w
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TÊ VÀ KINH
DOANH
QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH TẾ
ĐỐI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN
TÓT
NGHIỆP
(f)í
tài:
CHIÊN
LƯỢC
KINH
DOANH
ĐA
ĐỊA PHƯƠNG
CỦA CÁC
CÔNG TY
ĐA QUỐC
GIA VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM
Hà
Nội,
tháng 05 năm 2010
MỤC
LỤC
LỜI
NÓI
ĐẦU
Ì
CHƯƠNG
lí
TÒNG
QUAN VẺ
CHIẾN
LƯỢC
KINH
DOANH ĐA
ĐỊA
PHƯƠNG
CỦA
CÁC
CÔNG
TY ĐA QUỐC
GIA
4
1.1
Tổng
quan
về
công
ty
đa
quốc
gia
13
1.1.3.1.
Đặc
trưng về kết cấu của công ty
đa
quốc gia
13
1.1.3.2.
Đặc
trưng
về phạm
vi hoạt động của các công ty
đa
quốc gia
16
1.1.3.3.
Đặc
trưng về hoạt động sản xuất và kinh
doanh của
các công
ty đa quốc gia
17
1.2
Tổng
quan
về
21
1.2.2.
Chiến
lược
kinh
doanh
đa
đẶa
phương
26
1.2.2.1
Cơ
sở hình thành chiến lược kinh doanh
đa địa phương
26
1.2.2.2
Ưu
điếm
và nhược
điếm
của
chiến lược kinh
doanh
đa
địa
phương
28
CHƯƠNG
2: THỰC TRẠNG VẶN DỤNG
CHIẾN
30
2.2.
Thực
trạng
chiến
lược
kinh
doanh
đa
đẶa phương
tại
một
số
công
ty
đa
quốc
gia
tiêu
biểu
34
2.2.1
Chiến
lược
kinh
doanh
đa
đẶa
phương
của
Nội dung
chiến
lược kinh doanh đa
địa
phương của
Unilever
48
2.2.2.3
Nội dung
chiến
lược kinh doanh đa
địa
phương của
Unilever
tại
Việt
Nam 51
2.2.3
Chiến
lược
kinh
doanh đa địa phương của
7-eleven
59
2.2.3.1
Tổng quan về
7-eleven
59
2.2.3.2
Nội
triền
của các doanh
nghiệp
Việt
Nam
nói chung
66
3.1.2 Thực
trạng
đầu
tư
ra nước ngoài
và áp
dảng
chiến
lược
kinh
doanh quốc
tế
của các doanh
nghiệp
Việt
Nam 69
3.2
Quan
điểm
phát
triển
doanh
nghiệp
LUẬN
87
DANH MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 90
DANH
MỤC BẢNG
BIỂU
Hình 1.1: Kết cấu của công
ty
đa quốc
gia
14
Hình 1.2
:
Bốn
chiến
lược co bản trên
thị
trường quốc
tế
22
Bảng
2.1:
Bảng xếp hạng The
Global
2000
năm
2009
3.3:
Danh
sách các quốc
gia
Việt
Nam đã ký
hiệp
định khuyến khích và
bảo
hộ
đầu tư
74
LỜI
NÓI ĐẦU
1.
Sự
cần
thiết
của việc
nghiên cứu
Các công
ty
đa
quốc
gia với tiềm lực
về vốn và công
nghệ,
đang ngày
càng phát
triển
giới.
Các công
ty
này đã
tửo
đến 25%
tồng
sản
phẩm
của thế
giới,
riêng 1000 công
ty
hàng đầu
chiếm
đến 80%
sản
lượng công
nghiệp
thế
giới. [7,
trang
16]
Đe
tiến
hành đầu tư và phát
triển,
các công
ty
đa
lược
kinh
doanh
hợp
lí.
Mỗi
quốc
gia
lửi
có một đặc
điểm
riêng
biệt
về quy mô, môi
trường
chính
trị,
pháp
luật,
chính sách hỗ
trợ
của chính phủ, chính sách
khuyến
khích đầu
tư
và đặc
biệt
là văn hóa, xã
hội,
dân
lực
thích
nghi
địa phương tăng cao đã
trờ
thành nguyên nhân thúc
đẩy
công
ty
đa
quốc
gia lựa
chọn
chiến
lược
kinh
doanh
đa địa phương
khi
tham
gia
vào
kinh
doanh
quốc
tế.
Chiến
lược
kinh
doanh
cũng
là
thách
thức
của
quá trình
hội
nhập
và toàn
cầu
hóa
hiện
nay
rất cần
tìm
hiểu,
nghiên
cứu
một cách nghiêm túc và
khoa
học
những
chiến
lược
kinh
doanh
mang
lửi
nhiều
thành công
chiến
lược
kinh
doanh
của các công
ty
đa
quốc
gia
đồng
thời
rút
ra
được bài học
kinh
nghiệm
thích hợp áp
dụng
vào hoàn
cảnh
cụ
thể
của
Việt
Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ
thống
hóa vấn đề lý
luận
pháp áp
dụng
chiến
lược
kinh
doanh
đa địa phương
với
doanh
nghiệp
Việt
Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài
nghiên cứu
chiến
lược
kinh
doanh
đa
địa
đương
của
các công
ty
đa
quốc
gia nổi tiếng
trên
thế
của
mình.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa
luận
sử
dụng
phương pháp
tống
hợp,
hệ
thống
và cấu trúc hóa
nhằm
tập
họp
những nguồn
thông
tin
đa
dạng
và
phong
phú, phương pháp
phân
tích,
tư duy
logic
kết
hợp phương pháp so
bảng
biểu;
Danh mục chữ
viết
tắt;
Danh mục tài
liệu
tham khảo;
Kết
luận,
khóa
luận
bao gồm ba
chương chính như
sau:
Chương
ỉ:
Tong quan về cóng
ty
đa quốc
gia
và
chiến
lược
kinh
doanh đa
địa
phương của các công
ty
đa quốc
tại
trường
Đại
hỡc
Ngoại
Thương,
đồng
thời
với
sự giúp đỡ của
gia
đình,
bạn bè và đặc
biệt
được sự
quan
tâm
chỉ dẫn,
giúp đỡ
tận
tình
của
cô giáo -
tiến
sĩ
Phạm
Thị Hồng
Yến,
khóa
luận
hơn.
Hà Nội, 2010
Sinh
viên
thực
hiện
Bùi Thị
Thanh
Thủy
3
CHƯƠNG
1:
TỔNG
QUAN
VÊ
CHIẾN
Lược
KINH
DOANH
ĐA
ĐỊA
PHƯƠNG
CỦA
CÁC
CÔNG
TY ĐA
QUỐC GIA
1.1 Tổng
quan
về công
thế
giới
thứ hai
đến
nay
đã làm
nảy
sinh
nhiều
quan niệm
và
định
nghĩa
khác
nhau
về công
ty
đa
quốc
gia.
Mặc
dù
các
quan
điểm
đều
thừa
nhận
rọng
các
tiến
trình phát
triển
nhận
thức
chung
về
loại
hình công
ty
này.
Các công
ty
đa
quốc
gia
và
công
ty
xuyên quôc
gia
có
sự khác
biệt
nhỏ
trong
nguồn
vốn góp.
Đối với
các
tịch
khác
nhau.
[17,
trang
11].
Mặc
dù
vậy,
nếu
xem
xét một cách
tổng thể
cũng
không
có
sự
khác
biệt
rõ
ràng
giữa
hai
khái
niệm
này.
Nhà
kinh
tế
học
mà
hoạt
động của
nó
gắn
với
đầu
tư
trực
tiếp
nước ngoài
và
nắm
giữ,
kiểm
soát
các
hoạt
động
tạo ra
giá
trị
gia
tăng
ờ
hai
quốc
gia trờ
lên."
[15,
corporation)
hoặc
MNE
(từ
các chữ
Multinational
enterprises),
là khái
niệm
để
chỉ
các công
ty
sản
xuất
hay
cung
cấp
dịch
vụ
ờ
ít nhất hai
quốc
gia.
Ban
đầu
nó
bao
gồm
công
công
ty
đa
quốc
gia lớn
có ngân sách
vượt
cả ngân sách của
nhiều
quốc
gia,
có ảnh
hưởng
lớn
tới
các mối
quan
hệ
quốc
tế
và đóng một
vai
trò
quan
trọng
trong
quá trình toàn cậu
hóa.
Hậu
hết
động
kinh
doanh
trên
nhiều
lãnh
thổ
quốc
gia,
thông qua
việc
thiết
lập
các
chi
nhánh và công
ty
con
ngay
tại
thị
trường mà công
ty
đậu
tư.
Các công
ty
đa
quốc gia
thường có
sự
hình
thành
và
phát triển
của
thương
mại
và
đầu
tư
quốc
tế.
Thương mại và đậu tư
quốc tế
hình thành và phát
triển
dựa trên cơ sờ
về
lợi
thế
cạnh
tranh.
Các
quốc
gia
đều có
lợi
thế
so sánh
phí tương
đối
cao
(hay
tương
đối
không
hiệu
quả
bằng
các nước
khác).
Lý
thuyết
này
là
tiền
đề cho
việc
đậu tư
ra
nước ngoài của các công
ty
nội
địa.
Những công
ty
sau
khi
chiếm
thức thuế
quan,
hạn
ngạch,
tiền
trợ
cấp,
kiêm soát
trao
đổi. Việc
mờ
rộng
mạng
lưới
hoạt
động
5
cho
phép các công
ty
đa
quốc
gia
vượt
qua được
những
rào cản và hạn chế do
sự
phát
triển
Ford
đã xây
dựng những
nhà máy ô tô
tại
cả
châu Á và châu Âu, cho phép họ có
thể
bán hàng
tại
những
thị
trưứng
quan
trọng
mà tránh không gặp
bất
cứ
bất
lợi
nào về
thuế.
Hơn
nữa,
khỉ
tiến
hành
hoạt
động đầu tư và
kinh
về
lợi
nhuận cao
hơn.
Vòng
đứi
sản phẩm ngày càng
ngắn,
thị
trưứng ngày càng
biến
động
khiến
cho các
hoạt
động của
doanh
nghiệp
gặp
nhiều
rủi
ro,
các công
ty phải
đa
dạng
hóa sản phẩm, đa phương
thức
sản
xuất,
quốc
gia
tham
gia
vào
hoạt
động
sản
xuất kinh
doanh quốc
tế.
Sự phát
triển
của khoa
học công
nghệ
và quá trình toàn cầu hóa đã góp
phần
rút
ngan khoảng
cách về không
gian
và
thứi
gian,
khiên các
chi
nhánh,
công
ty
kiện
thuận
lợi
cho sự phát
triển
của
loại
hình
công
ty
này.
Các công
ty
đa
quốc
gia
có
tổng
tài
sản
lớn
và
thu
về
nguồn
lợi
nhuận khổng
lồ.
Theo
ước
trong
nền
kinh tế
toàn cầu và là xu
hướng
phát
triền
tất
yếu
trong
tương
lai.
6
1.1.2.2
Sự
hình thành
cửa
các
công
ty
đa
quốc
gia
gắn
liền
những
trung
tâm
kinh
tế
thương mại
British
East
India
Company và
Dutch
East
India
Company. Từ
cuối
thế ki
XIX,
các công
ty
đa
quốc
gia
trên
thế
giới
liên
tiếp
ra đời
và phát
triển.
Sự
phát
triển
không
ngừng của
Mỹ đầu tiên
ra đời
do nhu cầu phát
triển
của
các các công
ty lớn
ờ Mỹ và
trong
một
thời
gian
dài được
coi
là mô hình tô
chúc
kinh
doanh của
riêng
nước Mỹ.
Vào nửa
cuối
thế
kỉ XIX đã có
những
dấu
hiệu
đầu tiên cho
thấy
các
trường
quốc tế đối
với
một số sộn phàm vừa xây
dựng những
công
ty chi
nhánh
(Affiliates)
đầu tiên ở nước
ngoài.
Thế
chiến
hai
kết
thúc,
Mỹ đã
thu
được một
lượng
tư bộn
lớn
nhờ
những cuộc
mua bán
vũ
khí và
cung cấp
hàng hoa cho các nước
tham
đa
quốc
gia
Mỹ
thời
kỳ
này có
điều
kiện
hết
sức
thuận
lợi,
tăng
cường
đầu tư tư bộn vào các nước
này,
thu
hút mọi
tinh
hoa
của
các nước phát triên châu Au,
phục
vụ cho công
cuộc
phát
triển
kinh
tế
châu Âu
trong
lĩnh
vực công
nghiệp
và có
lợi
thế lớn
về mặt
tài
chính. Các
tiến
bộ
trong
lĩnh
vực thông
tin
liên
lạc
và
vận tải
làm cho
hoạt
động
kinh
doanh
của các công
ty
Mỹ ngày càng phát
triển,
khẩu
từ trong
nước.
Nhưng
sau
đó không
lâu,
họ đã
thiết
lập
được các công
ty
chi
nhánh để
sản
xuất
ờ nước
ngoài.
Hầu
hết
các công
ty chi
nhánh được
lập
ờ
nước
ngoài sau
chiến tranh thế
giói
thứ hai
với
các
đối thủ
cạnh
tranh trong việc
giành
giật
thị
trường
sản
phẩm và
chống
lại
các hàng rào bảo
hộ
của các
quốc
gia
nơi các công
ty
đa
quốc
gia
của Mỹ cắm nhánh
trong
nhụng
thời
điểm
cần
thiết.
trên
tổng
số
7276
công
ty
đa
quốc
gia
của cả
thế
giới.
Giai
đoạn đầu
nhụng
năm 90 số công
ty
đa
quốc
gia
Mỹ có tăng lên
song
ở mức tăng
thấp,
có 3031 công
ty
đa
quốc
gia /
tổng
là
19103 [19; trang 93].
Qua quá
trinh
phát
triển
trên,
các công
ty
đa
quốc
gia
Hoa Kỳ luôn ứng
phó
kịp
thời
với
mọi
biến
động xảy
ra trong
môi trường
hoạt
động của mình,
tất
nhiên
điều
đó nhờ
phần
lớn
của các công ty đa
quốc
gia ử Tây Âu
Có
thể
nói Tây Âu là nơi
ra đời
sớm
nhất
của công
ty
đa
quốc
gia
trên
thế
giới.
Song
quá
trinh
lịch
sử của công
ty
đa
quốc
gia
Tây Âu
lại
có
nhứng
Tây Âu là nơi mà phương
thức
sản
xuất
tư bản chủ
nghĩa
đã
xuất
hiện
và phát
triển
đầy đủ bản
chất
của nó sớm
nhất.
Cũng chính nơi đây, vào
thế
kỷ
XV đến
thế
kỳ
XVI,
với
sự phát
triển
của ngành hàng
hải
và
việc
tìm ra
thực
hiện khai
thác,
buôn bán
với
các nước
châu A như
Inđônêxia,
Malayxia,
Ân Độ và đã đóng
vai
trò
quan
trọng trong
quá trình tích
lũy
tư bản nguyên
thúy.
Trong
ngành
khai
thác dầu mỏ,
Royal
Dutch
Shell,
BP
cũng
là
nhứng
Cartel
ty
quốc tế
đầu tiên
trong
lĩnh
vực này. Các công
ty
trong
ngành
điện
dân
dụng
của Tây Âu
cũng
có mặt trên
thị
trường
quốc tế
tương
đối
sớm, AEG của Đức
trong
cuộc cạnh
tranh với
GEC của Mỹ dẫn
tới việc
thành
lập Cartel
như một
bằng chứng
tổng
thống
Mỹ, Tơruman, thông
qua,
các công
ty
đa
quốc gia
Mỹ đã tràn vào Tây Âu, một mặt để giúp Tây Âu khôi
phục,
mặt khác để
kiếm
lời
và
tạo thế
cạnh
tranh
lâu dài
của
Mỹ ờ Tây Âu. Các công
ty
Mỹ
bắt
đầu
thành
lệp nhiều
chi
nhánh ở châu
Âu,
xuất hiện
ty
đa
quốc
gia
Tây Âu
từng
bước phát
triển,
tích
tụ
tư bản và
sản
xuất
liên
minh
vói
nhau
để có thêm sức
mạnh
thực
hiện
sự
cạnh
tranh
trờ
lại.
Từ
đó,
các công
ty
tự,
còn có
Dunlop
Pirelli,
British
Leyland,
AEG
Teleíunken
trong
ngành ôtô, Mannesmann,
Siemens
(Đức),
CGE Thomson
(Pháp)
cũng
ra đời với
mục tiêu tăng sức
mạnh
cạnh
tranh
với
các công
ty
Mỹ
và
trờ
thành các
tố
hợp
quốc
phát
triển.
Các
công
ty
Tây Âu đã
thực hiện đổi
mới
chiến
lược
kinh
doanh,
thực hiện
chuyển
giao
công
nghệ
cũ cho các nước khác ở ngoài khu
vực.
Đồng
thời
tệp
trung
hướng
vào công
nghệ
mới
với
những
ưu tiên rõ ràng đe tăng sức
ty
này ở Tây Âu đã dồn ép các công
ty
Mỹ
vào
thế bất
lợi,
bị
phân
biệt
đối
xử.
Từ
đó,
các hãng Tây Âu như
Philips,
Fiat,
10
Denon,
Merscedes-Benz
đã
lấn
sân của các công
ty
Mỹ
bằng
cả trình độ công
nghệ
và
chất
tất
cả các công
ty
đa
quốc
gia
của
các nước khác cùng
hoạt
động ờ
đây.
Cho đến
nay,
công
ty
đa
quốc
gia
Tây Âu Tây Âu là
nhứng
công
ty
có tầm cỡ
quốc
tế,
có quy mô
hoạt
động
đứng
thứ
triển
[19, trang 239].
* Sự hình thành và phát
triển
của công ty đa
quốc
gia ở
Nhật
Bản
Sự
ra đời
và phát
triển
mạnh
mẽ của các công
ty
đa
quốc
gia
Nhật
Bản
là một
hiện
tượng
nổi bật
của
nhứng
thập
kỷ vừa
qua.
Bản đã
ra đời
và bành trướng
mạnh
ra thị
trường
thế
giới.
Quá trình
này được
chia
làm
hai
giai
đoạn:
-
Giai
đoạn
từ
1868
-
1945
Trong
giai
đoạn này chính phủ
Nhật
Bản
tiến
hành xây
dựng
tục
nên các
nhà máy này được bán
lại
cho tư
nhân,
nhằm
tập trung
vốn để gây
dựng
các
quỹ
cho kế
hoạch
phát
triển
kinh tế
mang tính bao quát hơn của Chính phủ.
Các nhà máy của các
gia
đình phát
triển
nhanh
chóng và mở
rộng
sang
nhiều
lĩnh
vực khác
nhau
họp
đó,
có
thế
gồm các ngân
hàng,
công
ty
bảo
hiếm,
công
ty
thương
mại,
công
ty
đóng tàu và hàng
loạt
các nhà máy
sản
xuất.
Trong
số hàng
chục
các
Zaibatsu
được hình
thành,
nổi
lên bốn
Giai
đoạn 1945
-
nay
Sự
thất
bại
thảm
hại
của
Nhật
Bản
trong
Thế
chiến
hai
đã đẩy nước
Nhật
rơi
vào một
tình
trạng
khó khăn chưa
từng
có.
Các ngành công
nghiệp
bị
phá
huy,
minh,
năm 1952.
Vào
những
năm 50 và
60, thị
trưầng
chứng
khoán chưa phát
triển
và
những
nhu cầu của
những
công
ty
này
chỉ
có
thế
được đáp ứng
bầi
các ngân
hàng thành phố
(City
bank).
Đó là
những
ngân hàng có quy mô
lớn
luôn luôn
cạnh
tranh
rất
khốc
liệt
và mỗi nhóm đều muốn độc
chiếm
ầ
những
lĩnh
vực phát
triển
quan
trọng.
Tuy
vậy,
cả
hai
nhóm đều
rất
quan
tâm đến
chiến
lược
xuất
khẩu.
Các công
ty
thương mại được phát
12
76,8 tỷ
đô
la).
Đến
1974,
6
công
ty
này đã nắm
giữ
cổ
phần
trong
5390
công
ty,
là cổ đông
lớn
nhất
của 1057 công
ty với
số vốn
cổ
phần
440
tỷ
đô
la.
Chỉ
ty
hàng đầu
của
Nhật
Bản
đều thay đổi chiến
lược
kinh
doanh
của
mình,
chển
chiến
lược
đấy mạnh đâu
tư
trực
tiếp
nước ngoài
thay
cho
chiến
lược
xuất
khẩu.
Đen
cuối
thập
kỷ 80,
mạng
và
4231
còng
ty
(1997)
lớn
hơn cả Mỹ
(3013
công
ty
năm 1993 và
3387
năm
1997) [20, trang 104].
Sự phát
triển
không
ngừng
của các
công
ty
đa
quốc
gia
trên
thế
giới,
đặc
biệt
ba
trưng
về kết
cấu của
công
ty
đa
quốc
gia
Các
các
công
ty
đa
quốc
gia
có
hội
đồng
quản
trị
lãnh
đạo
công
ty
gồm
các
nhà tư bản có cỗ
phần
thuộc
nhiều
trong
nước.
Két
cấu
chung
của
các
công
ty
đa
quốc
gia
thường
bao
gồm:
công
ty
mẹ, các
công
ty con,
công
ty
liên
kết,
và các
chi
nhánh.
(Xem
hình
1.1)
tổng
hợp)
* Công ty mẹ
(Parent
enterprise):
Đây là
thuật
ngữ để chỉ công ty
gốc của
tập
đoàn đa
quốc
gia.
Đó là công
ty
cư trú ờ một nước
nhất
định nơi
mà công
ty
đó
mang
quốc
tịch.
Nước đó được
gọi
là
nước mẹ hay chính
quốc.
Cũng có trường hợp công
trực
tiếp
hoặc
gián
tiếp
thông qua hệ
thống
các
chi
nhánh nước
ngoài.
UNCTAD
đưa
ra
khái
niệm
về công
ty
mẹ như
sau:
"Công
ty
mẹ là công
ty
nắm
quyền
kiểm
soát
tài
sản của các
ty
mẹ
trực
tiếp
mờ
hoặc
liên
doanh
vói các
doanh
nghiệp
khác,
đại
diện
cho
14
công
ty
mẹ
tiến
hành cách
hoạt
động đầu tư, sản
xuất
kinh
doanh
ở nước
ngoài.
Theo
UNCTAD,
sử hữu trên một nửa
quyền
biểu
quyết
của các cổ đông và có
quyền
chỉ
đặnh hay bãi
miễn phần
lớn
thành viên của ban giám đốc
hoặc
ban
thanh
tra
quản
lí.
Công
ty
liên
kết:
Là công
ty
liên
doanh
với
công
ty
ở nước
nhận
Cơ sờ
sản
xuất
hoặc
văn phòng
đại
diện
của nhà đầu tư nước ngoài; Công
ty
liên
kết
giữa
chủ đầu tư và các
doanh
nghiệp
nước ngoài khác;
Đất,
cơ sờ hạ
tầng
(trừ
các
kết
cấu
kiến
trúc
thuộc
sờ hữu
của
Nhà
nước),
công
ty
mẹ và các
chi
nhánh nước ngoài có mối liên hệ khá
chặt
chẽ
mặc dù công
ty
mẹ và các
chi
nhánh đó là các
thực thể
hoàn toàn độc
lập
về
mặt pháp
lý.
Các
chi
nhánh phụ
thuộc
về mặt
tài
chính,
kỹ
thuật
vào công
ty
mẹ,
thặ
trường thương
hiệu
và đặc
biệt
là
mối liên
kết
về
vốn.
Do vậy công
ty
mẹ thường nằm
giữ
quyền
chi phối hoạt
động ờ các
chi
nhánh và
thu
lợi
từ
các
hoạt
động này. Ngược
lại
các công
ty
con được
tiếp
chuyển
vốn,
nhân
lực giữa
công
ty
mẹ và các công
ty chi
nhánh,
hay
giữa
các công
ty con, chi
nhánh
với
nhau.
1.1.3.2. Đặc trưng về phạm vi hoạt động của các công ty đa quốc gia
Các công
ty
đa
quốc
gia
có phạm
vi hoạt
động
trải
rộng
trên
nhiều
quốc
đa
quốc
gia
là
dựa vào
khả
năng
dễ di
chuyên của một số nhân
tố
sản
xuất nhất
định
giữa
các
nước. Thay
vì
phải
giới
hạn
việc
tìm
kiếm
các địa
điểm
xây
dựng
nhà máy
trong
nước,
tế
chứ không
phải trong
nước để thâm
nhặp
và bộ
phặn quản
lý
tài chính không
giới
hạn
việc
tìm
kiếm
vốn
hoặc
cơ
hội
đâu tư đôi
với
bát kì
một
thị
trường
tài
chính
quốc
gia
nào.
Vì vặy nhân
năm
2003,
hãng
General
Motors
lắp đặt
một số xe hơi
của
mình
với
một động cơ có
thể
chạy
xăng
hoặc
ethanol
hay hỗn hợp của cả
hai.
Động
cơ này được phát
triển
ở
trung
tâm công
nghệ
ờ
Brazil
của
Delphi.
Một
Thụy
Sĩ đế
tài
trợ
việc
mua bán
thiết
bị của Đức
bời
một công
ty
con ờ
Brazin.
Một con búp bê
Barbie
có
thể
được làm ờ lo
nước:
thiết
kế
tại
Caliíomia,
với những
bộ
phặn
và
quần
áo từ
Nhặt
1.1.3.3.
Đặc trung về hoạt động sản xuất và kinh doanh của các công
ty
đa
quốc
gia
Các công
ty
đa
quốc
gia
kiểm
soát một hệ
thống
sản
xuất
nhất
thê hóa,
dù là liên
kết theo chiều
dọc (các cơ sờ sản
xuất
ờ một số nước nào đó, sàn
xuất
ra
sản phẩm là đầu vào cho sản
xuất
của nó ờ một số nước khác) hay
chiều
ngang
được
ưu
thế kinh
doanh
và
khắc phục
rủi
ro.
Tuy
nhiên,
với
những
công
ty
hạn
chế về quy mô và
nguồn
lực
thì khó có
thể
đa
dạng
hóa sản phẩm một
cách đẩy
đủ.
Đe đáp ứng được nhu cầu đa
dạng
hóa của
thị
trường,
nghiên cứu đức diêm
của
từng thị
trường khác
nhau
trên
thế giới,
thường
lựa
chọn
chiến
lược
kinh
doanh
đa
địa
phương
kết
hợp cùng
với
các
chiến
lược và chính sách khác. Trước
hết
họ làm cho hình ảnh sản
phẩm của mình có tính toàn
cầu, trờ
thành
sản
phẩm toàn
hoạt
động
kinh
doanh
phải
chuyển
các
nguồn lực
(hàng hóa,
dịch vụ, vốn ) ra
nước
ngoài.
Điều
đó khác
với
việc
xuất
khẩu
thông thường ờ
chỗ sau
khi
chuyến dịch
các
nguồn
lực,
các
cồng
ty
17
LviởSt7t
quốc
te
sẽ
đem
lại
cho công
ty nhiều
rủi
ro
và tác
động.
Công
ty
phải
thích ứng
với
những
thay đậi
của
môi trường để có
thể
điều
động và sử
dụng nguồn
lực
sẵn
có,
triển
khai
các
hoạt
động
quản
lí
kinh
doanh
các công
ty
đa
quốc
gia
thường bao gồm
hai
bộ
phận
lớn:
một là,
phân tích môi trường (chính
trị,
kinh
tế, luật
pháp, văn hóa,
phong tục
tập
quán);
hai
là, phương pháp và
chiến
lược thích ứng
với
cận
đại
Clawzevit
cũng
cho răng:
Chiến
lược quân sự là
nghệ
thuật
chì huy ờ vị trí ưu
thế.
Chiến
lược
cũng
được
ví là
nghệ
thuật
chỉ
huy các phương
tiện
để giành
chiến thắng.
Trong
từ
điển
tiếng
Việt,
học
giả
thắng
lợi
của
một
cuộc
chiến tranh.
Từ
thập
kỷ
60,
thế
kỳ XX,
chiến
lược được ứng
dụng
vào
kinh
doanh
và
thuật
ngữ
"Chiến
lược
kinh
doanh" ra
đời.
Quan
niệm
về
chiến
xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của
doanh
18
nghiệp
và
việc
áp
dụng
một
chuỗi
các hành động
cũng
như
việc
phân bố các
nguồn
lực
cần
thiết
để
thực
hiện
mục tiêu này"
[li,
trang 45].
Đến
những
năm
1980, Quinn
Brian
đó, Johnson
và
Scholes
định
nghĩa
lại
chiến
lược
trong
điều
kiện
môi trường có
rất
nhiều
những
thay
đổi nhanh
chóng:
"Chiến
lược là
định
hướng và phạm
vi
của một
tổ chức
về dài hạn nhàm giành
lợi
thế cạnh
tranh
cho
thống
như trên,
nhiều
tố
chức
kinh
doanh
tiếp
cận
chiến
lược
theo
cách
mới:
Chiến
lược
kinh
doanh
là kế
hoạch
kiểm
soát và sử
dụng nguồn
lực,
tài sản
và
tài
chính nhằm mục đích nâng cao
và bảo đảm
những quyền
đủt
một công
ty
vào vị
thế tốt
hơn
đối thủ
để
tạo ra
giá
trị
về
kinh tế
cho khách
hàng.
"Chiến
lược
là sự tìm
kiếm
thận
trọng
một kế
hoạch
hành động đế phát
triến
và
kết
họp
lời
thế
tranh
nếu cách
kinh
doanh
của họ
giống
hệt nhau.
cần
phải
tạo
ra sự khác
biệt
mới có
thể tồn
tại.
Michael
Porter
cũng
tán đồng
những
nhận
định
của Henderson:
"Chiến
lược
cạnh
tranh
liên
quan
đến sự khác
tiếp
cận hơn.
"Chiến
lược là phương
thức
mà các công
ty
sử
dụng
để
19
định
đương tương
lai
nhằm
đạt
được và duy
trì
những
thành công. Mục tiêu
tối
thiếu
là
phải
làm sao
tiếp
tục tồn
tại
được,
nghĩa
lãi
cho cỏ đông và
người
gửi
cỗ
phiếu
và
thỏa
mãn
những
đòi
hỏi
mà
chủ thế giao
cho công
ty )"
[5,
trang
25]
1.2.1.2 Vai trò cùa chiến lược kinh doanh đối với công ty đa quốc gia
Do xu hướng
quốc
tế
hóa
cũng
với
sự
khan
hiếm
các
doanh
như
vậy,
càng
đòi
hỏi
các công
ty phải
có
chiến
lược
kinh
doanh
đúng đắn thì mới có khả
năng nắm
bắt
cơ
hội,
tránh được
nguy
cơ, đảm bảo sự phát
triển
ỏn định và
bền
vững
của
mình,
đặc
biệt
là các công
với
quy mô nhò và sô vốn ít
ỏi
nhưng đã
nhanh
chóng thành
đạt
nhờ
những
chiến
lược
kinh
doanh
đủng
đắn.
Thứ nhất,
chiên lược
kinh
doanh
giúp cho còng
ty
nhận
rõ được mục
đích hướng đi
của
mình
trong
tương
lai
làm kim
vắng
chiến
lược
hoặc
chiến
lược
thiết
lập
không rõ
ràng,
không có
luận
cứ
vững
chắc
sẽ làm cho
hoạt
động
của
các
doanh
nghiệp
mất phương hướng,
có
nhiều
vấn đề nảy
sinh chỉ thấy
trước mắt mà không gắn được
với
dài hạn