Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế: Sự phát triển chiến lược ở PROCTER GAMBLE - Pdf 14


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ TÌNH HUỐNG 3
SỰ PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC Ở PROCTER & GAMBLE

GVHD: TS NGUYỄN HÙNG PHONG

Nhóm 3 – Lớp QT Ngày 2 – K22
Danh sách nhóm
1. Nguyễn Đức Thịnh
2. Nguyễn Xuân Thịnh
3. Nguyễn Phan Thảo Tiên
4. Đoàn Thị Thu Trang
5. Huỳnh Thảo Trang
6. Nguyễn Thị Huệ Trinh

TPHCM, Tháng 12/2013


2. Nguyên nhân CL kém hiệu quả giai đoạn 1990 21

3. Phân tích CL giúp P&G đạt được thành quả: 22

3.1. Phân tích các chiến lược: 22

3.2. Lợi ích chiến lược: 22

3.3. Rủi ro đi kèm chiến lược: 22 Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

3 Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble (p.439)

Thành lập vào năm 1837 ở Cincinnati, Procter & Gamble là một trong
những công ty có mức độ quốc tế hoá mạnh nhất trên thế giới. Ngày nay P&G là
một công ty toàn cầu khổng lồ trong lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng với doanh
thu hàng năm vượt trên 50 tỷ USD, trong đó có khoảng 54% doanh thu được tạo ra
từ nước ngoài. P&G có hơn 300 nhãn hiệu hàng hoá, bao gồm xà bông tắm Ivory,
xà bông giặt Tide, tã giấy Pampers, thức ăn cho vật nuôi kiểng IAM, Crisco,
Folgers được bán ở 160 nước trên thế giới. Nó có hoạt động sản xuất ở 80 nước
trên thế giới, thuê mướn khoảng 100.000 nhân công toàn cầu. P&G xây dựng
xưởng sản xuất ở nước ngoài đầu tiên vào năm 1915 ở Canada để sản xuất xà bông

Mỹ, Tesco ở Anh và Carrefour ở Pháp. Những nhà bán lẻ này với khả năng thương
lượng ngày càng cao đã yêu cầu chiết khấu giá từ P&G.
Trong năm 1993, P&G bắt tay vào việc tái cấu trúc công ty một cách toàn
diện nhằm kiểm soát cơ cấu chi phí và nhận thức sự biến động của các thị trường
toàn cầu mới nổi lên. Công ty đã đóng cửa 30 nhà máy trên toàn thế giới, sa thải
13.000 nhân công để tập trung sản xuất ở một vài nơi nhằm mục đích tận dụng
hiệu quả kinh tế theo quy mô và phục vụ tốt hơn thị trường khu vực. Những hành
động này đã cắt giảm được chi phí hàng năm là 600 triệu USD. Tuy nhiên, điều đó
chưa đủ, tăng trưởng lợi nhuận vẫn rất chậm chạp.
Vào 1998, P&G đã thực hiện việc tái cấu trúc công ty lần thứ hai với tên gọi
là “Tổ chức 2005”. Mục tiêu của chương trình là chuyển P&G thành một công ty
toàn cầu thực thụ. Công ty đã từ bỏ cách tổ chức cũ chủ yếu dựa trên thị trường của
các quốc gia và khu vực và thay thế nó bằng 7 đơn vị kinh doanh toàn cầu độc lập
(có đầy đủ các bộ phận), chịu trách nhiệm kinh doanh từ các sản phẩm chăm sóc
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

5

trẻ em cho đến thực phẩm. Mỗi đơn vị kinh doanh phải chịu trách nhiệm hoàn toàn
về lợi nhuận của những sản phẩm mà nó kinh doanh, về việc sản xuất, tiếp thị và
phát triển sản phẩm ở đơn vị. Mỗi đơn vị kinh doanh phải tự hợp lý hoá việc sản
xuất, tập trung việc sản xuất vào một vào cơ sở sản xuất lớn, và cố gắng xây dựng
những thương hiệu toàn cầu ở bất cứ nơi nào có thể, để có thể xoá bỏ sự khác biệt
về tiếp thị giữa các quốc gia; và cuối cùng là thúc đẩy việc phát triển và đưa ra thị
trường những sản phẩm mới. Năm 1999, P&G thông báo rằng kết quả đầu tiên của
quá trình này là công ty đã phải đóng cửa thêm 10 nhà máy và sa thải thêm 15.000
nhân công ở châu Âu nơi mà vẫn có quá nhiều những cơ sở sản xuất giống nhau ở
các quốc gia. Với chương trình này, công ty đã tiết giảm thêm hàng năm là 800
triệu USD. P&G đã dự định dùng số tiền này để cắt giảm thêm giá bán và tăng
thêm chi phí tiếp thị trong một nỗ lực giành lại thị phần, và thông qua đó tiếp tục

Tại thời điểm này, có khoảng tám mươi nhân viên làm việc cho P&G. Trong
cuộc nội chiến Mỹ, công ty đã kí được hợp đồng cung cấp xà bông và nến
cho Quân đội. Ngoài những kinh nghiệm, lợi nhuận gia tăng trong thời gian
chiến tranh, các hợp đồng này cũng đã giới thiệu sản phẩm của mình đến
những người lính khắp nơi trên thế giới.
- Năm 1879, James Norris Gamble, con trai của James Gamble đã tổ chức
nghiên cứu và phát triển ra loại xà phòng trắng giá rẻ nhưng có chất lượng
cao và đã xuất khẩu sang những khu vực phía trung Tây Ban Nha. Sản phẩm
này có tên là Ivory và tên này là do ý tưởng của
Harley Procter - con trai của William Procter.
Ivory gắn liền với sự sạch sẽ, thuần khiết, nhẹ
nhàng và hương thơm còn lưu mãi. Năm 1882,
P&G sử dụng 11000$ để quảng cáo cho Ivory trên tờ tuần báo. Năm 1886,
Logo ban đ
ầu của P& G (1851)Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

7

Ivory bắt đầu được sản xuất tại nhà máy Ivorydale.
- Năm 1887, P&G bắt đầu chương trình phân phối lợi nhuận cho công nhân
dựa vào phần vốn góp của họ vào công ty, điều này gắn liền với sự sống còn
của họ với sự thành công của công ty. Chương trình này được đề xuất bởi
William Cooper Procter. Thông qua việc chia cho các công nhân cổ phần
trong công ty, ông nghĩ rằng họ sẽ ít có khả năng đi vào các cuộc đình công.
- Năm 1890, P&G tăng thêm vốn điều lệ để mở rộng công ty. William
Alexander Procter đã thành lập phòng nghiên cứu tại Ivorydale để nghiên cứu
và phát triển quá trình sản xuất xà phòng. Đó là một trong những phòng

- Năm 1946, P&G giới thiệu sản phẩm giặt tẩy Tide, một sản phẩm hơn hẳn
những sản phẩm hiện đang có mặt trên thị trường. Tide đã vượt lên dẫn đầu
thị trường vào năm 1950.
- Năm 1960, P&G mở văn phòng đầu tiên ở Frankfurt, Đức với 15 nhân công.
Trong năm này P&G cũng giới thiệu sản phẩm nước xả vải Downy, sản phẩm
làm mềm vải đầu tiên của P&G.
- Năm 1973, P&G bắt đầu sản xuất và kinh doanh các sản phẩm của mình tại
thị trường Nhật Bản.
- Năm 1988, P&G liên doanh với nhà sản xuất ở Trung Quốc, nơi có thị trường
tiêu thụ lớn nhất trên thế giới.
- Năm 1992, P&G nhận World Environment Center Gold Medal cho những
thành tựu về kinh doanh quốc tế mà công ty đạt được. Giới thiệu sản phẩm
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

9

Pantene Pro-V sau đó sản phẩm này trở thành loại dầu gọi phát triển nhanh
nhất thế giới. Năm 1993, doanh thu công ty là 30 tỷ USD và 50% trong số đó
là ở các nước khác trên thế giới.
- Procter & Gamble đã mua lại một số công ty khác qua đó đa dạng hóa dòng
sản phẩm và tăng lợi nhuận một cách đáng kể. Một số công ty trong những
công ty này là Folgers Coffee, Norwich Eaton Pharmaceuticals, Richardson-
Vicks, Noxell, Shulton's Old Spice, Max Factor, and the Iams.
- Vào năm 1994, P&G làm dư luận chú ý vì những thua lỗ xuất phát từ việc đi
vay sử dụng những công cụ lãi suất phái sinh. Công ty đã kiện tơ rớt ngân
hàng vì lừa đảo, điều này đã đặt ban lãnh đạo của công ty vào một vị trí
không bình thường khi phải đối chất trước tòa về việc họ đã tham gia những
giao dịch mà chính họ cũng không hiểu được.
- Năm 1995, P&G nhận được Medal of Technology, là huân chương cao quí
nhất của nước Mỹ dành cho những thành tựu đạt được, những phát minh, áp

P&G đặt người tiêu dùng vào trọng tâm của mọi quyết định và luôn nghiên cứu họ
cần gì và tìm cách thỏa mãn chính xác nhu cầu của họ.

 Văn hóa kinh doanh:
Trong 165 năm qua, P&G có những mục đích, giá trị, nguyên tắc trong việc
kinh doanh của họ. Cốt lõi của những mục đích, giá trị, nguyên tắc của P&G là
những sự liêm chính của cá nhân và tôn trọng quyền tự do cá nhân. Từ khi bắt đầu
kinh doanh P&G đã luôn tập trung vào vấn đề đạo đức nghề nghiệp và các nguyên
tắc quản trị cơ bản. Phát triển thương hiệu và con người tại P&G là nền tảng xây
dựng nên sự thành công của công ty.
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

11

P&G thực hiện việc cải thiện cuộc sống của người tiêu dùng trên toàn thế giới
bằng nhiều cách như hỗ trợ các nỗ lực nhân đạo, giáo dục và xã hội. Những việc
P&G làm, những sản phẩm P&G sản xuất đều mang lại cho con người những lợi
ích cao hơn trong cuộc sống.
Tính bền vững và hành động từ thiện là những nguyên tắc cơ bản cho sự sống
còn của P&G. Các chương trình từ thiện của P&G Live, Learn and Thrive, giúp đỡ
trẻ em khó khăn lứa tuổi từ 1-13 tuổi có được một sự khởi đầu khỏe mạnh, được
đến trường, được học các kĩ năng sống cần thiết để xây dựng một tương lai tươi
sáng hơn.
Những con người tại P&G những người tình nguyện dành thời gian và chuyên
môn của họ để tạo ra những thỏa mãn trên toàn thế giới. UK & Ireland Community
Matters chỉ là một trong những chương trình về sự phát triển bền vững của P&G về
phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
 Mục đích: thống nhất chiến lược phát triển, cung cấp những sản phẩm có giá
trị và chất lượng cao nhằm mục đích cải thiện cuộc sống của người tiêu dùng, góp
phần làm cho cuộc sống ngày càng có ý nghĩa hơn.

công của công ty cũng chính là những thành công của các cá nhân. Công ty khuyến
khích các cá nhân liên tục phát triển khả năng sáng tạo của mình.
Sự tập trung trong công việc là điều cần thiết để liên kết các mục tiêu và chiến
lược, nhằm tăng thêm giá trị cho doanh nghiệp. P&G thường quan tâm đến việc
chuẩn hóa, đơn giản hóa và sắp xếp công việc hiện tại để có sự đổi mới trong cách
làm việc.
P&G chú trọng phát triển sự hiểu biết vượt trội của người tiêu dùng để có thể
đưa ra những sản phẩm, dịch vụ tiên tiến, chất lượng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

13

ngày càng cao của người tiêu dùng.
Tạo dựng và phát triển mối quan hệ tốt với khách hàng và những nhà cung cấp,
liên kết với các trường đại học và các chính phủ để đạt được mục đích một cách
hiệu quả
3. Cơ cấu tổ chức, quy mô và hệ thống chi nhánh
 Trụ sở chính: Downtown Cincinnati,
Ohio
 Hiện tại, P&G có quy mô rộng lớn với
180 chi nhánh ở trên hơn 80 quốc gia
trên khắp các châu lục:
- Tại châu Mĩ, tiêu biểu có các chi nhánh:
Canada P&G Inc., Central America
P&G Interamericas Inc., Chile P&G
Inc., Colombia P&G S.A. , South Africa
Procter and Gamble SA (Pty) Ltd., P&G
do Brazil(Brazil), The Procter & Gamble Company(United States),
Venezuela Procter & Gamble, …
- Ở châu Âu, tiêu biểu các chi nhánh: P&G Rakona(Czech Republic), P&G

Group President
Global Prestige
Care
President
Global Skin Care
President
Global Hair Care
President
Global
Professional Care
President
Global Feminine
Care
President
Global Prestige
Products
President
Global Cosmetics
VP of the Board
P & G Family Health
President
Global Pet Health
President
Global
Pharmaceuticals
President
Global Oral Care
President
Global Baby &
Adult

Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

15

Lĩnh vực hoạt động
P&G sản xuất nhiều loại sản phẩm, hàng hoá khác nhau. Bắt đầu từ những
bánh xà phòng và cây nến, dòng sản phẩm của họ đã mở rộng đáng kể. Trải qua
hơn một thế kỷ, P&G là một trong những công ty đứng đầu về số lượng nhãn hiệu
sản phẩm sản xuất được. Những sản phẩm mang nhãn hiệu của P&G đến tay người
tiêu dùng trên tòan thế giới hơn 3 tỷ lần mỗi ngày. Để có được thành công ấy, P&G
đã cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao tạo ra giá trị lớn, ngày càng cải
thiện hơn cho cuộc sống của người tiêu dùng. Điều đó thể hiện rõ nhất ở doanh số
bán, lợi nhuận và giá trị sáng tạo mà công ty đã mang lại, cho phép tòan thể nhân
viên và các cổ đông hoạt động và phát triển mạnh mẽ hơn….
Đến nay P&G có hơn 300 nhãn hàng, được chia thành các mục sau:
- Personal & Beauty: Olay, Head &Shoulder, Pantene, Gillette…
- House & Home : Duracell, Tide, Downy, Pringles….
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

16

- Health & Wellness : Oral-B, Braun, Align…

- Baby & Family : Luvs, Pampers, Charmin….

doanh thu đạt 76 tỉ USD, lợi nhuận là 10.034 tỉ USD. 24 nhãn hiệu của P&G có
doanh thu bán hàng đạt trên 1 tỉ USD(Crest, Pampers, Olay, Pantene, Head &
Shoulders, Ivory, Tide, Charmin ….) và hơn 18 nhãn hiệu khác có doanh thu đạt từ
500 triệu USD đến 1 tỉ USD
Các sản phẩm của P&G được bán tại gần 200 quốc gia trên thế giới với
khoảng 6 tỉ người sử dụng. Công ty này cũng sản xuất sản phẩm của mình tại hơn
80 nước trên thế giới tập trung ở Mỹ , Canada, các nước Mỹ La tinh, châu Âu,
châu Phi, châu Úc, một số nước ở châu Á đặc biệt là Trung quốc
Năm 2008, P&G đứng vị trí thứ 5 trong cuộc bầu chọn “Global Most
Admired Company” và vị trí thứ 2 trong danh sách “Top Companies’ Leader” do
tạo chí Fortune tổ chức, vị trí thứ 8 cho giải thưởng “American’Most Admired”,
P&G cũng xếp ở vị trí thứ 4 trong danh sách World’ most Innovative Company.
Và được Hiệp hội các công ty sản xuất hàng tiêu dùng bầu chọn đứng vị trí số 1
trong suốt 23 năm…
Ngày 22/4/2009, P&G được trao tặng giải thưởng “Presidential Green
Chemistry Challenge Award for Designing Greener Chemicals” của cơ quan bảo
vệ môi trường nhân danh Nhà Trắng. Giải thưởng này được trao hằng năm cho
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

19

những cá nhân, công ty và các tổ chức công nghệ mà tạo ra những sản phẩm có
công thức hóa học không gây hại cho môi trường. P&G Chemicals cùng với Cook
Composites and Polymers (CCP) nhận được giải thưởng này nhờ vào công nghệ
Chempol® MPS được phát triển và thương mại hóa bởi các tổ chức đối tác. Theo
những đánh giá của chuyên gia, Chempol® MPS là 1 sáng tạo công nghệ với việc
sử dụng những hợp chất kết dính lấy từ dicarboxylic acids.
II. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG:
P&G là một trong những công ty quốc tế lâu đời.
Là người khổng lồ toàn cầu trong lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, chủ yếu là

trường cụ thể.
- Giai đoạn 3: Sử dụng chiến lược xuyên quốc gia nhằm tận dụng tối đa những
ưu điểm của 3 loại chiến lược kia không những chuyển giao năng lực đa chiều hiệu
quả (chiến lược quốc tế), đề cao trách nhiệm của các chi nhánh (chiến lược đa nội
địa) mà còn tăng tính sinh lợi nhờ giảm tối đa chi phí và tăng lợi ích theo quy mô
(chiến lược toàn cầu).
III. NỘI DUNG TRẢ LỜI CÂU HỎI:
1. Chiến lược đầu tiên P&G những năm 1980.
2. Nguyên nhân CL kém hiệu quả giai đoạn 1990.
3. Phân tích chiến lược giúp P&G đạt được thành quả hiện tại.
1. Chiến lược đầu tiên P&G những năm 1980:
 Chiến lược kinh doanh quốc tế:
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

21

Năm 1915: Nhà máy nước ngoài đầu tiên ra đời tại Canada.
Năm 1930: Thiết lập công ty con ở nước ngoài.
Năm 1950 &1960: Mua lại công ty của đối thủ cạnh tranh và thương hiệu
của chúng như Anh và Nhật Bản. P&G tự xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh của
mình từ những nền móng ban đầu.
 Chiến lược xuyên quốc gia:
Công ty phát triển những sản phẩm ở Cincinati, sau đó dựa vào các công ty
con bán tự quản ở nước ngoài sản xuất, sau đó phân phối đến các quốc gia.
Các công ty con sử dụng phương tiện sản xuất riêng để thiết kế, đóng gói,
đặt tên nhãn hiệu và thông điệp marketing phù hợp theo địa phương.
2. Nguyên nhân CL kém hiệu quả giai đoạn 1990
 Hiệp định thương mại và ưu đãi về thuế quan:
Những năm 1990, thị trường tại các quốc gia phân cách bởi các hàng rào
thương mại.

3.2. Lợi ích chiến lược:
Từ số tiền tiết kiệm hàng năm khoảng 800tr USD, P&G gia tăng ngân sách
cho hoạt động marketing trong nổ lực chiếm thị phần. Thông qua lợi ích kinh tế từ
quy mô, công ty làm giảm chi phí thấp hơn.
3.3. Rủi ro đi kèm chiến lược:
 Khó khăn trong vấn đề tổ chức.
Tình huống 3: Sự phát triển chiến lược ở Procter & Gamble – Nhóm 3

23

- Tiết kiệm chi phí để đầu tư cho việc giảm giá và marketing quá nhiều có thể
dẫn đến thiếu vốn đầu tư máy móc và chất lượng sản phẩm, đào tạo nhân viên.
- Thiếu tính liên kết giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh riêng lẻ.
- Đòi hỏi sự thống nhất giữa trụ sở chính của công ty với các công ty con.
 Rủi ro tiềm ẩn trong chiến lược xuyên quốc gia:
Công ty phải đối mặt với áp lực giảm chi phí cao và áp lực đáp ứng yêu cầu
địa phương cao bằng cách tạo lợi thế khác biệt. Điều này gây mâu thuẫn trong
công ty. Đáp ứng yêu cầu địa phương sẽ nâng phí, đồng thời yêu cầu giảm phí sẽ
khó để đạt được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status