TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
ASEAN – VIỆT NAM
Nhóm 3 - MBA8: CHỀNH HẾNH PHU
LÊ THỊ BÍCH NGỌC
TRẦN QUỐC TẾ
LÊ TRỌNG ĐOAN Tp. Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 5 năm 2010
2
PHẦN 1 – TỔNG QUAN VỀ ASEAN
I. GIỚI THIỆU VỀ ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of Southeast Asia
Nations, viết tắt là ASEAN) được thành lập ngày 08-08-1967 nhằm tăng cường hợp
tác kinh tế, văn hóa – xã hội giữa các thành viên, đồng thời để thích nghi với xu thế
khu vực hóa và toàn cầu hóa. Sau hơn 40 năm hình thành và phát triển, ASEAN đã có
những chuyển hóa căn bản về chất, hình thức, và nội dung hợp tác; trở thành một tổ
chức hợp tác khu vực thành công nhất thế giới, có vai trò quan trọng đối với hòa bình,
ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới. Thành công nhất trong
hơn 40 năm qua là hình thành một ASEAN bao gồm cả 10 nước Đông Nam Á, đến
những thay đổi căn bản về chất của Hiệp hội cũng như tình hình Đông Nam Á, thúc
đẩy xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực. Mục tiêu phát triển trong
giai đoạn mới của Hiệp hội là xây dựng một Cộng đồng ASEAN trên 3 trụ cột là
cao và năng động vào loại nhất nhì thế giới. Các nước trong khu vực đang nỗ lực cao
nhất để phát triển các ngành công nghiệp nặng theo hướng “chiến lược công nghiệp
hóa thay thế nhập khẩu” và đang trên đà phát triển mạnh mẽ.
4
Về an ninh – chính trị: Đông Nam Á là khu vực phứt tạp, không thuần nhất về chế
độ chính trị. Do tác động của cục diện thế giới trước và sau chiến tranh lạnh, Đông
Nam Á luôn diễn ra sự phân hóa về chính trị. Trong nhiều thập kỷ, nhiều nước Đông
Nam Á bị lôi kéo của Mỹ và phương Tây đã tiến hành chính sách thù địch đối với
cách mạng và Đông Dương. Nhưng kể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN, quan hệ
chính trị - an ninh trong khu vực đã có sự “khởi sắc”: một mặt đã phá tan được những
khác biệt về chế độ chính trị trước đây để cùng nhau xây dựng một khu vực hòa bình,
ổn định, thịnh vượng và mở rộng hợp tác quốc tế; mặt khác, các nước ASEAN đóng
vai trò nồng cốt trong diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), duy trì các nguyên tắc “đồng
thuận”, cùng nhau xây dựng một khối thống nhất, đoàn kết, tin cậy lẫn nhau.
Hợp tác về chính trị - an ninh hiện nay đang đóng một vai trò quan trọng để các bên
liên quan đối thoại và giải quyết các mâu thuận, xung đột, ngăn ngừa đối đầu hoặc
nguy cơ xảy ra chiến tranh trong khu vực. ASEAN bày tỏ thiện chí và khuyến khích
các quan hệ hợp tác tích cực với các nước, nhưng cũng cương quyết phản đối một số
nước phương Tây lợi dụng “chống khủng bố”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”,
“tôn giáo” … để can thiệp vào công việc nội bộ của ASEAN.
Về văn hóa – xã hội: Đông Nam Á có vị trí nằm ở giữa trục giao lưu với 4 phương
(cả phương Đông, phương Tây, phương Bắc và phương Nam), trở thành ngã tư của
nền văn minh nhân loại, do vậy về văn hóa, Đông Nam Á là khu vực có nền văn hóa
đa dạng, kết hợp bản địa với bên ngoài. Trong đó những yếu tố bản địa là nền tản văn
hóa vững chắc của cả khu vực. Đông Nam Á còn là nơi giao lưu của các nền văn
minh khu vực. trong lịch sử cũng như thời hiện đại, khu vực này luôn diễn ra các cuộc
đấu tranh gay gắt để bảo vệ những giá trị văn hóa về dân tộc, chống lại mọi sự lai
căng và bác bỏ những giá trị áp đặt từ bên ngoài.
5
Hiệp hội đã ra Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN (hay còn gọi là Tuyên bố Bali I) thể
hiện quyết tâm hợp tác khu vực, đồng thời gửi đi tín hiệu thân thiện, hợp tác với các
quốc gia khác trong khu vực thông qua Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á
(TAC), kêu gọi các quốc gia trong khu vực cùng hợp tác vì hòa bình, an ninh chung
của khu vực, giải quyết xung đột, tranh chấp bằng đàm phán hòa bình. Cũng trong
năm này nhà nước Melanesian Papua New Guinea được trao quy chế quan sát viên.
Trong suốt thập niên 1970, tổ chức này bám vào một chương trình hợp tác kinh tế, sau
Hội nghị thượng đỉnh Bali năm 1976. Nó đã giảm giá trị hồi giữa thập niên 80 và chỉ
được hồi phục khoảng năm 1991 nhờ một đề xuất của Thái Lan về một khu vực tự do
thương mại cấp vùng. Sau đó khối này mở rộng khi Brunei Darussalam trở thành
thành viên thứ sáu sau khi gia nhập ngày 8 tháng 1 năm 1984, chỉ một tuần sau khi
học giành được độc lập ngày 1 tháng 1.
Năm 1992, cùng với xu thế thế giới sau Chiến tranh lạnh tập trung vào phát triển kinh
tế và thương mại, ASEAN đã ký Hiệp định khung về chương trình ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung cho Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA), bắt đầu tiến
trình tự do hóa kinh tế khu vực. Cũng trong năm, ASEAN ra Tuyên bố về Biển Đông
xác lập nguyên tắc giải quyết các mâu thuẫn ở khu vực này bằng biện pháp hòa bình.
Từ năm 1993 đến 1994, ASEAN bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại, thúc đẩy đối
thoại về an ninh ở khu vực thông qua việc lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tại
Hội nghị Bộ truởng ASEAN lần thứ 26 (tháng 7 năm 1993). Diễn đàn ARF đầu tiên
đã được tổ chức năm 1994.
7
Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy. Lào và Myanmar gia nhập
hai năm sau ngày 23/7/1997.
Tháng 12/1997 trước viễn cảnh ASEAN sẽ sớm hoàn tất việc mở rộng bao gồm cả 10
nước Đông Nam Á, mở ra trang sử mới cho khu vực, ASEAN đã thông qua Tầm nhìn
ASEAN 2020, vạch ra mục tiêu hướng tới một cộng đồng khu vực hòa bình, ổn định,
hài hòa và phát triển thịnh vượng.
Năm 1998, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VI tại Hà Nội, ASEAN đã thông
chức này bắt đầu đàm phán các thoả thuận về môi trường. Chúng bao gồm việc ký kết
Thoả thuận về Ô nhiễm Khói bụi Xuyên biên giới ASEAN năm 2002 như một nỗ lực
nhằm kiểm soát ô nhiễm khói bụi ở Đông Nam Á. Không may thay, nó không thành
công vì những vụ bùng phát khói bụi Malaysia năm 2005 và khói bụi Đông Nam Á
năm 2006. Các hiệp ước môi trường khác do tổ chức này đưa ra gồm Tuyên bố Cebu
về An ninh Năng lượng Đông Á, và Đối tác Châu Á Thái Bình Dương về Phát triển
Sạch và Khí hậu, cả hai đều nhằm giải quyết những hiệu ứng có thể xảy ra từ sự thay
đổi khí hậu. Thay đổi khí hậu cũng là vấn đề được quan tâm hiện nay.
Năm 2002, trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp hoà bình cho vấn đề biển Đông, ASEAN
và Trung Quốc ký bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại Hội
nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8 diễn ra ở Phnom Penh.
Năm 2003, ASEAN tiến một bước nữa trong tăng cường liên kết khu vực khi cho ra
đời Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II), xác định mục tiêu thành
lập một Cộng đồng ASEAN gồm ba trụ cột: Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng
Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội.
9
Các lãnh đạo của mỗi nước, đặc biệt là Mahathir Mohamad của Malaysia, cũng cảm
thấy sự cần thiết hội nhập hơn nữa của khu vực. Bắt đầu từ năm 1997, khối đã thành
lập các tổ chức bên trong khuôn khổ của họ với mục tiêu hoàn thành tham vọng này.
ASEAN Cộng Ba là tổ chức đầu tiên trong số đó được thành lập để cải thiện những
quan hệ sẵn có với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tiếp đó là Hội nghị thượng
đỉnh Đông Á còn rộng lớn hơn, bao gồm tất cả các nước trên cộng Ấn Độ, Australia,
và New Zealand. Nhóm mới này hoạt động như một điều kiện tiên quyết cho Cộng
đồng Đông Á đã được lên kế hoạch, dự định theo mô hình của Cộng đồng châu Âu
hiện đã không còn hoạt động nữa. Nhóm Nhân vật Nổi bật ASEAN đã được tạo ra để
nghiên cứu những thành công và thất bại có thể xảy ra của chính sách này cũng như
khả năng về việc soạn thảo một Hiến chương ASEAN.
Năm 2005, Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần đầu tiên được tổ chức tại Kuala
Lumpur với sự tham gia của ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,
11
III. CÁC THÀNH VIÊN
Hiện nay, ASEAN gồm 10 quốc gia thành viên được liệt kê theo ngày gia nhập:
Các quốc gia sáng lập (ngày 8 tháng 8 năm 1967)
Cộng hoà Indonesia
Liên bang Malaysia
Cộng hoà Philippines
Cộng hòa Singapore
Vương quốc Thái Lan
Các quốc gia gia nhập sau
Vương quốc Brunei (ngày 08/01/1984)
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (ngày 28/7/1995)
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (ngày 23/7/1997)
Liên bang Myanma (ngày 23/7/1997)
bình với toàn thế giới nói chung trong một môi trường công bằng, dân chủ và
hoà hợp;
5. Xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất với sự ổn định, thịnh
vượng, khả năng cạnh tranh và liên kết kinh tế cao, tạo thuận lợi cho thương
mại và đầu tư, bao gồm sự chu chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ và dòng đầu tư;
di chuyển thuận lợi của các doanh nhân, những người có chuyên môn cao,
những người có tài năng và lực lượng lao động, và sự chu chuyển tự do hơn
các dòng vốn;
6. Giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN thông qua hợp
tác và giúp đỡ lẫn nhau;
7. Tăng cường dân chủ, thúc đẩy quản trị tốt và pháp quyền, thúc đẩy và bảo vệ
nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, với sự tôn trọng thích đáng các quyền
và trách nhiệm của các Quốc gia thành viên ASEAN;
8. Đối phó hữu hiệu với tất cả các mối đe dọa, các loại tội phạm xuyên quốc gia
và các thách thức xuyên biên giới, phù hợp với nguyên tắc an ninh toàn diện;
9. Thúc đẩy phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường khu vực, tính bền vững
của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn di sản văn hóa và chất lượng
cuộc sống cao của người dân khu vực;
10. Phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo lâu dài, trong khoa học và công nghệ, để tăng cường quyền
năng cho người dân ASEAN và thúc đẩy Cộng đồng ASEAN;
11. Nâng cao phúc lợi và đời sống của người dân ASEAN thông qua việc tạo điều
kiện để họ tiếp cận bình đẳng các cơ hội về phát triển con người, phúc lợi và
công bằng xã hội;
12. Tăng cường hợp tác trong việc xây dựng cho người dân ASEAN một môi
trường an toàn, an ninh và không có ma túy;
14
13. Thúc đẩy hình thành một ASEAN hướng về nhân dân, trong đó khuyến khích
mọi thành phần xã hội tham gia và hưởng lợi từ tiến trình liên kết và xây dựng
ngoài ASEAN hoặc đối tượng không phải là quốc gia tiến hành, đe dọa đến
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự ổn định chính trị và kinh tế của các Quốc
gia thành viên ASEAN;
(l) Tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của người dân
ASEAN, đồng thời nhấn mạnh những giá trị chung trên tinh thần thống nhất
trong đa dạng;
(m) Giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ về chính trị, kinh tế,
văn hoá và xã hội với bên ngoài, đồng thời vẫn duy trì tính chủ động, hướng ra
bên ngoài, thu nạp và không phân biệt đối xử; và
(n) Tuân thủ các nguyên tắc thương mại đa biên và các cơ chế dựa trên luật lệ của
ASEAN nhằm triển khai có hiệu quả các cam kết kinh tế, và giảm dần, tiến tới
loại bỏ hoàn toàn các rào cản đối với liên kết kinh tế khu vực, trong một nền
kinh tế do thị trường thúc đẩy.
VI. CƠ CẤU TỔ CHỨC
Hiến chương ASEAN quy định bộ máy tổ chức của ASEAN gồm các cơ quan chính
sau:
1. Cấp cao ASEAN bao gồm những Người đứng đầu Nhà nước hoặc Chính phủ
các quốc gia thành viên.
- Cấp cao ASEAN:
16
o Là cơ quan hoạch định chính sách tối cao của ASEAN;
o Xem xét, đưa ra các chỉ đạo về chính sách và quyết định các vấn đề then
chốt liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu của ASEAN, các vấn đề
quan trọng liên quan đến lợi ích của các Quốc gia thành viên và tất cả các
vấn đề do Hội đồng Điều phối ASEAN, các Hội đồng Cộng đồng ASEAN
và các Cơ quan cấp Bộ trưởng chuyên ngành đệ trình lên;
o Chỉ đạo các Bộ trưởng liên quan thuộc từng Hội đồng tiến hành các hội
nghị liên Bộ trưởng đặc biệt, và giải quyết các vấn đề quan trọng của
ASEAN có liên quan đến các Hội đồng Cộng đồng. Các quy định về thủ tục
o Thông qua việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các Phó Tổng thư ký ASEAN
theo khuyến nghị của Tổng thư ký; và
o Thực hiện các nhiệm vụ khác được nêu trong Hiến chương này, hoặc các
chức năng khác do Cấp cao ASEAN trao cho.
- Hội đồng Điều phối ASEAN sẽ được các quan chức cao cấp liên quan hỗ trợ.
3. Các Hội đồng Cộng đồng ASEAN bao gồm Hội đồng Cộng đồng Chính trị -
An ninh ASEAN (APSCC), Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AECC) và
Hội đồng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCCC).
- Trực thuộc mỗi Hội đồng Cộng đồng ASEAN sẽ có các Cơ quan chuyên ngành
cấp Bộ trưởng.
- Các Quốc gia thành viên sẽ cử đại diện quốc gia tham dự các cuộc họp của Hội
đồng Cộng đồng ASEAN.
18
- Để thực hiện các mục tiêu của từng trụ cột trong ba trụ cột của Cộng đồng
ASEAN, mỗi Hội đồng Cộng đồng ASEAN:
o Đảm bảo việc thực hiện các quyết định có liên quan của Cấp cao ASEAN;
o Điều phối công việc trong các lĩnh vực phụ trách, và những vấn đề có liên
quan đến các Hội đồng Cộng đồng khác; và
o Đệ trình các báo cáo và khuyến nghị về những vấn đề thuộc phạm vi trách
nhiệm lên Cấp cao ASEAN.
- Mỗi Hội đồng Cộng đồng ASEAN sẽ họp ít nhất hai lần một năm và sẽ do Bộ
trưởng có liên quan của Quốc gia thành viên đang giữ cương vị Chủ tịch
ASEAN chủ trì.
- Mỗi Hội đồng Cộng đồng ASEAN sẽ được các quan chức cao cấp có liên quan
hỗ trợ.
4. Ủy ban các Đại diện thƣờng trực ASEAN (CPR) đặt tại Gia-các-ta, đóng vai
trò là cơ quan đầu mối, theo dõi và điều phối các hoạt động hợp tác hàng ngày
của ASEAN.
- Các Quốc gia thành viên ASEAN sẽ bổ nhiệm một Đại diện thường trực có
quyền hạn của Tổng thư ký; và
o Khuyến nghị lên Hội đồng Điều phối ASEAN để phê duyệt việc bổ nhiệm
và miễn nhiệm các Phó Tổng thư ký.
- Tổng thư ký cũng là Quan chức Hành chính cao cấp nhất của ASEAN.
20
- Tổng thư ký được bốn Phó Tổng thư ký với hàm và quy chế cấp Thứ trưởng
giúp việc. Các Phó Tổng thư ký sẽ chịu trách nhiệm trước Tổng thư ký trong
việc thực thi chức trách của mình.
- Bốn Phó Tổng thư ký sẽ không cùng quốc tịch với Tổng thư ký và đến từ bốn
Quốc gia thành viên ASEAN khác nhau.
- Bốn Phó Tổng thư ký bao gồm:
o Hai Phó tổng thư ký có nhiệm kỳ 3 năm, không gia hạn, và được lựa chọn
trong số các công dân của các Quốc gia thành viên ASEAN trên cơ sở luân
phiên theo vần chữ cái tiếng Anh, có tính đến sự liêm khiết, phẩm chất,
năng lực, kinh nghiệm, và bình đẳng giới; và
o Hai Phó tổng thư ký có nhiệm kỳ 3 năm, có thể gia hạn nhiệm kỳ thêm 3
năm nữa. Hai phó Tổng thư ký này sẽ được tuyển chọn công khai dựa trên
năng lực;
b. Ban thƣ ký ASEAN sẽ bao gồm Tổng thư ký và các nhân viên khác tùy theo
yêu cầu đặt ra.
6. Ban thƣ ký ASEAN Quốc gia: nằm trong Bộ Ngoại giao của các nước thành
viên, chịu trách nhiệm theo dõi và điều phối các hoạt động hợp tác ASEAN ở
cấp quốc gia.
- Mỗi Quốc gia thành viên ASEAN sẽ lập một Ban thư ký ASEAN Quốc gia với
nhiệm vụ:
o Đóng vai trò là đầu mối quốc gia;
o Là nơi lưu trữ thông tin về tất cả các vấn đề liên quan đến ASEAN ở cấp độ
quốc gia;
o Điều phối việc triển khai các quyết định của ASEAN ở cấp độ quốc gia;
Quốc, Trung Quốc, Australia, New Zealand, và Ấn Độ tổng cộng chiếm tới gần một
nửa dân số thế giới với tên gọi chính thức là Hội nghị cấp cao Đông Á. Ngoài ra còn
có phiên hội nghị giữa các nhà lãnh đạo ASEAN với lãnh đạo Nga.
Các cuộc họp khác
Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM) là một quá trình đối thoại không chính thức. Sáng
kiến này được đưa ra năm 1996 với mục tiêu tăng cường hợp tác giữa các quốc gia
châu Á và châu Âu, đặc biệt giữa các thành viên Liên minh châu Âu và ASEAN.
ASEAN, được đại diện bởi vị Tổng thư ký của mình, là một trong 45 đối tác ASEM.
Họ cũng chỉ định một đại diện trong ban quản lý Quỹ Á-Âu (ASEF), một tổ chức văn
hoá xã hội gắn liền với cuộc Gặp gỡ.
Ngoài các cuộc họp ở trên, các cuộc họp thường xuyên khác cũng được tổ chức.
Chúng bao gồm Cuộc họp Bộ trưởng ASEAN Thường niên cũng như các uỷ ban nhỏ
hơn khác, như Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á. Các cuộc họp tập trung
vào các chủ đề riêng biệt, như quốc phòng hay môi trường, và do các Bộ trưởng, thay
vì các nguyên thủ quốc gia tham dự.
VIII. XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN
Tuyên bố Băng Cốc đánh dấu sự ra đời của ASEAN đã nêu các mục tiêu gồm đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực.
ASEAN mở rộng, bao gồm cả 10 nước Đông Nam Á với việc Việt Nam tham gia năm
1995, tiếp đó là Lào, Myanmar và Campuchia, đánh dấu bước ngoặt phát triển của
Hiệp hội và tạo điều kiện để hướng tới xây dựng một cộng đồng thịnh vượng và hòa
bình ở Đông Nam Á. Trải qua 4 thập kỷ hình thành và phát triển, nội dung hợp tác
giữa các nước thành viên với nhau và giữa ASEAN với bên ngoài ngày càng trở nên
23
sâu, rộng và hình thức ngày càng phong phú. Quá trình đó cũng đánh dấu sự hình
thành và phát triển các cơ chế hợp tác trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, an ninh, kinh tế
cho đến văn hóa-xã hội ASEAN cũng xây dựng được một loạt những văn kiện quan
trọng mang tính định hướng, tạo khuôn khổ cho hợp tác trong ASEAN và giữa
ASEAN với các đối tác bên ngoài. Trước những nhu cầu cấp bách cần phải nâng cao
2003, Indonesia đề xuất ASEAN nên tiến tới xây dựng Cộng đồng An ninh (ASC)
nhằm tạo dựng một môi trường bền vững nơi các nước cùng chung sống trong hòa
bình, ổn định, giải quyết hòa bình các tranh chấp, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực
đồng thời tăng cường hợp tác để đối phó một cách tốt hơn với những thách thức an
ninh mới nổi lên. Để tạo cân bằng trong sự phát triển, ASEAN sau đó đã nhất trí hình
thành Cộng đồng xã hội-văn hoá.
Tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 9 (Bali, Indonesia, tháng 10/2003), ASEAN đã ra Tuyên
bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II - BAC II), khẳng định quyết
tâm xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh (ASC),
Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Xã hội-văn hoá (ASCC), đồng thời cũng
phác thảo những ý tưởng lớn của từng Cộng đồng. Ban đầu, ASEAN dự kiến hoàn
thành Cộng đồng vào năm 2020, song trước những biến chuyển nhanh chóng của tình
hình khu vực và quốc tế, cũng như nhu cầu đẩy nhanh liên kết khu vực và phát triển
của từng nước thành viên, tại HNCC ASEAN 12 (tháng 1/2007), các nhà Lãnh đạo
ASEAN đã nhất trí phấn đấu đẩy nhanh việc hoàn thành mục tiêu này vào 2015, sớm
hơn dự kiến 5 năm. Các nước ASEAN cũng nhất trí đồng thời tiến hành xây dựng ba
cột trụ trên bởi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
25
Hướng tới mục tiêu đó, ASEAN hiện đã nỗ lực xây dựng và triển khai các chương
trình, kế hoạch hành động quan trọng như Chương trình hành động Viên-chăn (VAP),
các Kế hoạch hành động cụ thể xây dựng từng trụ cột Cộng đồng, đặc biệt là xây
dựng, ký kết và phê chuẩn Hiến chương ASEAN, góp phần đưa ASEAN trở thành
một thực thể chính trị-kinh tế gắn kết hơn và ràng buộc hơn về pháp lý.
Để tạo khuôn khổ và cụ thể hóa các bước đi trong tiến trình xây dựng Cộng đồng, tại
Hội nghị Cấp cao ASEAN 14 (tháng 2/2009), các nhà Lãnh đạo ASEAN đã thông qua
lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN gồm các kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng
đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-xã hội, cùng với
Kế hoạch công tác về Sáng kiến Liên kết ASEAN giai đoạn II (2009-2015), như một
văn kiện kế tục Chương trình Hành động Viên chăn (VAP), giúp ASEAN đẩy mạnh