TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Viện Đào Tạo Sau Đại Học
Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Toàn cầu hóa và sự tác động của nó đến
kinh tế của từng quốc gia cũng như hoạt
động kinh doanh của các công ty
GVHD: NCS. Nguyễn Thanh Trung
SVTH: Nhóm 2 _ QT.Dem2 _ CH22
1. Trần Nhật Ánh
2. Trần Duy Hiến
3. Nguyễn Thị Bích Liên
4. Ngô Thị Huỳnh Nga
5. Đỗ Ngọc Hiền Phi
6. Nguyễn Anh Thư
7. Nguyễn Anh Tuấn TP.HCM, tháng 11 năm 2013
Mục Lục
CHƯƠNG I – TOÀN CẦU HÓA 3
1 Khái niệm toàn cầu hóa 3
2 Hoạt động kinh doanh quốc tế 3
cầu hoá là một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt
của đời sống xã hội. Còn theo theo quan điểm hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ
một quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau
giữa các nền kinh tế.
Tóm lại, Toàn cầu hoá là quá trình chuyển dịch hướng tới một nền kinh tế chung (nền
kinh tế toàn cầu) hội nhập hơn và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn. Nền kinh tế chung này
không chỉ là một sự hợp nhất các thị trường một cách giản đơn mà là một hệ thống các thị
trường tương tác lẫn nhau. Trong thế giới, không một quốc gia nào độc lập hoàn toàn.
2 Hoạt động kinh doanh quốc tế
Kinh doanh quốc tế là những giao dịch kinh doanh giữa các chủ thể thuộc hai hay
nhiều quốc gia nhằm đạt được những mục tiêu của mình. ao dịch kinh doanh quốc tế là
những giao dịch thương mại như xuất khẩu, nhập khẩu, BOT, licencing, franchising và đầu tư
cho những hoạt động ở nước ngoài. Hầu hết do những công ty đa quốc gia (MNCs) – USA,
CND, JP, EU thực hiện các giao dịch này.
Ví dụ như tập đoàn Coca-Cola quyết định đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tại việt
nam, hay công ty sữa Vinamilk tìm thị trường tiêu thụ tại Nhật Bản. Một ví dụ khác là công
ty May 10 ký kết hợp đồng gia công quần áo cho hãng Nike.
2.1 Các hình thức hoạt động kinh doanh quốc tế
a. Hoạt động kinh doanh theo hướng thương mại quốc tế
- Xuất khẩu: hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ở một công ty trong một đất nước và
đưa sang nước khác. Có 2 hình thức chủ yếu: + Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mà chính các doanh nghiệp phải tự lo bán trực tiếp
các sản phẩm của mình ra nước ngoài.
+ Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài
thông qua trung gian (thông qua người thứ 3) như Công ty quản lý xuất khẩu (Export
management company), Công ty kinh doanh xuất khẩu (Export trading company), Ủy thác
xuất khẩu (Export commission House), Mô giơi xuất khẩu (Export broker), Thương gia/hang
buôn xuất khẩu (Export merchant), Thông qua khách hàng ở nước ngoài (Foreign buyer).
hợp đồng, mua cổ phần. Ví dụ như liên minh chiến lược Microsoft và FPT, Apple và
Microsoft.
2.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh quốc tế
a. Các công ty đa quốc gia và sự chi phối của các cường quốc
Các công ty đa quốc gia MNCs là những công ty có sở hữu hoặc kiểm soát các
phương tiện sản xuất kinh doanh ở hải ngoại. Những công ty này xâm nhập kinh doanh quốc
tế bằng hình thức đầu tư trực tiếp FDI. Đặc điểm của chúng như kinh doanh từ 2 nước trở lên,
có ít nhất 2 thành viên thuộc các quốc tịch khác nhau, sự hợp nhất nguồn lực rất lớn, có sự
hợp nhất về chiến lượcc, triết lý
kinh doanh: lợi ích của công ty
là trên hết.
Thông qua dòng vốn
FDI cho thấy hoạt động của
MNCs ngày càng mạnh mẽ trên
toàn thế giới. Trong hơn 10
năm, lưu lượng dòng chảy này
đã tăng khoảng 4 - 5 lần.
Dòng vốn này, phần lớn
xuất phát từ các nước phát triển
như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Tây
Ban Nha và mới nổi gần đây
là Trung Quốc.
Trong khi đó, các nước
đang phát triển có lưu lượng
dòng FDI thấp hơn, và chênh
lệch giữa dòng vốn FDI đổ vào
và ra ngày càng nhiều. Chứng
tỏ, các nước đang phát triển
đang đón nhận các dòng vốn
đầu tư từ bên ngoài một cách
Ngày nay, cùng với sự vận động và phát triển thế giới về khoa học công nghệ và kinh
tế, quốc tế hóa đang chuyển dần sang toàn cầu hóa.
- Thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa: các cuộc chiến tranh nổ ra đều với mục đích tranh
giành ưu thế trong buôn bán quốc tế. Các cuộc chinh phục đánh dấu một bước phát triển của
thương mại quốc tế. Tuy nhiên hoạt động này chưa đủ mạnh để tạo nên xu thế toàn cầu hoá
- Thời kỳ CNTB ra đời đến hết chiến tranh thế giới lần II: cuộc cách mạng công
nghiệp, những phát minh đến thế kỷ XIX làm thay đổi mạnh mẽ sản xuất, thông tin và vận
tải, góp phần thúc đẩy mậu dịch quốc tế và đầu tư nước ngoài tăng nhanh. Xu thế toàn cầu
hoá bắt đầu xuất hiện và suy yếu
- Thời kỳ 1945-1960: kinh doanh quốc tế bắt đầu phục hồi với sự thống soái của các
doanh nghiệp Mỹ. Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) ra đời sau. Hiến
chương thành lập ITO được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc
làm ở Havana từ 11/1947 đến 24/3/1948. Xu thế toàn cầu hoá bắt đầu phục hồi
- Thời kỳ 1960–1980: giai đoạn phục hồi của châu Âu và Nhật. Xu thế toàn cầu hoá
bắt đầu phát triển
- Thời kỳ 1980 đến nay: Các doanh nghiệp Mỹ nhận thức môi trường và vị thế kinh
doanh của mình đã thay đổi nên bắt đầu điều chỉnh phương thức quản lý của mình. Các
doanh nghiệp Tây Âu và Nhật tiếp tục đầu tư vào Mỹ nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu của
mình. Một thị trường cạnh tranh toàn cầu đã được định hình với 3 trung tâm sản xuất và tiêu
thụ chính là Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Nhiều ngành sản xuất và dịch vụ đã mang bản
chất toàn cầu.
d. C ác đặc điểm khác
- Giá hàng hóa tăng cao: như vàng, xăng, vật liệu xây dựng…
- Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngày càng gay gắt
- Hợp tác song phương tăng lên
3 Động lực của quá trình toàn cầu hoá
- Các rào cản về thương mại và đầu tư dần được dỡ bỏ: hàng loạt các tổ chức thương
mại ra đời như WTO, OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Quốc tế), DRU (Thỏa thuận về
Giải quyết Tranh chấp)…; rất nhiều các hiệp định được ký kết như ADA (Hiệp định Chống
bán phá giá), GATS (Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ)… đã giúp hoạt động thương
ớc
trung
bình đi 65 dặm/giờ và
tàu hơi nước trung bình
36 dặm/giờ
Máy bay có thể bay
300-400 dặm/giờ
Máy bay phản lực
có thể bay 500-
700 dặm/giờ
- Hòa bình: Sau hàng thế kỷ, toàn cầu hoá ngày càng tăng. Giai đoạn từ năm 1914 đến
1945 có thể được diễn tả như sự ẩn dật sau các biên giới quốc gia. Hai cuộc chiến tranh thế
giới cùng với sự suy thoái kinh tế bị tàn phá đã bỏ mặc thị trường chung, các thị trường quốc
gia hoạt động tách biệt. Từ năm 1945, nền kinh tế quốc tế bắt đầu hồi phục cùng với nhiều
hiệp định, quy tắc chung được ký kết.
- Các công ty đa quốc gia: Năm 1970, có 700 MNC, năm 1998 đã có 60.000 (với
500.000 chi nhánh nước ngoài). Ngày nay có 61.000 (với 900.000 chi nhánh nước ngoài).
Năm 1997 khi FDI đạt đến đỉnh cao của nó, MNCs chiếm 25% GDP thế giới, 33% xuất khẩu
của thế giới. FDI đang tăng trưởng nhanh hơn so với thương mại quốc tế - tăng 39% chỉ từ
năm 1997 đến năm 1998
- Nhân khẩu học: trình độ chuyên môn của lao động tăng lên nhanh chóng, đáp ứng
nhanh nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao. Làn sóng di dân giữa các nước tăng lên, góp
phần thúc đẩy ngoại thương. Di cư quốc tế đã tăng đều đặn trong vòng 50 năm qua, bù đắp lại
tới một chừng mực nào đó những sự chênh lệch về tăng dân số và cấu trúc tuổi trong các
quốc gia. Mỹ đã chấp nhận 2,5 triệu người nhập cư trong những năm 50, 4,5 triệu người trong
những năm 70 và 9,1 triệu người trong những năm 90. Mặc dù đã có những chính sách hạn
chế nhập cư, số “người nước ngoài được đăng ký” ở Nhật tăng gấp hai lần trong thời kỳ
1980-2000, từ 783 nghìn lên 1,7 triệu người.
Người nhập cư có xu hướng là những lao động trẻ, đã có con hoặc lập gia đình khi họ
gia về chi phí và chất lượng của các yếu tố sản xuất như lao động, năng lượng, đất đai và vốn.
b. Biểu hiện
- Chế tạo các chi tiết trên phạm vi toàn cầu
- Phân bố dây chuyền lắp ráp ở nhiều nơi
- Bán hàng trên phạm vi toàn cầu.
c. Hệ thống sản xuất tích hợp toàn cầu
Lý do thúc đẩy IIP
Tiếp cận nguồn nguyên liệu rẻ tiền
Khác biệt hoá sản phẩm cho các thị trường khác nhau
Tiếp cận và sử dụng công nghệ mới
Thực hiện lợi thế của sự hợp tác
Chia nhỏ các thành phần của xích giá trị và tái phân bố các thành phần này ở những
nơi có hiệu quả nhất.
Ý nghĩa thực tiển của IIP
Việc kiểm soát các hoạt động kinh tế chuyển dịch từ quốc gia sang các MNC
Nền kinh tế của các quốc gia liên kết lại thông qua mậu dịch và đầu tư
Tạo sự đồng nhất về văn hoá.
Phân bố sản xuất
- Tập trung: Tập trung hệ thống sản xuất ở một/ một số ít địa điểm
Do yêu cầu thâm dụng kỹ thuật
Tiếp cận các nguồn lực khan hiếm
Áp lực của việc giảm phí tổn
- Phân tán: Mở rộng các chi nhánh ở nhiều quốc gia khác nhau
Tầm quan trọng của các khách hàng ở các quốc gia khác nhau
Áp lực của các đối thủ cạnh tranh toàn cầu
Lợi thế của việc phân bố địa lý.
C HƯƠ NG II – TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN C ẦU HÓA
1. Tác dụng tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá
1.1 Tác động tích cực
- Tạo công ăn việc làm
1.2 Tác động tiêu cực
- Mâu thuẫn và cạnh tranh quốc tế quyết liệt, nguy cơ tụt hậu gay gắt
Toàn cầu hóa là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các thành viên tham gia, chủ
yếu là giữa các nước đang phát triển và chậm phát triển với các nước phát triển (đứng đầu là
Mỹ). Tham gia vào quá trình toàn cầu hóa là tham gia vào việc định ra và thực hiện "luật chơi
chung". Để đảm bảo cho các nước đều có lợi ích trong mở cửa, hội nhập, đòi hỏi các bên
tham gia phải hợp tác với nhau. Do có ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm
quản lý và thực lực chi phối thị trường thế giới trong quá trình toàn cầu hóa, các nước phát
triển luôn nắm quyền quy định và khống chế những luật chơi chung có lợi cho họ. Mặc dù
"luật chơi" có vẻ "công bằng", nhưng thực chất chúng luôn đem lại lợi thế cho những kẻ
mạnh (các nước tư bản phát triển và các công ty siêu quốc gia). Các nước đang phát triển, các
nước nghèo thường phải gánh chịu những điều bất lợi, thiệt thòi về phía mình. Trong quá
trình toàn cầu hóa, để thu được nhiều lợi ích, các nước phát triển luôn tìm mọi cách chèn ép
các nước đang phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Về kinh tế, các nước phát triển dùng sức mạnh để ép các nước đang phát triển phải
chấp nhận những điều khoản có lợi cho mình, tạo nên những bất lợi cho các nước đang phát
triển, khiến các nước này phải lệ thuộc về kinh tế ngày càng nhiều.
Về chính trị, thông qua toàn cầu hóa các nước phát triển cũng buộc các nước đang
phát triển phải lệ thuộc vào họ. Việc Mỹ và NATO buộc Nam Tư phải từ bỏ chủ quyền để đổi
lấy khoản viện trợ tài chính, việc Mỹ thực hiện chính sách cấm vận đối với Cu-ba và một số
nước khác minh chứng rõ ràng cho điều đó.
Toàn cầu hóa đã tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa các nước đang phát triển với các nước
phát triển trong quá trình mở cửa, hội nhập. Không những thế, quá trình toàn cầu hóa còn đặt
các nước đang phát triển trước thách thức của sự cạnh tranh quyết liệt. Tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa là tham gia vào thị trường thế giới. Đặc trưng cơ bản của thị trường là cạnh
tranh. Để tồn tại và phát triển, các nước đang phát triển phải tìm cách đổi mới về đường lối
phát triển kinh tế, đổi mới cơ chế hoạt động, không ngừng nâng cao trình độ khoa học - kỹ
thuật, tổ chức - quản lý và công nghệ hiện đại cho phù hợp với điều kiện hội nhập. Nếu
không làm được điều đó thì quá trình toàn cầu hóa sẽ đẩy các nước đang phát triển tới nguy
triển sẽ ảnh hưởng mạnh đến văn hóa các nước đang phát triển. Điều quan trọng là mỗi nước
biết chủ động đón nhận nó để có những đối sách thích hợp nhằm phát huy những mặt tích
cực, khắc phục những mặt tiêu cực trong quá trình hội nhập.
Quá trình toàn cầu hóa, sự nối mạng thông tin toàn cầu tạo điều kiện cho việc du nhập
những tư tưởng và lối sống lai căng, thiếu lành mạnh, thoát ly bản sắc dân tộc. Nhiều giá trị
văn hóa riêng của các nước đang phát triển bị xói mòn và m ất dần ảnh hưởng, thay vào đó là
sự chấp nhận những "giá trị chung". Nền văn hóa dân tộc bị tấn công, gặm nhấm, bị "đồng
hóa" bởi văn hóa bên ngoài. Chưa bao giờ ở các nước đang phát triển, những giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc lại phải chịu những tác động xói mòn mạnh mẽ, gay gắt như thời kỳ
này. Nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy, m ại dâm, buôn lậu, ma-phi-a, bạo lực, gian lận
thương mại phát triển như các đại dịch thời Trung cổ. Tại nhiều nơi, nhất là các thành phố,
thị xã, thị tứ đã xuất hiện khá phổ biến lối sống thực dụng, chạy theo tiện nghi vật chất, tôn
thờ đồng tiền, sùng ngoại, coi nhẹ những giá trị lý tưởng, đạo đức của cha ông Nhiều sinh
hoạt văn hóa như lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, bị nhuốm màu thương mại hóa.
- Tóm lại, toàn cầu hóa có các tiêu cực sau:
+ Tạo nên thất nghiệp ở các nước phát triển
+ Giảm tiền lương thực tế của lao động không có kỹ năng
+ Sự không an toàn trong lao động
+ Né tránh sự kiểm soát của chính phủ
+ Tình trạng mất tự chủ quốc gia
+ Tàn phá môi trường
+ Sự bất công, bất bình đẳng giữa các quốc gia
+ Sự khủng hoảng toàn cầu, vấn đề đạo đức.
2 Tác động của toàn cầu hóa đến đến kinh tế của từng quốc gia
2.1 Tác động tích cực
- Toàn cầu hóa làm cho quốc gia được kết nối với nhau, tạo nên dòng chảy vốn, hàng
hoá, dịch vụ, lao động, công nghệ ngày càng mạnh trong phạm vi khu vực và toàn cầu, hỗ trợ
cho các quốc gia tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế có được tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội một cách nhanh chóng hơn. Làm cho quốc gia tăng trưởng và giảm đói nghèo.
Chẳng hạn như các nước Đông Á đã tạo nên những nền kinh tế phát triển thần kỳ
triển nhanh hơn, theo con đường đi ngắn hoặc rút ngắn, đón đầu.
- Việt Nam tiếp cận công nghệ chủ yếu thông qua các hoạt động FDI
- Toàn cầu hoá kinh tế buộc các nước phải cơ cấu lại nền kinh tế quốc gia một cách
hợp lý, bảo đảm. Phát huy tối đa lợi thế so sanh, tạo ra những khối lượng hàng hoá đủ lớn, có
chất lượng cao,mẫu mã đẹp, đủ sức thâm nhập các thị trường quốc tế.
2.2 Tác động tiêu cực
- Sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng: Nếu mức chênh lệch thu nhập
giữa 20% dân cư nghèo và và 20% dân cư giàu nhất trên thế giới năm 1976 là 1/30 thì vào
đầu những năm 1990 tỷ lệ này là 1/60 và hiện nay sự chênh lệch này đã dãn ra hơn nữa
- Toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến sự phân phối không công bằng các cơ hội và lợi ích
kinh tế giữa các khu vực, quốc gia và từng nhóm dân cư. Vì vậy, nó làm gia tăng thêm tình
trạng bất bình đẳng, làm sâu sắc thêm sự phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia. Hiện nay
các quốc gia phát triển chỉ chiếm 19% dân số thế giới nhưng lại nắm 71% khối lượng trao đổi
buôn bán, tài sản và dịch vụ, 58% đầu tư trực tiếp nước ngoài và 91% người sử dụng mạng
Internet.
- Các nước đang phát triển hiện đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc
liệt và không bình đẳng trong các quan hệ kinh tế - thương mại. Tham gia tự do hóa thương
mại buộc tất cả các nước phải chấp nhận "luật chơi" tự do cạnh tranh, nghĩa là phải mở cửa
thị trường, dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ nước
ngoài, loại bỏ các hạn chế đầu tư. 20 triệu chiếc áo sơ mi xuất khẩu m ới có thể mua được 1
máy bay Airbus hạng trung, trong lúc các mặt hàng công nghiệp có hàm lượng khoa học,
công nghệ cao lại thường được cắt giảm thuế quan sớm hơn cả.
- Toàn cầu hóa khiến các quốc gia khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn
ngày càng nhanh hơn. Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vào tháng
12/2001 thì một năm sau đó, sản lượng khai thác than của nước này bắt đầu tăng mạnh.
Trường hợp tương tự cũng diễn ra tại Ấn Độ, tuy ở quy mô nhỏ hơn
- Toàn cầu hóa khiến dòng vốn đầu tư dịch chuyển từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển. Vốn FDI liên tục được đổ vào Việt Nam từ khi gia nhập WTO và sắp
tới là TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương)
- Toàn cầu hóa có xu hướng chuyển các khoản thuế phải nộp từ các tập đoàn sang các
+ Hội nhập kinh tế quốc tế tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, học hỏi những kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh tiên tiến của các
nước, từ đó góp phần nâng cao năng lực quản lý và sản xuất kinh doanh.
- Tham gia quá trình toàn cầu hóa là một công cụ hữu hiệu để cạnh tranh hiệu quả.
+ Các doanh nghiệp có được môi trường kinh doanh thuận lợi và ổn định kể cả trên thị trường
thế giới và trong nước. Các nguyên tắc, quy định của các tổ chức liên kết kinh tế quốc tế đều
bảo đảm cho các doanh nghiệp có được cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu, đầu tư và sản
xuất, kinh doanh với các điều kiện ổn định, minh bạch và có khả năng dự đoán trước.
+ Việc giảm bớt sự bảo hộ của Nhà nước sẽ tạo sức ép và động lực để các doanh nghiệp buộc
phải đổi mới quản lý, công nghệ, cải tiến sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và
sức cạnh tranh mới có thể tồn tại trên thị trường.
- Là một phương cách hữu hiệu để bù đắp chi phí đầu tư vào phát triển sản phẩm.
- Thị trường toàn cầu là điều kiện để công ty đạt được lợi thế nhờ quy mô.
- Cho phép công ty lựa chọn nơi sản xuất với điều kiện thuận lợi nhất.
- Tạo điều kiện thiết lập các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu để đạt được tối đa
tính kinh tế của vị trí.
3.2 Tác động tiêu cực
- Các công ty hoạt động trên thị trường toàn cầu luôn phải chấp nhận những rủi ro
thường xuyên hơn, phức tạp hơn.
+ Những khác biệt về thị hiếu và sở thích của khách hàng
+ Những khác biệt về kênh phân phối
+ Những khác biệt về cấu trúc hạ tầng và thói quen truyền thống
+ Quy định của các chính phủ sở tại…
+ Nguy cơ phải đối mặt với những vụ kiện cũng sẽ tăng lên nếu doanh nghiệp ko nắm rõ luật
chơi trong quá trình hội nhập.
+ Các cách thức kinh doanh và rào cản thâm nhập ở mỗi nước là khác nhau. Yêu cầu công ty
phải hiểu rõ những khác biệt và phải biết cách vượt qua những thách thức này.
- Sức ép về vấn để giảm chi phí: các doanh nghiệp sẽ phải chịu gia tăng sức ép cạnh
tranh của hàng hóa nhập khẩu và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ngay tại thị trường nội
địa. Bởi vì:
phải/hoặc giảm bớt các chi phí cho việc nhập khẩu. Do vậy, tự do hóa thương mại góp phần
giảm chi phí và tăng năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp.
Thương mại tự do còn cho phép các doanh nghiệp giảm các chi phí giao dịch, kinh doanh nhờ
các nguyên tắc chung được thống nhất.
- Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong tiến trình hội nhập, sự bảo hộ của Nhà nước đối với
doanh nghiệp sẽ phải giảm dần theo các cam kết quốc tế, làm gia tăng mạnh mẽ áp lực cạnh
tranh từ bên ngoài, đây là một thách thức rất lớn, nhưng cũng là cơ hội để doanh nghiệp tự
vươn lên khẳng định mình. Bởi vì, việc giảm bớt sự bảo hộ của Nhà nước sẽ tạo sức ép và
động lực để các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải đổi mới quản lý, công nghệ, cải tiến sản
xuất, kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh mới có thể tồn tại trên thị trường.
- Các doanh nghiệp có được môi trường kinh doanh thuận lợi và ổn định kể cả trên thị
trường thế giới và trong nước. Các nguyên tắc, quy định của các tổ chức liên kết kinh tế quốc
tế đều bảo đảm cho các doanh nghiệp có được cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu, đầu tư và
sản xuất, kinh doanh với các điều kiện ổn định, minh bạch và có khả năng dự đoán trước.
- Hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp
cận công nghệ, kỹ thuật hiện đại, học hỏi những kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh
tiên tiến của các nước, từ đó góp phần nâng cao năng lực quản lý và sản xuất kinh doanh.
4.2 Thách thức
- Các doanh nghiệp sẽ phải chịu gia tăng sức ép cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu
và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ngay tại thị trường nội địa. Bởi vì, khi hội nhập với
nền kinh tế khu vực và thế giới, thị trường nội địa phải "mở cửa", các rào cản thuế quan cũng
như phi thuế quan bị giảm bớt và loại bỏ, các doanh nghiệp nước ngoài được tự do tham gia
buôn bán, cung cấp hàng hóa, dịch vụ như doanh nghiệp trong nước trên cơ sở bình đẳng,
không phân biệt đối xử. Bên cạnh đó, các hình thức hỗ trợ truyền thống rất phổ biến của Nhà
nước cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế bao cấp như: trợ cấp, trợ giá, hỗ trợ tín dụng
xuất khẩu ưu đãi, thưởng xuất khẩu, độc quyền kinh doanh cũng phải từng bước cắt giảm,
xóa bỏ. Trong khi các hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu do nước ngoài cung cấp đa dạng, phong
phú với chất lượng và giá cả thấp hơn, các nhà cung cấp "trường vốn" hơn và dày dạn kinh
nghiệm trong cạnh tranh quốc tế, chưa nói tới tâm lý chung của người tiêu dùng vẫn chủ yếu
- Bên cạnh đó, cùng với việc thị trường xuất khẩu được rộng mở, hàng hóa của Việt
Nam ngày càng vươn rộng ra thị trường quốc tế, thì nguy cơ phải đối mặt với những vụ kiện
chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt
Nam cũng càng tăng lên. Theo thống kê, từ năm 1994 - 2005, các doanh nghiệp Việt Nam đã
phải đối phó với 25 vụ kiện chống bán phá giá của các nước. Điển hình là những vụ kiện
chống bán phá giá của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu liên quan đến mặt hàng cá da trơn, mặt
hàng tôm, xe đạp, giày, mũ da
4.3 Điều kiện tồn tại của các doanh nghiệp VN trong giai đoạn toàn cầu hóa
John Naisbitt (một tác giả người mỹ và diễn giả trong lịnh vực nghiên cứu tương lai)
cho rằng: Nếu tốc độ của công ty không bằng tốc độ thay đổi bên ngoài thì ngày tàn của công
ty gần kề.
Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt này, trong tương lai gần thì các
công ty của Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Công ty phải phát triển và duy trì một tầm nhìn có tính hệ thống và toàn cầu.
- Việc thiết kế sản phẩm. Theo Al Ries & Jack Trout cho rằng “Thị trường càng lớn, sản
phẩm của bạn càng phải mang tính chuyên biệt hơn nếu muốn thành công. Kinh doanh càng
có tính toàn cầu, bạn càng phải tập trung vào một phân khúc chuyên biệt của thị trường thế
giới. Và đi xa hơn nữa, bạn phải cố gắng tập trung vào một thứ thôi.”
- Cần có chiến lược kinh doanh toàn cầu khoa học, trong đó có thể nhắc tới các chiến lược
sau:
+ Chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường. ( chiến lược toàn cầu, chiến lược đa quốc
gia, chiến lược xuyên quốc gia, chiến lược quốc tế)
+ Chiến lược cạnh tranh (chiến lược giá thấp nhất, khác biệt hóa sản phẩm, chiến lược tập
trung)
- Cần có nhà lãnh đạo đủ tầm và có tâm
5 C ác giải pháp nâng cao tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu
hóa tại Việt Nam
- Thay đổi hành lang pháp lý:
+ Loại bỏ tình trạng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giảm các
ưuđãi phi lý cho doanh nghiệp nhà nước đế tạo một sân chơi bình đắng cho
mọi loại hình sở hữu khác nhau
+ Đối mới và kiện toàn hệ thống pháp luật để phù hợp với quy định và thông
lệ quốc tế
+ Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật đáp ứng
nhu cầu, hướng phát triến của doanh nghiệp.
- Bồi dưỡng, rèn luyện năng lực đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ làm công tác kinh tế
đối ngoại và quản lý doanh nghiệp, đế đủ sức, đủ bản lĩnh thực hiện tốt các nhiệm vụ theo
đúng đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại: Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế
đổi ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ
trình phù họp với điều kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế song
phương và đa phương như AFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, tiến tới gia nhập
WTO.
5.2 Chiến lược
- Có 4 chiến lược
Áp lực nội địa hóa
Áp lực giảm chi phí
Thấp C ao
Cao
Chi
ế
n lư
ợ
c toàn c
ầ
u
- Đặc điểm cơ bản của các chiến lược:
Chiến lược Đặc điểm Đa quốc gia - Thành lập công ty con ở nhiều nước (mỗi công ty có các chiến lược riêng)
- Có ý nghĩa: sức ép nội địa hóa cao và sức ép giảm chi phí thấp
- Định hướng đạt mức tối đa việc đáp ứng yêu cầu nội địa hóa
- Họ cá biệt hóa một cách rộng rãi sản phẩm cung cấp và chiến lượ
c
marketing để
đáp ứng điều kiện của các quốc gia khác nhau.
* Nhược điểm
- Không thể thực hiện tính kinh tế theo quy mô
- Không khai thác được hiệu ứng đường cong kinh nghiệm
-
Không chuy
ể
n giao đư
ợ
c các kh
ả
năng t
ạ
o s
ự
p
theo
nhiều chiều của các công ty con trên toàn thế giới.
- Khả năng cá biệt hóa việc cung cấp sản phẩm và m arketing thích hợp để
đáp
ứ
ng
yêu cầu nội địa hóa.
- Khó khăn trong việc thực hiện vì các vấn đề của tổ chức.
Toàn cầu - Thực hiện tiêu chuẩn hóa, sản xuất sản phẩm từ một hoặc một số
trung tâm
và
phân phối trên thị trường toàn cầu.
- Các hoạt động sản xuất, marketing, R&D tập trung vào vài vùng thuận lợi.
- Có ý nghĩa khi sức ép nội địa hóa thấp và sức ép giảm chi phí cao
- Chiến lược này thịnh hành trong các ngành sản xuất hàng công nghiệp.
- Có khả năng khai thác hiệu ứng đường cong kinh nghiệm, tính kinh tế củ
a
ả
m chi phí c
ũng
thấp.
- Chuyển giao kỹ năng và sản phẩm một chiều.
- Chuyển giao các khả năng khác biệt đến thị trường nước ngoài
- Yếu về đáp ứng yêu cầu nội địa hóa
- Khuynh hướng tập trung hóa các chức năng phát triển sản phẩ
m như R&D
ở trong nước.
- Không thể thực hiện tính kinh tế vị trí
- Không khai thác được hiệu ứng đường cong kinh nghiệm
- Không thích hợp với các ngành có áp lực chi phí cao