Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN: TÀI CHÍNH CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
Đề tài:
RÀNG BUỘC CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC
GIA PHẢI XỬ SỰ CÔNG BẰNG:
ĐỀ XUẤT MỘT CƠ SỞ NGHIÊM
NGẶT VỀ CHUYỀN GIÁ
Elizabeth Chorvat
GVHD : PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
SVTH : Nhóm 4
LỚP : TCDN - Đêm 4 – Khóa 19TP.Hồ Chí Minh, 07/2011
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 1/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
I. GIỚI THIỆU VỀ BÀI NGHIÊN CỨU
1. Giới thiệu chung:
Hiện nay, vấn đề lớn nhất mà hệ thống thuế quốc tế đang phải đối mặt là sự
chuyển giá giữa các công ty con của công ty đa quốc gia (MNC) với nhau.
Chuyển giá đề cập đến giá trong những hoạt động mua bán qua lại giữa công
ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con của MNC với nhau. Giá bán của
hàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giá này được tính theo một cách chủ
quan mà không hề dựa trên giá trị thực tạo nên sản phẩm hay dịch vụ được cung
lợi ích khi vận dụng cả hai hệ thống công thức phân bổ và theo tiêu chuẩn giá thị
trường.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Sử dụng các mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), lý thuyết kinh doanh
chênh lệch giá, lý thuyết định giá quyền chọn, và các lý thuyết định giá hiện đại
khác để xác định chính xác giá trị tài sản đầu tư, lợi nhuận, mức độ rủ ro của công
ty con, để từ đó xem xét nguồn vốn đầu tư vào công ty con như là một danh mục
đầu tư đa quốc gia của tập đoàn. Tập đoàn vận dụng mô hình phân bổ thu nhập hợp
lý cho các công ty con ở từng quốc gia có mức thuế xuất khác nhau và tiến hành
xác định phân bổ lợi nhuận cho các công ty con hợp lý theo nguyên tắc tối đa hóa
lợi nhuận cho công ty mẹ bằng cách chuyển giá.
3. Vấn đề nghiên cứu – Chuyển giá:
Các nhà quản trị thừa nhận rằng chuyển giá là một công cụ hiệu quả trong
việc thao túng thu nhập được trì hoãn nộp thuế.
Hai phương pháp tiếp cận đến vấn đề chuyển giá đã được thừa nhận là tiêu
điểm trong bài nghiên cứu: phương pháp giá thị trường và phương pháp ấn định
theo công thức.
3.1Phương pháp giá thị trường:
Hầu hết các nước công nghiệp đều thừa nhận nguyên tắc giá thị trường,
nguyên tắc (ALP) này được đưa ra trong mục 482 Luật thuế về vấn đề chuyển giá
của Mỹ và trong các hướng dẫn của OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế).
Do tính chất khách quan của nguyên tắc ALP là phản ánh đúng bản chất thị trường,
quy luật thị trường, quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ và qui luật cạnh tranh của
thị trường nên nó gần như được chấp nhận toàn cầu.
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 3/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Các phương pháp hiện hành được áp dụng trong nguyên tắc ALP cho việc
chuyển giao tài sản có thể được chia thành 2 phương pháp: phương pháp dựa trên
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 4/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Nhưng điều kiện để áp dụng các phương pháp này là các giao dịch đem ra so
sánh không có các khác biệt nào trọng yếu ảnh hưởng đáng kể đến giá của sản
phẩm và hàng hoá, dịch vụ. Nếu có sự khác biệt thì sư khác biệt này phải được tính
toán và điều chỉnh cho phù hợp. Thật không may cho những MNC, các cơ quan
thuế thiếu sự thống nhất khi nào điều chỉnh và điều chỉnh như thế nào. Kết quả là,
nhiều MNC không chắc chắn việc sử dụng phương pháp dựa trên giao dịch như thế
nào? Để giảm sức ép lên các công ty đa quốc gia, cơ quan thuế nên điều chỉnh
đồng nhất và công khai về thỏa thuận đa phương về tránh đánh thuế hai lần.
Tòa án thuế cho rằng những so sánh nội bộ hợp lý ngay cả khi những điều
chỉnh đòi hỏi đạt được sự tin cậy nên được tối ưu hóa trong phương pháp dựa trên
lợi nhuận. Ví dụ, trong tập đoàn máy tính Compaq. v . Commissioner, quyết định
của Compaq đã gửi một tín hiệu rõ đến những người nộp thuế và cơ quan thuế rằng
có một sự ưa chuộng phương pháp dựa trên giao dịch hơn là phương pháp dựa trên
lợi nhuận.
3.1.2 Phương pháp dựa trên lợi nhuận
Các phương pháp dựa trên lợi nhuận được cụ thể trong những qui định của
Mỹ có:
- Phương pháp so sánh lợi nhuận (CPM): dựa vào tỷ suất sinh lời của sản
phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất
sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện
giao dịch tương đương nhau cho dù tiêu chuẩn so sánh của CPM tương đối lỏng
lẻo và có ích cho việc đánh giá thu nhập bằng những hàm thông thường.
- Phương pháp phân chia lợi nhuận: Việc phân chia lợi nhuận thì thích hợp
khi cả hai bên của các giao dịch tự do sở hữu tài sản vô hình có giá trị, và không có
phương pháp dựa trên giao dịch được so sánh nào đáng tin cậy. Những qui định
của Mỹ hướng dẫn hai cách phân chia lợi nhuận. Thứ nhất là phân chia so sánh lợi
nhuận, mà thực chất là dựa trên những giao dịch được so sánh. Thứ hai, là sự phân
3.3.1 Giá thị trường đối nghịch với sự ấn định theo công thức
Phương pháp chuyển giá cần phản ánh giá trị thực được chuyển từ các bên
liên quan trong quá trình cung cấp hàng hoá, dịch vụ, hoặc chuyển nhượng tài sản
vô hình. Tuy nhiên, phương pháp chuyển giá hiện nay được dựa trên những giả
định về giá trị thường mâu thuẫn với lý thuyết tài chính hiện đại. Bởi vì phương
pháp chuyển giá của Mỹ dựa trên tiêu chuẩn giá thị trường, và hàm ý khái niệm
chủ thể độc lập, phương pháp chuyển giá hiện nay thất bại trong việc tính đến hành
vi của doanh nghiệp. Cụ thể, quy tắc chuyển giá ở Mỹ tính đến lợi nhuận hợp nhất
của các công ty trong cùng tập đoàn.
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 6/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Tiêu chuẩn giá thị trường xem từng đơn vị thành phần kinh doanh của một
nhóm công ty đa quốc gia như một doanh nghiệp (các "mô hình chủ thể riêng
biệt"), việc phân bổ thu nhập dựa trên các giao dịch tương tự giữa các bên không
liên quan. Tuy nhiên, mô hình hành vi dựa trên lý thuyết phát triển vào đầu thế kỷ
XX bởi Leon Walras, không tính đến các động lực của các MNC để sắp xếp các
giao dịch xuyên quốc gia để chuyển lợi nhuận đến nơi chịu thuế thấp nhất.
Hơn nữa, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp tăng cường hình
thành chiến lược liên minh hoặc quan hệ đối tác theo hướng tối đa hóa các lợi ích
kinh tế của tất cả các thành viên. Những chiến lược liên minh này cho phép tất cả
các thành viên gia tăng lợi nhuận mong đợi cũng như giảm rủi ro bằng cách chia sẻ
tổn thất giữa các thành viên.
Các phương pháp được định rõ trong các quy định của Mỹ có thể không nắm
bắt và phân bổ lợi nhuận hợp nhất. Bài viết này tranh luận cho việc sử dụng các
phương pháp định giá thay thế, để nắm bắt và phân bổ chính xác lợi nhuận hợp
nhất, trong trường hợp thiếu các giao dịch tương tự.
Thậm chí việc phân bổ hợp lý rủi ro còn quan trọng hơn việc phân bổ lợi
nhuận hợp nhất. Bởi vì các phương pháp chuyển giá hiện tại dựa trên các giao dịch
điều chỉnh.
Khi việc áp dụng phương pháp CUP không khả thi, các quy định của Mỹ
cung cấp phương pháp giá bán lại và phương pháp chi phí tăng thêm như là một
phương pháp giao dịch thay thế. Các giả định cơ bản khi áp dụng những phương
pháp này là họ chỉ được áp dụng cho các giao dịch được điều chỉnh cho phù hợp và
các giá trị vô hình hoặc nguy cơ làm giảm giao dịch duy nhất là đúng do các bên
không được thử nghiệm. Kết quả là, bên được kiểm tra được giả định là tài sản vô
hình hoặc tài sản duy nhất có giá trị phân biệt so sánh với khả năng không kiểm
soát được.
Giả định này hạn chế đáng kể việc áp dụng phương pháp này cho những chủ
thể có chức năng, rủi ro và tài sản thông thường, sử dụng bên thứ ba tương đương
gần nhất hoặc chủ thể có giao dịch với bên thứ ba. Phương pháp giá bán lại và
phương pháp chi phí tăng thêm thích hợp nhất để áp dụng cho nhà phân phối, nhà
sản xuất, hoặc nhà cung cấp dịch vụ thực hiện chức năng thông thường, chịu rủi ro
thông thường, và sử dụng tài sản có sẵn. Do đó, khi thiếu các giao dịch tương tự
đáng tin cậy cần thiết thì yêu cầu sử dụng phương pháp dựa trên lợi nhuận.
3.3.3 Các vấn đề tồn tại của các phương pháp dựa trên lợi nhuận
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 8/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Quy định chuyển giá tại Mỹ cho phép áp dụng hai phương pháp dựa trên lợi
nhuận: phương pháp phân chia so sánh lợi nhuận và phương pháp phân chia lợi
nhuận còn lại. Tiền đề của những phương pháp này là không đủ cơ sở để phân bổ
lãi lỗ cho các tài sản vô hình quan trọng tự tạo của các công ty đa quốc gia thông
qua hoạt động toàn cầu của họ. Phương pháp phân chia so sánh lợi nhuận dựa trên
các tiêu chuẩn thị trường bên ngoài. Phân bổ lợi nhuận còn lại được mô tả trong
các quy định của Mỹ thì phù hợp với các bên đóng góp tài sản vô hình. Phương
pháp này phân bổ không chính xác trong tình huống mô hình kinh doanh hợp nhất,
nơi mà các đóng góp liên quan đến lợi nhuận có thể tạo ra từ việc đóng góp các
đôi khi doanh nghiệp hoạt động bị lỗ nên doanh nghiệp không có lợi nhuận. Lợi
nhuận của tập đoàn được tạo ra từ lợi nhuận tổng hợp của các công ty con. Lợi
nhuận được phân bổ giữa các công ty con theo sự đồng thuận của các thành viên
góp vốn.
Nguyên tắc nền tảng của giá ấn định theo công thức là thu nhập được phân
bổ theo lao động, vốn, và doanh thu, do đó không gần đúng với lợi nhuận trên vốn.
Kết quả của vốn đầu tư là tiêu chí được sử dụng để phân bổ thu nhập giữa
các thành viên của tập đoàn. Các công thức phân bổ áp dụng giữa các bang tại Mỹ
được dựa trên tiền lương, doanh thu, và tài sản hữu hình. Trong đó, tiền lương,
doanh số bán hàng ít có mối quan hệ với vốn cho nên nó ít có mối quan hệ với việc
phân bổ lợi nhuận của công ty.
Công thức phân bổ cũng không tính đến các yếu tố như: tài sản vô hình, bí
quyết kinh doanh, quy trình kinh doanh và rủi ro của lợi nhuận trên vốn. Bằng cách
loại trừ phân tích rủi ro, phương pháp giá ấn định theo công thức thường không
nhắm đến đặc thù của bất kỳ doanh nghiệp cụ thể nào, và do đó không thể phản
ánh các giao dịch dưới giá trị thực của các công ty đa quốc gia.
Tiêu chuẩn giá thị trường hoàn toàn phù hợp cho việc phân bổ vốn giữa các
công ty thành viên trong tập đoàn. Nhiều giao dịch theo giá thị trường sẽ không
được thực hiện giữa các công ty thành viên trong cùng tập đoàn đa quốc gia. Các
công ty đa quốc gia tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thực hiện chuyển giá dựa vào
việc phân bổ thu nhập trên vốn của các công ty con.
2.2Đo lường lợi nhuận trên vốn bằng sự phân bổ danh mục đầu tư:
Theo các lý thuyết kinh tế, thu nhập giữa các thành viên trong tập đoàn có
thể được phân bổ dựa trên sự phân bổ danh mục đầu tư.
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 10/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Các công ty đa quốc gia đang nỗ lực nghiên cứu cách thức phân bổ vốn cho
các danh mục đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận với giả định lợi nhuận biên có điều
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Tuy nhiên, mô hình phương sai kỳ vọng có hạn chế riêng của nó, trong mô
hình này, chỉ có các chứng khoán sơ cấp mới có thể được nắm giữ, các chứng
khoán phái sinh không được cho phép. Giả định rằng, lợi nhuận từ tài sản có phân
phối chuẩn chỉ hợp lý trong ngắn hạn. Trong khoảng thời gian này, bất kỳ một xu
hướng đi lên dài hạn nào về giá trị của các chứng khoán sơ cấp như cổ phiếu đều bị
ảnh hưởng bởi biến động giá. Nếu xem xét lợi nhuận trên tài sản trong thời gian
dài hơn thì việc phân bổ lợi nhuận sẽ không theo phân phối chuẩn.
Mô hình phương sai kỳ vọng cũng có những hạn chế vì nó bao gồm những
giả định xa rời giá trị thực của thị trường vốn. Ngoài giả định lợi nhuận có phân
phối chuẩn, mô hình còn giả định chỉ có duy nhất một nhà đầu tư trên thị trường.
Tuy nhiên, các mô hình định giá khác hữu ích hơn được phát triển từ mô hình này
bằng cách đưa ra các giả định thực tế hơn như: CAPM, lý thuyết định giá quyền
chọn, lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá và lý thuyết giá cả linh hoạt.
2.3.1 Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)
a. CAPM với những kỳ vọng thuần nhất:
Mô hình này có giả định rằng các nhà đầu tư có ưa thích đầu tư phụ thuộc
vào lợi nhuận mong đợi và sự biến động của tài sản, có cùng niềm tin về lợi nhuận
trung bình và hiệp phương sai của các khoản đầu tư tiềm năng, đó là kỳ vọng thuần
nhất. Về mặt lý thuyết, CAPM là mô hình hữu ích cho việc tính toán lợi nhuận trên
vốn, được sử dụng để tính các rủi ro vốn có trong tài sản hoặc tài sản trong một
danh mục đầu tư đưa ra.
Giả định rằng các nhà đầu tư phân bổ vốn để tối đa hóa lợi nhuận đã điều
chỉnh rủi ro của họ, họ sẽ đánh giá tài sản dựa trên CAPM. Theo CAPM, lợi nhuận
mong đợi của bất kỳ chứng khoán nào bằng tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cộng với bê
ta lần phần chênh lệch giữa độ an toàn và rủi ro (phần bù rủi ro) từ việc đầu tư trên
danh mục thị trường, công thức:
Ra = Ro + βa(Rm – Ro)
Trong đó: β là hiệp phương sai giữa lợi nhuận tài sản và lợi nhuận thị
trường và phần chênh lệch rủi ro của thị trường là tổng lợi nhuận trên thị
khoán phái sinh. Nếu mỗi nhà đầu tư có sự phân bổ xác suất theo quan điểm chủ
quan hay hàm thỏa dụng của riêng mình và được phép giao dịch cả chứng khoán sơ
cấp và chứng khoán phái sinh thì trong trạng thái cân bằng, mỗi người sẽ nắm giữ
một danh mục chứng khoán khác nhau và công thức CAPM áp dụng cho danh mục
chứng khoán sơ cấp của mỗi cá nhân dựa trên xác suất chủ quan của họ.
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 13/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Mặc dù mô hình này xuất hiện phù hợp khá nhiều với hành vi của nhà đầu tư
nhưng rất khó để xác định tính chính xác của mô hình. Đối với bất kỳ danh mục
nào được nắm giữ bởi nhà đầu tư cá nhân, rất khó để tách riêng lợi nhuận kỳ vọng
của thị trường ra khỏi chi phí rủi ro và điều này cũng đúng cho toàn thị trường. Kết
quả là CAPM dự báo tốt hành vi của nhà đầu tư.
Một trong những tranh luận nhiều nhất về CAPM là nó chỉ dựa trên giả định
phù hợp với hành vi hợp lý của nhà đầu tư. Nó giả định rằng các nhà đầu tư muốn
giảm bớt rủi ro và kiếm thu nhập cao hơn. Nếu những giả định về mô hình chính
xác thì nó cần mô tả giá của tài sản do thị trường quyết định. Ngay cả khi vẫn tồn
tại những vấn đề tiềm ẩn, CAPM là một phương pháp được sử dụng nhiều nhất để
định giá tài sản tài chính.
2.3.2 Lý thuyết định giá quyền chọn:
Như được mô tả ở trên, mô hình CAPM với những kỳ vọng không thuần
nhất đã không thực sự tính đến các chứng khoán phái sinh như các quyền chọn
một cách đặc biệt. Để trả lời cho vấn đề này, Fischer Black, Myron Scholes và
Robert Merton đã phát triển một lý thuyết cho việc định giá các quyền chọn dựa
trên ý tưởng rằng trong một thị trường hiệu quả nó không nên để cho ai đó có thể
kiếm lợi nhuận mà không cần gánh chịu một rủi ro tương xứng. Điều này thường
được gọi là nguyên tắc kinh doanh không chênh lệch giá. Black và Scholes cho
rằng các điều kiện không chênh lệch giá phải tồn tại giữa giá của một cổ phiếu,
quyền chọn mua cổ phiếu, và một trái phiếu phi rủi ro là nguyên nhân khiến cho
tế;
- bns là các hệ số khác nhau - nói lên mức độ mà giá của tài sản có
liên quan với một yếu tố;
- εa là yếu tố rủi ro đặc biệt.
Mô hình này giả định rằng các yếu tố trong phương trình là độc lập với
nhau. Đây là một mô hình đa biến của CAPM.
Rõ ràng, điểm mấu chốt của lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá là việc lựa
chọn các yếu tố thích hợp. Đối với mỗi loại tài sản khác nhau thì nhà đầu tư có thể
chọn lựa các yếu tố khác nhau.
2.3.4 Lý thuyết định giá tài sản linh hoạt:
Tất cả các lý thuyết trên đây dựa trên một mô hình hai thời kỳ đơn. Trong
các mô hình này, nhà đầu tư quyết định đầu tư trong thời kỳ tiếp theo, lợi ích sau
cùng của việc đầu tư được xác định. Ít nhất ban đầu, nó dường như không thay thế
các mô hình này từ một nền kinh tế hai thời kỳ đến một nền kinh tế n thời kỳ hoặc
thậm chí một nền kinh tế với thời gian liên tục sẽ đòi hỏi bất kỳ giả định mới một
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 15/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
cách cơ bản. Nguyên tắc không chênh lệch giá cùng với các giả định khả năng
phương sai kỳ vọng vẫn sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, các mô hình không hỗ trợ
phân tích này. Trước hết, mô hình CAPM không hiệu quả trong bối cảnh nhiều giai
đoạn vì nhà đầu tư sẽ phải cân bằng lại danh mục đầu tư của mình sau mỗi thời kỳ
mà nó cơ bản làm thay đổi các giả định ban đầu về điểm cân bằng. Thứ hai, mô
hình Black-Scholes, là một mô hình thời gian liên tục, không kết hợp với các kỳ
vọng không thuần nhất.
Mô hình lý thuyết định giá linh hoạt nỗ lực để giải quyết việc đầu tư trong
nhiều thời kỳ bởi sử dụng những kỹ thuật toán học phức tạp. Hơn nữa, các mô hình
nhiều thời kỳ đặt ra nhiều câu hỏi mới như: bằng cách nào mà các nhà đầu tư cập
nhật những kỳ vọng của họ khi thông tin mới được công bố. Vấn đề cơ bản với giá
kinh doanh hiện đại - chúng ta áp dụng phương pháp phân bổ thu nhập dựa trên
phần đóng góp của các thành viên vào thu nhập cũng như tổn thất của tổng thể.
Phần này làm rõ thêm hệ thống công thức phân bổ. Tuy nhiên, phương pháp này
còn nhiều hạn chế trong cách phân bổ thu nhập và bỏ qua các yếu tố như rủi ro và
vốn thuộc sở hữu của các thành viên.
Về mặt lý thuyết, cách tốt nhất tiếp cận vấn đề lợi nhuận hợp nhất là phương
pháp chuyển giá mà phân bổ thu nhập dựa trên tài sản của tập đoàn. Nếu giao dịch
giữa các bên liên quan không xảy ra, thì rất khó để phân bổ lợi nhuận dựa trên giá
thị trường. Mặc khác, nếu chúng ta quan niệm doanh nghiệp phân bổ vốn theo cách
mà các nhà đầu tư phân bổ vốn nhằm tối đa hoá lợi nhuận, lợi nhuận hợp nhất sẽ
được phân chia giữa các thành viên trong tập đoàn dựa trên việc phân chia vốn và
rủi ro phân chia. Đây là cách tiếp cận hợp lý nhất, giả định không có bên nào có
đặc quyền lớn hơn và thu nhập được phân bổ trên tỷ lệ đóng góp của các thành
viên.
3.1.1. Các vấn đề chung:
Thực tế không có phương pháp duy nhất nào áp dụng hoàn hảo cho tất cả
các tình huống. Vì vậy, cần cẩn thận khi lựa chọn phương pháp tốt nhất áp dụng
cho từng tình huống.
Căn cứ vào phần đóng góp của các thành viên vào thu nhập của tập đoàn,
việc phân bổ thu nhập trở nên dễ dàng hơn. Đầu tiên, nó không chờ sự thống nhất
của các thành viên trong việc phân bổ rủi ro. Nếu không có những thỏa thuận
tương tự, hoặc các thành viên tuân thủ các thoả thuận, bộ phận phân phối doanh
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 17/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
thu nội bộ nên tiến hành một cuộc điều tra thực tế các thành viên nào gây ra rủi ro
(ví dụ như cách phân bổ vốn sẽ được thay đổi nếu có một sự tổn thất trong kinh
doanh)
3.1.2. Áp dụng mô hình cho vấn đề có liên quan đến giá:
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Theo nguyên tắc giá thị trường, rủi ro phân bổ cho các thành viên cụ thể
chịu rủi ro đó. Những rủi ro này bao gồm cả rủi ro tiền tệ cũng như các rủi ro kinh
doanh. Khi xem xét những rủi ro này là rủi ro hệ thống và phân bổ dựa trên tài sản
bỏ qua khái niệm chủ thể độc lập cho các lợi nhuận có rủi ro, phần quan trọng nhất
của tổng lợi nhuận. Do đó, phân bổ rủi ro từ hoạt động tại một khu vực cụ thể đến
các thành viên hoạt động trong khu vực đó là rất quan trọng. Rủi ro quốc gia nên
được bao gồm trong việc xác định rủi ro có liên quan đến hoạt động của công ty đa
quốc gia trong một khu vực đó.
CAPM đo lường rủi ro (đại diện bởi một hệ số beta duy nhất) bằng cách
hiệp phương sai của lợi nhuận trên tài sản với thị trường vốn. Việc đo lường rủi ro
của mô hình CAPM chính xác hơn khi "thị trường vốn" trở nên rộng lớn hơn. Ví
dụ, nếu các thị trường vốn bao gồm các thị trường bất động sản, vàng, trái phiếu,
và các kim loại quý, ngoài thị trường cổ phiếu của các công ty nội địa, việc đo
lường rủi ro sẽ chính xác hơn. CAPM được sử dụng tốt nhất tại các tập đoàn mà có
công ty mẹ là công ty đại chúng hoặc lợi nhuận trên cổ phiếu của công ty mẹ có
một hiệp phương sai lớn với thị trường. Trong trường hợp này, hệ số beta sẽ tách
thành các bêta cho từng đơn vị thành viên.
b. Lý thuyết định giá quyền chọn:
Lý thuyết định giá quyền chọn đo lường rủi ro của một quyền chọn bằng
cách tách bất kỳ tài sản nào thành quyền chọn kèm theo. Hiện nay, lý thuyết định
giá quyền chọn được sử dụng bởi IRS để đo lường giá quyền chọn cổ phiếu ưu đãi
(compensatory stock option) vì mục đích chia sẻ chi phí. Lý thuyết này được áp
dụng tốt nhất cho các tập đoàn có các công ty thành viên có đòn bẩy cao. Nếu công
ty có đòn bẩy cao, giá trị công ty thể hiện bởi vốn cổ phần trở thành một quyền
chọn mua hiệu quả. Khi công ty có tỷ lệ nợ lớn, nhà đầu tư sẽ nhận được toàn bộ
các giá trị tăng thêm nhưng chỉ mất hạn chế phần vốn họ đầu tư. Trong trường hợp
này, vốn cổ phần trong các công ty này sẽ được định giá tốt nhất như là một quyền
chọn mua hơn là kỹ thuật định giá truyền thống.
Lý thuyết định giá quyền chọn cũng rất hữu ích cho việc định giá vốn cổ
tài sản khác. Ví dụ, tài sản tương tự như tài sản được giao dịch công khai thì áp
dụng mô hình CAPM. Tài sản tương tự một quyền chọn, áp dụng lý thuyết định giá
quyền chọn. Tài sản ít cạnh tranh trong thị trường tương đối hạn chế, lý thuyết kinh
doanh chênh lệch giá thích hợp hơn. Ví dụ, nếu giá tài sản thay đổi đáng kể so với
chỉ số GDP (như giá trị công ty xây dựng), rõ ràng là các phương pháp định giá có
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 20/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
ưu thế đáng kể so với việc ấn định theo công thức. Chúng ta có cảm giác hai
phương pháp có ý nghĩa như nhau. Cả hai phương pháp cho thấy việc để áp dụng
tiêu chuẩn giá thị trường vào tình huống có thể không phát sinh giữa các bên
không liên quan, không phải là cách tốt để thực hiện một hệ thống định chuyển giá.
Tuy nhiên, việc áp dụng lý thuyết định giá gần với thực tế kinh tế hơn là phân bổ
dựa trên bố trí lao động, doanh số … Hơn nữa, nếu một trong các yếu tố trong
công thức là giá trị của tài sản, thì công thức phân bổ tương đương với các phương
pháp định giá này, đặc biệt khi định giá tài sản vô hình trong một khu vực cụ thể.
3.1.3. Mô hình định giá vấn đề tương lai:
Một vấn đề tiềm ẩn trong các phương pháp được đề xuất là các phương pháp
định giá tài sản này dựa trên sự tính toán trước những gì sẽ xảy ra, trong khi thu
nhập tính thuế gần như được xác định bởi sự tính toán dữ liệu quá khứ. Người ta
cho rằng một sự tính toán trước những gì sẽ xảy ra là không công bằng vì nó có thể
làm cho một thành viên cụ thể phải chịu một khoản lỗ ngay cả khi toàn bộ tập đoàn
có thu nhập ròng. Do đó, thu nhập có thể được phân bổ cho một thành viên thực sự
đã có lỗ ròng trong năm. Vì vậy, những phương pháp này có thể mang lại kết quả
không chính xác.
Để giải quyết các vấn đề chưa xảy ra chúng ta nên sử dụng lợi nhuận kỳ
vọng như phương pháp mặc định, giả định lãi lỗ được phân bổ dựa trên lợi nhuận
kỳ vọng. Tuy nhiên, nếu người nộp thuế cho rằng sự phân bổ này không đúng, họ
có nghĩa vụ chứng minh rằng sự phân bổ này là sai và đề xuất một phương pháp
- Khảo sát sự tương quan của tỷ suất sinh lợi của một thành viên so với tỷ
suất sinh lợi của toàn tập đoàn.
- So sánh sự tương quan của tỷ suất sinh lợi của tập đoàn với tỷ suất sinh lợi
của toàn bộ thị trường.
Tỷ suất sinh lợi từ một tài sản vô hình được sử dụng hoặc được bán bởi một
thành viên sẽ được đo lường dựa vào điều kiện β của thành viên. Ví dụ, để xác
định tỷ lệ bản quyền về thương hiệu, người ta sẽ kiểm tra sự biến động về tỷ suất
sinh lợi của sản phẩm khi có thương hiệu.
3.3 Đa dạng hóa rủi ro và phân bổ các khoản lỗ:
Tất cả các mô hình đều phân chia lợi nhuận thành: lợi nhuận rủi ro và lợi
nhuận phi rủi ro. Việc tính toán tỷ suất sinh lợi rủi ro dựa trên sự biến động của các
đơn vị kinh doanh khác nhau. Phương pháp tiếp cận tinh vi này cùng với các công
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 22/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
cụ phân tích cho thấy rằng quá trình kinh doanh ảnh hưởng tới rủi ro của những tài
sản nêu trên. Những tài sản có rủi ro càng lớn có tỷ suất sinh lợi càng cao.
Ví dụ, hàng tồn kho của nhà phân phối không phải chịu nhiều rủi ro như
hàng trong tay những nhà bán lẻ địa phương. Một khi tài sản đã tới thị trường nội
địa thì có rủi ro cao hơn bởi vì có những rủi ro riêng biệt của thị trường nội địa
trong khi nhà phân phối thì có thể đa dạng hóa rủi ro trên nhiều thị trường. Những
tài sản này có thể chứa đựng những rủi ro riêng đồng thời chịu những rủi ro mang
tính hệ thống. Trong khi người ta không thể đa dạng hóa những rủi ro hệ thống, đa
dạng hóa tài sản sẽ giảm những rủi ro riêng. Vì thế, với sự đa dạng hóa cao trong
tài sản hàng tồn kho của nhà phân phối sẽ nhận lợi nhuận thấp hơn so với một nhà
bán lẻ. Điều này là một ví dụ cho thấy qui trình kinh doanh ảnh hưởng tới lợi
nhuận và rủi ro như thế nào.
Theo những quy định hiện hành của Mỹ, lợi nhuận phân chia còn lại có thể
được coi như là “thu nhập hệ thống”, bởi vì nó có thể phân bổ nhiều hơn lợi nhuận
Bài viết này chỉ ra cách chúng ta có thể kết hợp những ưu điểm mới nhất
trong thuyết định giá thành những nguyên tắc chuyển giá. Khi những hiểu biết
phân bổ danh mục đầu tư của chúng ta ngày càng phát triển, khi đo chúng ta nên
kết hợp những thành tựu đó vào hệ thống chuyển giá của chúng ta tốt hơn.
V. LIÊN HỆ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Môi trường pháp lý và tình hình thu hút vốn FDI:
Pháp luật về kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam vẫn đang trong lộ trình hoàn
thiện, cụ thể: Chính phủ đã ban hành những quy định khá sát với các thông lệ về
chống chuyển giá của tổ chức Hợp Tác Kinh Tế và Phát Triển (OECD) đang được
nhiều nước trên thế giới áp dụng. Những quy định này dựa trên nguyên tắc giá thị
trường (ALP) và các phương pháp định giá chuyển giao mà tổ chức OECD đưa ra.
Tuy đã có lộ trình mở cửa kinh tế sớm, nhưng pháp luật của Việt Nam đến
năm 2005 mới bắt đầu có những quy định về vấn đề chuyển giá. Năm 2005 là năm
đánh dấu cho bước chuyển biến mạnh trong vấn đề này là sự ra đời của Thông tư
117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005, có hiệu lực từ ngày 26/01/2006. Nó quy định
một số vấn đề về hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong các giao
dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
Cùng với sự thay đổi của các luật thuế và những thay đổi rõ ràng trong quy
trình quản lý, kiểm tra, thanh tra thuế trong vài năm gần đây, ngày 22/04/2010, Bộ
Tài chính đã ban hành Thông tư 66/2010/TT-BTC hướng dẫn thực hiện việc xác
định giá trị thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
Trong những năm gần đây, tình hình thu hút vốn đầu tư FDI của Việt Nam
gia tăng đáng kể, cụ thể được thể hiện qua biểu đồ:
SVTH: Nhóm 4 – TCDN – Đêm 4 – Khóa 19 Trang 24/32
Bài làm: Ràng buộc các công ty đa quốc giá phải xử sự công bằng: GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
đề xuất một cơ sở nghiêm ngặt về chuyển giá
Vấn đề này đã có nhiều tác động đến vấn đề chuyển giá tại Việt Nam trong thời
gian gần đầy.
2. Thực trạng chuyển giá tại VN: