Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển kinh doanh
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
AN TOÀN SINH HỌC
Đề tài:” Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát
triển kinh doanh thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Thảo
Hà Nội, 4/2013
Page 1
Nhóm sinh viên thực hiện NHÓM 4 (CNSHA-K55)
Lương Thị Điệu 550336
Vũ Tất Đạt 550334
Phạm Thế Đồng 550337
Nguyễn Quốc Đại 550333
Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển kinh doanh
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
I.Đặt vấn đề
Hiện nay dân số tăng nhanh kéo theo việc không ngừng tăng nhanh nhu
cầu về ăn ở, lương thực thực phẩm. Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp bị
suy giảm đáng kể không chỉ bởi nạn chặt phá rừng, biến đổi khí hậu mà còn để
phục vụ cho sản xuất công nghiệp cũng như giải quyết vấn đề nhà ở cho con
người. Chính vì vậy để tăng sản lượng lương thực thực phẩm thì chỉ có con
đường là cải thiện và nâng cao năng suất cây trồng. Những cây trồng, vật nuôi
tương lai phải đáp ứng được các yêu cầu như: cho năng suất, chất lượng cao,
an toàn với môi trường và sức khỏe con người, có khả năng tăng trưởng bền
vững…
Công nghệ sinh học đang phát triển vượt bậc tạo ra những sản phẩm có ý
nghĩa vô cùng to lớn và cây trồng công nghệ sinh học là một trong những sản
phẩm đáp ứng được các yêu cầu trên, những lợi ích to lớn ấy đã được chứng
Đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực CNSH thì đã và đang được xây dựng, có trình
độ cao có khả năng đặt ra các vấn đề về và nhiệm vụ khoa học và công
nghệPhân tích những khó khăn trong việc kinh doanh cây trồng công nghệ
sinh học ở Việt Nam.
• Nhu cầu thị trường
+ Chính sách của nhà nước
- Trong vòng 5 năm qua, ngân sách nhà nước đã đầu tư khoảng 2 triệu USD cho
một vài phòng thí nghiệm
- Chương trình 52D (1986-1990): “Nghiên cứu sinh học phục vụ nông nghiệp”
với 25 đề tài về công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào và công nghệ chế biến.
- Chương trình KC-08 (1991-1995): “Chương trình Công nghệ Sinh học” với 15
đề tài về ứng dụng CNSH trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, chế biến
thực phẩm, chế phẩm y sinh và công nghệ xử lý môi trường.
- Chương trình KHCN-02 (1996-2000): “Công nghệ Sinh học phục vụ phát triển
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bền vững, bảo vệ môi trường và sức khoẻ” với
29 đề tài về ứng dụng CNSH trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, sản
xuất vacxin, phân bón và thuốc trừ sâu sinh học, bảo quản và chế biến nông,
lâm và thuỷ sản.
- Chương trình KC-04 (2001-2005): “Nghiên cứu khoa học và phát triển
CNSH” với 30 đề tài/dự án về ứng dụng sinh học phân tử trong chọn tạo
giống cây trồng, vật nuôi, chẩn đoán bệnh, sản xuất vacxin và công nghệ xử
lý môi trường.
- Năm 2000, Chương trình Kỹ thuật-Kinh tế về CNSH do các doanh nghiệp
chủ trì được tổ chức nhằm đưa nhanh những kết quả nghiên cứu về CNSH
Page 3
Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển kinh doanh
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
vào sản xuất công nghiệp. Hiện đã có 16 dự án được xây dựng và 6 dự án
đang thực hiện.
- Quyết định số 97/2007/QĐ-TTg ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
+ Những ưu điểm của cây trồng công nghệ sinh học mà cây trồng truyên
thống không đáp ứng được như sản lượng để đảm bảo an ninh lương thực và
sự biến đổi khí hậu.
+ Tiếp cận với các thành tựu và công nghệ trong việc tạo ra cây trồng công
nghệ sinh học từ các nước phát triển.
+ Sự gia tăng dân số nhanh chóng ở Việt Nam mở ra một thị trường lớn cây
trồng công nghệ sinh học.
2. Phân tích những khó khăn trong việc kinh doanh cây trồng công nghệ
sinh học ở Việt Nam
• Khó khăn về mặt kinh tế
Khó khăn của các công ty sản xuất giống cây trồng. Để có thể đưa ra một
giống cây trồng GM ra thương mại hóa thì trước đó các công ty giống phải tiến
hành hàng loạt các thí nghiệm kiểm tra mức độ an toàn sinh học va bảo đảm đạt
đầy đủ các tiêu chuẩn đánh giá. Chi phí cho các quy trình kiểm tra là rất lớn. Đây
Page 5
Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển kinh doanh
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
cũng là rủi ro đối với các công ty sản xuất giống GMO khi có thể giống GMO
không thông qua kiểm tra và không được thương mái hóa, khi đó số tiền đầu tư bỏ
ra không thể thu hồi lại.
Tổng chi phí để giống cây bông Bt được phê duyệt là khoảng 1.600.000 -
1.800.000 USD khi Monsanto tiến hành ở Mỹ. Tuy nhiên chi phí bỏ ra ít tốn kém
hơn khi Monsanto tiến hành thử nghiệm tại Ấn Độ, VD: tiến hành thử nghiệm dị
ứng với chuột nâu Na uy là 35.000 USD thay vì 150.000USD.
Chi phí để có thể đưa một giống cây GM là rất lớn và chỉ các tập đoàn kinh
tế lớn mới có khả năng đáp ứng. Vấn đề chi phí sản xuất giống lớn cũng là thách
thức đối với các công ty sản xuất giống nhỏ, các viện nghiên cứu thuộc nhà nước ở
những nước đang phát triển.
Chi phí mà người nông dân phải bỏ ra để mua hạt giống GM là đắt hơn rất
ty giống GM lũng đoạn thị trường giống. Vấn đề bản quyền giống cây
trồng nằm trong tay các tập đoàn cung cấp giống sẽ làm người nông dân
luôn bị phụ thuộc vào nguồn giống, phân bón, hóa chất… với giá cả hoàn
toàn do phía cung cấp định đoạt. Đây là một tác động kinh tế xấu, đặc
biệt là đối với nông dân ở các nước đang phát triển có trồng cây GM.
Hiện nay, chưa có một nghiên cứu nào chứng minh giá các sản phẩm
GMO là rẻ hơn so với các sản phẩm bình thường. Vấn đề đầu ra cho các
sản phẩm GMO cũng là nỗi lo lớn đối với nông dân trồng cây GM. Hiên
nay, diện tích trồng cây GM chủ yếu là đậu tương, bông. Hai loại cây này
phục vụ chủ yếu cho công nghiệp và làm thức ăn chăn nuôi. Nông dân
trồng cây GM có thể bị ép giá bởi các công ty thu mua, do không có đầu
ra nào khác cho sản phẩm GMO.
Đối với người nông dân sử dụng sản phẩm GMO làm thức ăn chăn nuôi.
Cũng vấp phải khó khăn cho đầu ra của sản phẩm. Do chi phí mua thức
ăn chăn nuôi có nguồn gốc GMO đắt hơn so với thức ăn bình thường.
Kéo theo đó là giá thành sản phẩm sẽ đắt hơn so với các sản phẩm từ
chăn nuôi truyền thống. Khi tiêu thụ trên thị trường, các sản phẩm này
không có giá cả cạnh tranh được với các sản phẩm truyền thống hoặc sản
phẩm nông nghiệp hữu cơ
Có sự mâu thuẫn thị trường tiêu thụ sản phẩm GMO tại chính quốc gia có
trồng cây GMO. Tại chính quốc gia đó, cấm bán các thực phẩm GMO
trong nước nhưng lại bán chúng ra nước ngoài.
Trong trường hợp GMOs được chấp nhận một cách rộng rãi thì các sản
phẩm truyền thống đứng trước nguy cơ mất thị trường bởi các sản phẩm
từ GMOs có những ưu điểm hơn về chất lượng hoặc màu sắc, mẫu mã.
Page 8
Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển kinh doanh
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
“Năm 2012, nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long sản xuất được
hơn 24 triệu tấn lúa (đóng góp 90% trong tổng lượng gạo xuất khẩu
mại hóa chúng trong thị trường Việt Nam là hướng đi đúng dắn, tất yếu và
sẽ thành công trong tương lai.
Page 10
Phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển kinh doanh
thành công các cây trồng CNSH ở Việt Nam
Tài liệu tham khảo:
i. Nguyễn Thị Phương Thảo, Cây Trồng Công Nghệ Sinh Học (Hà Nội: Nhà xuất bản Hà Nội,
2011), pp. 86-88.
ii. />2005-2015&catid=10%3Akhoahoc-congnghe&Itemid=82
iii. />
iv. lam-nhieu-thu-nhap-chang-bao-nhieu
Page 11