến lợi nhuận của Công ty. Đối với Cty thì hiện nay rủi ro tăng giá nguyên vật liệu
có thể xuất pháp từ hai nguyên nhân: Ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm tác động đến giá
trứng gà, trong 6 tháng đầu năm 2004 để đảm bảo an toàn cho sản phẩm Cty đã sử dụng
trứng gia cầm nhập khẩu từ Đan Mạch, giá của chất thay thế trứng gà đắt hơn trứng bình
thường từ 3-5%. Đến nay giá trứng gà đã tăng gấp đôi so với thời điểm trước khi xảy ra
dịch cúm gia cầm. Do đó nếu dịch cúm gia cầm vẫn không dập tắt được thì cả doanh thu
và lợi nhuận của Cty sẽ bị ảnh hưởng do cho phí tăng và tâm lý e ngại sử dụng sản
phẩm có sử dụng trứng gia cầm. Ảnh hưởng của lạm phát tác động đến giá một số
nguyên vật liệu đầu vào như đường tăng 20%, bột tăng 40%, sữa tăng 17%, bao bì nhựa
tăng 10%, ngoài ra chi phí dành cho một số nguyên liệu nhập khẩu cũng tăng do thuế
nhập khẩu tăng. Trước tình hình này Công ty đã có biện pháp xử lý rủi ro biến động giá
trên thông qua việc điều chỉnh tăng giá bán sản phẩm, dẫn đến doanh thu tăng và triệt
tiêu rủi ro tăng giá nguyên liệu và duy trì mức lợi nhuận.
Sự lan tràn hàng giả và hàng kém phẩm chất : Cũng như một số thị trường đang
phát triển khác thị trường Việt Nam vận bị ảnh hưởngnặng nề bởi nạn hàng giả, trong
đó có bánh kẹo giả các thương hiệu nổi tiếng như: Kinh Đô, Bibica, Hải Hà…Điều này
không những ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động của nhà sản xuất mà còn tác
động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng. Thị phần của hàng giả chiếm khoảng 25-
30% thị phần bánh kẹo cả nước. Để ngăn chặn tình trạng này, Cty đã liên tục triển khai
các chương trình chống hàng giả thông qua việc nâng cấp bao bì sản phẩm, tuyên truyền
những đặc điểm giúp người tiêu dung phân biệt giữa hàng giả và hàng thật, phối hợp với
các cơ quan chức năng phát hiện hàng giả trên thị trường. Vì vậy thời gian gần đây số
lượng hàng giả nhãn hiệu Kinh Đô đã có dấu hiệu giảm.
14
Khó khăn hội nhập : Chính phủ Việt Nam đang tích cực xúc tiến việc gia nhập
WTO trong năm 2005 cũng là yếu tố ảnh hưởng lâu dài tới ngành bánh kẹo. Hiện nay
mức thuế suất nhập khẩu phổ thông áp dụng cho sản phẩm bánh kẹo là 75%, đối với các
nước thuộc diện ưu đãi là 50%. Riêng với các nước thuộc ASEAN thuế suất thuế nhập
quân 20%/năm. Tribeco có uy tín lâu năm trên thị trường nước giải khát với các thương
hiệu mạnh, là sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh, đạt giải
thưởng chất lượng Việt Nam, hệ thống phân phối cả nước, hoạt động ổn định hàng năm,
bộ máy quản lý, điều hành tốt, công nghệ hiện đại,… sẽ hỗ trợ tốt cho hệ thống Kinh Đô
phát triển ngành nước giải khát.
Hợp tác với Tribeco, Kinh Đô tin tưởng rằng sẽ cùng với Tribeco chia sẻ kinh
nghiệm, xây dựng thương hiệu Tribeco ngày càng vững mạnh, nâng cao khả năng cạnh
tranh, phát triển bền vững, mang lại lợi ích cho các đối tác, cổ đông hiện tại và nhà đầu
tư tiềm năng. Đồng thời, với những lợi thế của mình, Tribeco cũng sẽ góp phần giúp hệ
thống Kinh Đô trở thành một tập đoàn thực phẩm mang tầm khu vực.
15