Chiến lược hoạt động kinh doanh của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN
QUỐC GIA NHẬT BẢN Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thu Hằng
Lớp : Anh 3
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS Bùi Liên Hà
Hà Nội - 11/2009 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CHIẾN LƢỢC HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA NHẬT BẢN 29
2.1. CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA NHẬT BẢN, ĐẶC TRƢNG
HÌNH THÀNH VÀ BẢN CHẤT 29
2.1.1. KHÁI LƢỢC VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN
QUỐC GIA NHẬT BẢN 29
2.1.2. BẢN CHẤT CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA NHẬT
BẢN 31
2.2. CHIẾN LƢỢC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỦ YẾU CỦA
CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA NHẬT BẢN TỪ NĂM 1990
ĐẾN NAY 34
2.2.1. CHIẾN LƢỢC MẠNG LƢỚI HÓA 34
2.2.2. CHIẾN LƢỢC ĐA DẠNG HÓA CƠ CẤU SẢN XUẤT KINH
DOANH 37
2.2.3. CHIẾN LƢỢC PHÂN PHỐI (DISTRIBUTION) 40
2.2.4. CHIẾN LƢỢC CHUYỂN GIAO VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHỆ 42
2.2.5. TĂNG CƢỜNG SÁP NHẬP 45
2.2.6. LIÊN MINH CHIẾN LƢỢC 47
2.2.7. ĐỊA PHƢƠNG HÓA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT 50
2.3. PHÂN TÍCH NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHIẾN
LƢỢC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
NHẬT BẢN 51
2.3.1. CÁC YẾU TỐ THUỘC MÔI TRƢỜNG KINH DOANH TRONG
NƢỚC NHẬT BẢN 51
2.3.1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI 51
2.3.1.2. ĐỒNG YÊN TĂNG GIÁ VÀ KHÔNG ỔN ĐỊNH, KẾT HỢP
VỚI CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA NHẬT BẢN CAO 52
2.3.1.3. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN 54
2.3.1.4. XUNG ĐỘT THƢƠNG MẠI 56

3.2.2.3. GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT
KHẨU 79
3.2.2.4. MỘT SỐ TÁC ĐỘNG KHÁC 81 3
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 82
3.3.1. VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP CỦA CÁC
CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA NHẬT BẢN VÀ HẠN CHẾ NHỮNG
TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CÓ THỂ XẢY RA 82
3.3.2. VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN
KINH TẾ, CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA SAU KHI RÚT KINH
NGHIỆM TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TNCS NHẬT BẢN
89
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN

: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(Association of South – East Asia Nations)
APEC

: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương
(Asia Pacific Economic Cooperation)
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
DN

(Gross Domestic Product) GNP
: Tổng sản phẩm quốc dân
(Gross National Product)
KHCN
: Khoa học công nghệ
KHXH
: Khoa học xã hội
KTTG
: Kinh tế thế giới
KCX
: Khu chế xuất
KCN
: Khu công nghiệp
LHXN
: Liên hiệp xí nghiệp
MNE(s)

: (Các) công ty đa quốc gia
(Multinational Enterprise(s))
MITI
: Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế
(Ministry of International Trade and Industry)
M&A
: Sáp nhập và mua lại
(Merger and Acquisition)
NXB
: Nhà xuất bản

(Transnational Corporations)
TBCN
: Tư bản chủ nghĩa
UNCTAD
: Hội nghị liên hiệp quốc tế về thương mại và phát triển
(United Nations Conference on Trade and
Development)
USD
: Đô la Mỹ
VĐK
: Vốn đăng ký
VTH
: Vốn thực hiện
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
(World Trade Organization)
WB
: Ngân hàng thế giới
(World Bank)
WIR
: Báo cáo đầu tư thế giới
(World Investment Report)

1

2
Chiến lược hoạt động của TNCs nhật Bản đã tác động tích cực nhiều
mặt, trước hết là đối với nền kinh tế Nhật Bản. Nó giúp cho Nhật Bản giải
quyết được nhiều mất cân đối vĩ mô như: sự thiếu hụt về lao động và tài
nguyên – nhiên liệu, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước, giảm bớt xung đột
thương mại… Đồng thời nó cũng có nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế
khu vực và thế giới, đặc biệt là các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, như:
Bổ sung nguồn vốn còn hạn chế, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế…
Hiện nay, TNCs Nhật Bản đã đạt được những thành công đáng kể, rất
đáng để học tập. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế khó
tránh khỏi như: những tác động kém tích cực cho nền kinh tế, khiến cho kết
quả quan hệ kinh tế quốc tế đạt được chưa như mong đợi. Vì vậy việc đi sâu
tìm hiểu và nghiên cứu các chiến lược hoạt động kinh doanh của TNCs Nhật
Bản là hết sức cần thiết cho nền kinh tế Nhật Bản nói riêng và cho nền kinh tế
khu vực nói chung (cụ thể là khu vực các nước ASEAN), nhằm đạt được
những kết quả cao hơn nữa. Từ tất cả các lý do trên, em xin chọn vấn đề này
làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài này tập trung vào việc làm rõ cơ sở lý luận về sự hình thành triển
khai chiến lược hoạt động của TNCs Nhật Bản. Phân tích chiến lược hoạt
động chủ yếu của TNCs Nhật Bản trong mối quan hệ với chiến lược phát triển
nền kinh tế Nhật Bản, nêu lên một số đặc trưng nổi bật trongchiến lược hoạt
động của Nhật Bản so với một số nước trên thế giới. Đánh giá hiệu quả và
những tác động của các chiến lược hoạt động của TNCs Nhật Bản đối với nền
kinh tế Nhật bản và nền kinh tế khu vực, từ đó đưa ra một số kiến nghị.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là các chiến lược hoạt động
kinh doanh đầu tư quốc tế của TNCs Nhật Bản trên phạm vi thế giới và khu



4
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA

1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
1.1.1. Khái quát chung về công ty xuyên quốc gia (TNCs)
a) Khái niệm công ty xuyên quốc gia
Các công ty xuyên quốc gia (Transnational corporations-TNCs) xuất
hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi CNTB chuyển từ giai đoạn tự do
cạnh tranh sang độc quyền. Cho đến nay, TNCs trên thế giới tồn tại dưới
nhiều hình thức kinh doanh theo kiểu các nhóm công ty xí nghiệp lớn hoạt
động trên phạm vi quốc tế. Chúng là những công ty mạnh về tài chính với
doanh số hàng năm lên đến hàng chục tỷ USD. Các tập đoàn này có nhiều chi
nhánh, gồm các công ty con, cháu, và có thể hoạt động trong một hoặc nhiều
lĩnh vực ngành nghề đa dạng. Tùy từng quốc gia và giai đoạn lịch sử mà
chúng được gọi bằng những tên khác nhau như: Cartel, Syndicat, Trust,
Consortium, Group, Cambinate, Holding company, Concern, Conglomerate.
Ở Hàn Quốc người ta gọi là các Chaebol, ở Nhật Bản thường gọi là Zaibatsu
hay Keiretsu…
Từ đó cho đến nay khái niệm về TNC cũng còn tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau, dưới đây là một số quan điểm chủ yếu:
- Quan điểm thứ nhất: TNC là một nhóm (tập đoàn) các công ty, trong
đó có một công ty mẹ có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp các công ty
trong nhóm “trong cơ cấu nhóm như vậy, các công ty con có thể trở thành
Holding company trong tập đoàn, có thể tự thực hiện các hoạt động, hoặc thông
thường hơn nó chỉ hoạt động như là phương tiện sở hữu cổ phần trong tập đoàn
các công ty, trong đó tập đoàn cũng như toàn bộ hoạt động đều có tính quốc

1
Nguyễn Đình Phan (chủ biên) (1996), “Thành lập và quản lý các Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 6
Corporations – TNCs) là những công ty tư bản độc quyền có tư bản thuộc sở
hữu của một chủ tư bản của một nước nhất định, có công ty mẹ đóng tại nước
đó và thực hiện kinh doanh trên phạm vi quốc tế bằng các công ty con ở nước
ngoài.
Cũng có ý kiến cho rằng TNCs là thực thể kinh doanh có cơ sở hoạt
động kinh doanh nằm ở ít nhất là hai quốc gia trở lên. Ý kiến này tỏ ra ít
thuyết phục vì nếu theo ý kiến này thì một số doanh nghiệp tư nhân hoặc một
số doanh nghiệp nhỏ của Đài Loan hay Hồng Kông đến Việt Nam mở nhà
hàng ăn uống cũng gọi là công ty xuyên quốc gia? Trên thực tế các công ty
xuyên quốc gia phải là các tập đoàn tư bản độc quyền lớn, nó chứa đựng bên
trong nhiều loại tư bản sản xuất, thương mại, tài chính…, chúng hoạt động
liên kết với nhau, từ đó cho phép công ty có khả năng hoạt động linh hoạt,
hiệu quả cao và phân tán rủi ro.
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, có một số ý kiến phân biệt, một số
ý kiến đồng nhất công ty quốc tế (International Enterprises/Firms) với công
ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations) và công ty đa quốc gia
(Multinational Corporations). Về bản chất giữa các thuật ngữ không có sự
khác biệt đáng kể, chúng chỉ khác nhau ở việc xem xét các thực thể kinh
doanh là từ giác độ sở hữu hoặc từ giác độ kinh doanh quốc tế, nó phản ánh
đặc điểm nổi bật của TNCs trong từng giai đoạn lịch sử phát triển hoặc thói
quen sử dụng từ ngữ của các học giả. Vì vậy, từ những quan điểm trên đây ta
có thể rút ra một số nét đặc trưng điển hình của TNCs: Đó là một loại hình
doanh nghiệp có quy mô lớn, sở hữu đa quốc gia, đa phần là dạng thức tập

Như vậy, TNCs là khái niệm để chỉ tất cả các công ty hoạt động trên
phạm vi quốc tế, nó là một loại hình kinh doanh hiện đại tiêu biểu nhất của
nền kinh tế toàn cầu, là lực lượng chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế.
Trong đó, TNCs chỉ có công ty mẹ có “quốc tịch” rõ ràng chi phối tổng số tư
bản khổng lồ được tập trung trong công ty, còn các công ty con, các cổ đông
ở khắp nơi trên thế giới chỉ là người góp vốn kinh doanh kiếm lời, không có 8
tiếng nói quyết định về phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển của
công ty. Nó là một cơ cấu tổ chức kinh doanh quốc tế, dựa trên cơ sở kết hợp
giữa quy trình sản xuất quy mô lớn của nhiều thực thể kinh doanh quốc tế, với
quá trình khai thác thị trường quốc tế nhằm tối ưu hóa các hoạt động kinh
doanh giành lợi nhuận cao.
b) Nguồn gốc hình thành các công ty xuyên quốc gia
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng: phân công lao
động xã hội càng phát triển thì quy mô sản xuất kinh doanh trong các thực thể
công ty ngày càng lớn.
Trong những năm 60 thế kỷ thứ XIX, thuật ngữ công ty quốc tế
(International Enterprises/Firms) ra đời. Hoạt động của các công ty này đã
vượt khỏi phạm vi quốc gia, tổ chức sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên
thế giới. Đầu thập kỷ 1970, thuật ngữ Multinational Enterprises - MNEs được
sử dụng nhiều hơn thuật ngữ công ty quốc tế và có hàm ý phân biệt với công
ty quốc tế. Trong thời kỳ này, cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNEs chuyển
sang cơ chế phi tập trung, hoạt động sản suất kinh doanh đa dạng hơn trước
rất nhiều. Từ nửa cuối thập kỷ 1980 trở đi, do sự nới lỏng các quy chế đầu tư
nước ngoài của các nước đang phát triển và xu hướng tự do hóa thị trường
vốn quốc tế, các MNEs phát triển mạnh mẽ. Trào lưu các công ty mẹ (Parent
Firms) mở rộng chi nhánh ra nhiều nước (Transnational) đã trở thành đặc
điểm nổi bật cho thời kỳ này, cũng từ thời điểm này, thuật ngữ TNCs được sử

sản lượng, nâng cao giá cả, các xí nghiệp cùng tiến hành hợp nhất hoặc liên
kết với nhau; Xí nghiệp liên kết dọc, thường là những xí nghiệp dùng phương
thức sản xuất hàng loạt và các xí nghiệp theo ngành dọc. Thực tế cho thấy, để
tiếp tục phát triển về quy mô thì cần thiết phải gia tăng liên kết dọc cả hướng
lên trên và xuống dưới, do vậy, liên kết dọc mới là con đường chủ yếu hình
thành xí nghiệp công thương hiện đại. Liên kết dọc không chỉ đơn thuần là
hành vi sách lược cạnh tranh của xí nghiệp, mà còn là một loại hành vi sáng
tạo ra cái mới về chế độ. Xí nghiệp công thương hiện đại có khả năng chuyển 10
một bộ phận phân công xã hội do thị trường tổ chức, thành phân công trong
nội bộ xí nghiệp để khắc phục sự mất hiệu quả thị trường do dùng kỹ thuật
mới hoặc sản xuất sản phẩm mới gây nên.
Về quy mô, mức độ phức tạp trong quản lý và phạm vi phân công trong
nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại thì không có bất cứ loại xí nghiệp nào
trước đó có thể sánh được. Phạm vi phân công của nó ngày càng mở rộng
sang rất nhiều lĩnh vực sản xuất sản phẩm có liên quan nhau hoặc không liên
quan nhau, thậm chí trái ngược nhau hình thành một cơ cấu phân công nội bộ
kiểu đa ngành, hỗn hợp. Từ đó có thể khẳng định: xí nghiệp công thương hiện
đại là mầm mống hình thành và phát triển TNCs.
Khi phạm vi địa lý của sự phân công nội bộ xí nghiệp công thương hiện
đại vượt biên giới quốc gia thì hình thành nên TNCs. Khi chế độ quản lý theo
cấp bậc của xí nghiệp công thương hiện đại chín muồi, thì đại đa số các xí
nghiệp này trở thành TNCs khổng lồ và có tác động rất lớn đến nền kinh tế
quốc gia và thế giới.
Cạnh tranh tự do không chỉ làm cho quá trình tích tụ và tập trung sản
xuất tăng lên mà còn là nguyên nhân ra đời nền sản xuất dựa trên máy móc,
xuất hiện chế độ xí nghiệp TBCN và ngày càng hoàn thiện. Đến lượt nó, chế
độ xí nghiệp ra đời lại thúc đẩy phân công lao động mở rộng từ nội bộ khu

mọi DN trong cơ chế thị trường và tất yếu sẽ dẫn đến hai xu hướng chủ yếu:
(1) Các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh sẽ thu hút các doanh
nghiệp bị đánh bại làm cho quy mô của doanh nghiệp ngày càng mở rộng về
mọi mặt. Hiện trạng này diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt tiến trình
phát triển của CNTB và đặc biệt phát triển mạnh từ sau thế chiến thứ hai đến
nay. Các công ty hoạt động có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh thực
hiện các biện pháp mua lại, sáp nhập các công ty gặp khó khăn về tài chính
hoặc nguy cơ phá sản. Quá trình đó tất yếu hình thành các mô hình kinh
doanh kiểu tập đoàn ngày càng lớn mạnh về mọi mặt. (2) Nếu cạnh tranh kéo
dài mà không phân thắng bại thì các DN đó sẽ liên kết với nhau hoặc tìm
kiếm đối tác khác để liên kết nhằm tăng khả năng cạnh tranh.
Nguyên nhân thứ ba: Sự tác động mạnh mẽ của những tiến bộ khoa
học, công nghệ.
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin
đã dự báo: “Khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”. Những thành 12
tựu vĩ đại của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật từ nửa cuối thế kỷ XIX
đến nay đã mang lại một bộ mặt hoàn toàn mới cho cả thế giới, thể hiện nổi
bật ở một số mặt sau: (1) Làm xuất hiện nhiều ngành mới với tốc độ cao và
chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế như: nguyên tử, tên lửa vũ trụ, công
nghiệp, điện tử… riêng ngành công nghiệp vũ trụ đã làm xuất hiện khoảng
3000 ngành mới. Công ty Generer Electric (Mỹ) trong những năm 1980 đã
nhập thêm 70 dây chuyền công nghệ mới với tổng trị giá gần 10 tỷ USD
3
. Từ
đó đặt ra một yêu cầu tạo điều kiện trẻ hóa các ngành sản xuất có tính chất lâu
đời truyền thống. (2) Do yêu cầu của kỹ thuật, công nghệ hiện đại và sự cạnh
tranh gay gắt trên thị trường nên thời hạn hao mòn tư bản cố định diễn ra

phát triển (nhất là những công ty của nhóm các nước công nghiệp mới) mở
rộng thị trường cạnh tranh quốc tế và với sự giúp đỡ của nhà nước thì chúng
có thể vươn ra hoạt động trên phạm vi quốc tế, thậm chí thiết lập những chi
nhánh ở ngay tại các nước tư bản phát triển là điều hoàn toàn có khả năng
hiện thực và đã diễn ra. Chẳng hạn như trường hợp Samsung, Huyndai (Hàn
Quốc), Formosa (Đài Loan), Sime Darby (Malaysia). Những công ty này tuy
không thuộc sở hữu của các tập đoàn tư bản ở các nước tư bản phát triển
nhưng chúng vẫn là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản độc quyền và mang dấu
ấn của quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản và quốc tế hóa đời sống kinh
tế.
Nhìn chung, các công ty xuyên quốc gia là những công ty có tầm cỡ
quốc tế, có chi nhánh hoặc hệ thống chi nhánh ở nước ngoài với mục đích
nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng quốc tế. Chúng thực
hiện việc phân công lao động và phân chia thị trường thế giới (giữa các công
ty tư bản nói riêng và các cường quốc công nghiệp nói chung). Đây là một
đặc điểm quan trọng thứ hai. Thông thường chỉ có các công ty lớn mới có thể
đứng vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế gay gắt, còn các công ty nhỏ dù
có hoạt động được thì trước sau gì cũng bị phụ thuộc vào các công ty lớn dưới
hình thức này hay hình thức khác. Song trong điều kiện hiện nay, vẫn còn các
công ty nhỏ do biết cách làm ăn vẫn có thể khai thác những khoảng trống của
thị trường thế giới mà các công ty xuyên quốc gia chưa chiếm lĩnh hết. Đó là 14
những mảng thị trường mang những yếu tố về địa lý, môi trường, văn hóa xã
hội và phong tục tập quán riêng biệt tạo nên một lợi thế cạnh tranh ở mức độ
nhất định cho các công ty nhỏ so với các công ty xuyên quốc gia. Đây là
trường hợp đặc thù của một số công ty của các quốc gia và lãnh thổ công
nghiệp mới Châu Á. Đặc điểm thứ hai này là đặc điểm phân biệt với các công
ty độc quyền quốc gia, mà nét nổi bật nhất là việc cắm nhánh ở nước ngoài,

từ công ty con, cháu để chỉ chúng. Song cũng có thể dùng thuật ngữ cấp II,
III, để chỉ các công ty chi nhánh theo mức độ phụ thuộc vào các công ty mẹ
và có thể coi các công ty chi nhánh cấp II, III như là các công ty mạng lưới.
Giữa công ty mẹ với công ty chi nhánh có mối quan hệ phụ thuộc,
trong đó công ty mẹ đóng vai trò lãnh đạo, các công ty chi nhánh là những
đơn vị hạch toán độc lập nhưng phụ thuộc về tài chính, kỹ thuật vào công ty
mẹ và tất cả hợp thành một hệ thống. Hệ thống này là một chỉnh thể nhưng
luôn chứa đựng mâu thuẫn. Trong vòng xoáy hoạt động của chúng có cả
những lực hướng tâm và ly tâm. Các lực hướng tâm gắn hệ thống các công ty
thành một tổ hợp kinh tế quốc tế thống nhất qua nhiều mối dây liên hệ, móc
nối và phụ thuộc nhau ở mức độ nhất định. Còn các lực ly tâm đẩy các công
ty yếu về mặt kinh tế kinh doanh ra ngoài, làm suy yếu cơ sở và phá vỡ cơ chế
hoạt động của công ty.
Về mặt quản lý, người ta thấy rằng nét nổi bật là việc kiểm soát của công
ty gốc đối với các công ty chi nhánh theo lối riêng, bằng cách sử dụng các đòn
bẩy kinh tế, thực hiện việc tập trung hóa có mức độ và kiểm soát chủ yếu theo
hệ thống dọc từ trung tâm đến ngoại vi. Theo cách quản lý đó, vai trò định
hướng chiến lược về kinh tế, kỹ thuật, cung cấp tài chính, tín dụng của các
công ty mẹ rất quan trọng, còn các công ty chi nhánh là những đơn vị kinh
doanh mang tính độc lập tương đối và trở thành những đơn vị hạch toán độc
lập. Do đó buộc chúng phải năng động và có điều kiện để phát huy tính năng
động. 16
1.2.CHIẾN LƢỢC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY
XUYÊN QUỐC GIA
1.2.1. Khái niệm chung về chiến lƣợc hoạt động kinh doanh của công ty
“Chiến lược” (strategos) và chiến thuật (aktikos) bắt nguồn từ ngôn ngữ
Hy lạp cổ đại. Đối với người Hy lạp cổ đại có nghĩa là “sự sắp xếp và điều

17
giả đề cập đến chiến lược là chiến lược thực hiện hay còn gọi là chiến lƣợc
hoạt động trong thực tế.
Chiến lược công ty nhằm giải quyết một vấn đề hết sức quan trọng đó
là phải làm gì cho sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Điều này có liên
quan đến lợi ích kinh tế của mọi doanh nghiệp trong các hoạt động kinh
doanh.
1.2.2. Một số chiến lƣợc hoạt động kinh doanh của các công ty xuyên
quốc gia
Để đạt tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp cần thiết
phải lựa chọn và áp dụng những chiến lược hoạt động khác nhau trong mỗi
thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. TNC với đặc trưng lớn về quy mô và rộng
về phạm vi tác nghiệp, đồng thời phải đối mặt với những rủi ro khó lường trên
thị trường quốc tế, nên chúng sẽ tập trung vào một số chiến lược hoạt động
chủ yếu sau đây:
Một là, toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh
Toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh (global integration) chỉ việc tiến
hành quản lý hoạt động rải rác ở các địa phương ở phạm vi quốc tế, trên cơ sở
hoạt động duy trì kinh doanh. Chẳng hạn việc hình thành mạng lưới vận
chuyển và lắp đặt linh kiện giữa các ngành chế tạo tại nhiều quốc gia trên thế
giới, thì nhu cầu toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh là do áp lực giảm giá
thành và tăng lợi nhuận đầu tư, áp lực giảm giá thành bắt buộc TNCs phải xây
dựng nhà máy tại các khu vực hay quốc gia có giá nhân công rẻ (chủ yếu là
các nước đang phát triển) như Việt Nam, Đài Loan hay Trung Quốc. Sau đó
sản phẩm sẽ được chuyển từ những nơi này đến thị trường Bắc Mỹ và EU. Áp
lực này cũng có thể dẫn đến việc xây dựng những nhà máy lớn, trình độ
chuyên môn hóa cao nhằm tận dụng triệt để lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Các
nhà máy của công ty canon tại Châu Âu hay các xưởng chế tạo của IBM,
Toyota có mặt trên khắp thế giới là các minh chứng điển hình. Trong mọi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status