QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI DỊCH CHƯƠNG 1
TOÀN CẦU HÓA
Giáo viên: Ts. Lê Tuấn Lộc
Nhóm thực hiện:
Chung Thủy Hảo K104071180
Võ Thị Ngọc Hậu K104071182
Tô Kim Hồng K104071187
Trần Ngọc Sông Ngân K104071211
Lê Hoài Phương K104071232
Lê Thị Bảo Yến K104071276
Tp.HCM, ngày 16 tháng 5 năm 2012
Chương 1: Toàn cầu hóa
SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN CẦU CỦA WAL-MART
Được Sam Walton thành lập năm 1962 ở Arkansas, Wal-Mart đã phát triển
nhanh chóng trở thành công ty bán lẻ lớn nhất thế giới với doanh thu năm 2002 là 218
tỷ đôla, có 1.3 tỷ hội viên và 4500 cửa hàng. Mãi cho đến năm 1991 thì hoạt động của
Wal-Mart mới bị hạn chế bởi Chính phủ Mỹ, nơi nó đã tạo được lợi thế cạnh tranh dựa
trên việc liên kết đẩy mạnh hiệu quả bán hàng và chính sách quan hệ con người tiến bộ.
Bên cạnh đó, Wal-Mart còn dẫn đầu trong việc sử dụng hệ thống thông tin để theo dõi
doanh số bán hàng và kiểm kê hàng hóa. Nó đã phát triển một trong những hệ thống
phân phối hiệu quả nhất trên thế giới và là một trong những công ty đầu tiên xúc tiến
mở rộng quyền sở hữu vốn trong những người làm thuê. Việc này có thể làm tăng năng
suất, cho phép Wal-Mart cắt giảm chi phí hoạt động, và đạt được ý nguyện của người
tiêu dùng trong việc mua hàng giá thấp, một chiến lược đã giúp công ty đạt được thị
phần bán lẻ đầu tiên mà ngày nay nó đang chiếm ưu thế. Và sau đó là thị trường thực
phẩm mà công ty chiếm thị phần nhờ các siêu thị.
Tuy nhiên, mãi đến năm 1990, Wal-Mart mới nhận ra rằng cơ hội phát triển của
nó ở Mỹ đang ngày càng bị giới hạn. Năm 1995, công ty hoạt động ở cả 50 bang. Các
nhà quản lý tính toán rằng, vào đầu những năm 2000, cơ hội phát triển nội địa của Wal-
Mart sẽ bị ghìm lại vì sự bão hòa của thị trường. Vì vậy, công ty đã quyết định mở rộng
600 cửa hàng và lợi nhuận trên 10 tỷ đôla.
Kinh nghiệm ở Mexico chứng tỏ rằng Wal-Mart có thể cạnh tranh bên ngoài
nước Mỹ. Sau đó, nó đã mở rộng sang 8 nước khác, Canada, Anh, Đức, Nhật, Hàn
Quốc, Wal-Mart đã xâm nhập bằng cách mua lại các công ty bán lẻ tại đó rồi chuyển
giao hệ thống thông tin, hậu cần và chuyên môn quản lý. Ở Brazil, Argentina và Trung
Quốc, Wal-Mart đã thành lập những cửa hàng của chính nó. Và kết quả là đến năm
2002, công ty có hơn 1200 cửa hàng bên ngoài Mỹ, 303000 nhân viên và lợi nhuận
quốc tế hơn 35 tỷ đôla.
3
Chương 1: Toàn cầu hóa
Ban đầu, sự mở rộng ra quốc tế của Wal-Mart đã được trợ giúp bởi 3 yếu tố.
Thứ nhất, vì hàng rào của việc đầu tư xuyên biên giới đã giảm trong những năm 1990,
nên khả thi hơn cho Wal-Mart xâm nhập ra nước ngoài trên phạm vi lớn. Điển hình
như sự thâm nhập năm 1996 của Wal-Mart vào Trung Quốc, nơi mà bây giờ Wal-Mart
có 26 cửa hàng, sẽ không thể sớm hơn 1 thập kỷ. Thứ hai, bằng việc mở rộng ra quốc
tế, Wal-Mart đã thu hoạch được quy mô kinh tế lớn từ sức mua toàn cầu. Nhiều công ty
như GE (sản phẩm điện, điện tử), Unilever (thực phẩm) và P&G (sản phẩm chăm sóc
cá nhân) là những nhà cung cấp lớn cho Wal-Mart đã có sự hoạt động toàn cầu lâu đời.
Nhờ xây dựng phạm vi hoạt động quốc tế, Wal-Mart đã sử dụng quy mô được nâng cao
của nó để yêu cầu sự giảm giá hơn nữa của các nhà cung cấp địa phương, tăng khả
năng bán giá thấp hơn đến khách hàng, đạt được thị phần và sau cùng là kiếm được
nguồn lợi nhuận khổng lồ hơn. Thứ ba, sự tiến bộ của hệ thống thông tin, đặc biệt là sự
lan rộng của phần mềm Internet cơ bản, đã cho phép Wal-Mart sử dụng để xem xét,
điều khiển hoạt động của nó trên toàn cầu, theo dõi doanh thu các cửa hàng riêng biệt,
hàng tồn kho, giá cả và dữ liệu lợi nhuận hằng ngày.
Wal-Mart đã nhận ra rằng, nếu nó không mở rộng ra thế giới thì các nhà bản lẻ
toàn cầu sẽ đánh bại nó. Sự thật là Wal-Mart đã đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trên
toàn cầu từ Carrefour của Pháp, Ahold của Hà Lan và Tesco từ Anh. Carrefour, nhà bán
lẻ lớn thứ hai trên toàn thế giới, có lẽ là công ty mang tính toàn cầu nhiều nhất. Là nhà
đi đầu, bây giờ nó đã hoạt động ở 26 quốc gia với hơn 50% doanh thu bán hàng là từ
Thụy Điển, trình bày bằng tiếng Anh của nhóm nhạc Đan Mạch - đã ký hợp đồng với
công ty nhạc Pháp để quảng cáo bản thu ở Mỹ. Lái xe có thể uống một cốc cà phê từ
quán của một người nhập cư Hàn Quốc, và gọi một chiếc bánh không béo phủ đầy
sôcôla. Hạt cà phê đến từ Brazil và sôcôla từ Peru, trong khi bánh ngọt làm ở địa
5
Chương 1: Toàn cầu hóa
phương và sử dụng công thức Ý. Sau khi bài hát kết thúc, phát thanh viên nói rằng một
phong trào chống toàn cầu hóa đang diễn ra ở cuộc họp thượng đỉnh của bang Davos,
Thụy Sỹ, đã dẫn đến bạo lực. Một người biểu tình đã bị giết. Sau đó, chuyển sang mục
tiếp theo, câu chuyện về sự xuống dốc của kinh tế Mỹ đã làm chỉ số chứng khoán
Nikkei, Nhật Bản xuống mức thấp nhất trong 17 năm qua.
Đây là thế giới mà chúng ta đang sống. Nơi mà làn sóng của hàng hóa, dịch vụ
và đầu tư quốc tế đã mở rộng nhanh hơn sản lượng thế giới hằng năm trong suốt 2 thập
kỷ cuối của thế kỷ 20. Đây là thế giới mà hơn 1.2 tỷ đôla trong ngoại thương được tạo
ra hằng ngày. Là thế giới mà Tổ chức thương mại thế giới tập trung các nhà lãnh đạo từ
các nền kinh tế mạnh nhất trên thế giới để kêu gọi giảm bớt hàng rào thương mại và
đầu tư. Là thế giới mà biểu tượng văn hóa và sự phổ biến đang tăng trên toàn cầu: từ
của Coca-cola đến Sony Playstation, điện thoại di động Nokia, MTV và phim Disney.
Là thế giới mà sản phẩm được sản xuất từ những nguyên liệu đến từ khắp nơi trên thế
giới. Là thế giới mà khủng hoảng kinh tế ở châu Á có thể dẫn đến sự thụt lùi sản xuất ở
Mỹ và sự xuống dốc ở Mỹ đã đưa chỉ số của Nekkei, Nhật Bản năm 2002 xuống mức
thấp chưa từng thấy từ năm 1985. Là thế giới mà một số người đã tạo ra phong trào
chống toàn cầu hóa, thứ họ cho là nguyên nhân của thất nghiệp ở những nước phát
triển, sự xuống cấp môi trường và sự Mỹ hóa trong văn hóa. Và những phong trào này
đã dần trở nên bạo lực.
Dù sao thì đối với kinh doanh đây là khoảng thời gian tốt. Toàn cầu hóa đã làm
tăng cơ hội mở rộng lợi nhuận bằng việc bán hàng trên khắp thế giới, và giảm chi phí
bằng việc sản xuất ở những nước có nguyên liệu rẻ hơn. Từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội cuối những năm 1980, sự dao động chính sách ở các quốc gia đã đưa đến một thị
trường tự do hơn. Sự can thiệp và các hàng rào quản trị kinh doanh ở nước ngoài đã
xét một cách chặt chẽ tiến trình toàn cầu hóa. Chúng ta cần hiểu cái gì đã dẫn dắt tiến
7
Chương 1: Toàn cầu hóa
trình này, đánh giá nó thay đổi bộ mặt của kinh doanh quốc tế như thế nào, và tốt hơn
nên nắm được tại sao toàn cầu hóa đã và đang trở thành trung tâm của những cuộc bàn
cãi, bằng chứng xác thực và sự đấu tranh vượt qua hướng dẫn tương lai của cuộc cách
mạng của chúng ta.
TOÀN CẦU HÓA LÀ GÌ?
Toàn cầu hóa đề cập đến sự thay đổi của nền kinh tế theo hướng ngày càng
thống nhất và phụ thuộc nhau hơn. Toàn cầu hóa có một vài khía cạnh khác nhau bao
gồm toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa sản xuất.
TOÀN CẦU HÓA THỊ TRƯỜNG
Toàn cầu hóa thị trường đề cập đến sự sáp nhập các thị trường quốc gia riêng
biệt thành một thị trường toàn cầu lớn. Việc giảm hàng rào thương mại đã khiến cho
việc buôn bán quốc tế dễ dàng hơn. Có nhận xét rằng, thỉnh thoảng thị hiếu và sự ưa
thích của khách hàng ở các quốc gia khác nhau bắt đầu hội tụ tại một số tiêu chuẩn
toàn cầu, bằng cách ấy tạo ra thị trường toàn cầu. Các sản phẩm tiêu dùng như thẻ
Citicorp, nước Coca-cola, hambuger là những ví dụ điển hình. Các hãng như Citicorp,
Coca-cola, McDonald và Sony có nhiều lợi thế trong xu hướng này. Bằng việc xây
dựng các tiêu chuẩn sản phẩm trên toàn cầu, đã giúp họ tạo ra thị trường toàn cầu.
Một công ty không nhất thiết phải có quy mô như những công ty đa quốc gia
khổng lồ thì mới có thể thu lợi từ sự toàn cầu hóa thị trường. Ví dụ như ở Mỹ, năm
2001, gần 89% các hãng xuất khẩu là chủ thể kinh doanh nhỏ và thuê ít hơn 100 công
nhân. Thị phần của họ trong tổng kim ngạch xuất khẩu Mỹ đã tăng đều đặn trong suốt
thập kỷ qua để đạt 21% vào năm 2001. Các hãng thuê ít hơn 500 công nhân được tính
toán là chiếm 97% ở Mỹ và gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Điển hình là Hytech,
một nhà sản xuất tấm hấp thụ năng lượng mặt trời ở NewYork, 40% trong tổng doanh
thu 3 triệu đôla hằng năm đến từ xuất khẩu sang 5 nước; hay B&S Aircraft Alloys, một
công ty khác ở NewYork, đã có 40% của doanh thu 8 triệu đôla hằng năm là từ xuất
8
bán lẻ như Wal-Mart, Carrefour và Tesco đang bắt đầu một sự cạnh tranh quốc tế. Các
hãng sẽ theo nhau trên khắp thế giới, hành trang sẽ là lợi thế cạnh tranh của họ ở quốc
gia khác – bao gồm sản phẩm, chiến lược thực hiện, chiến lược tiếp thị và thương hiệu
– tạo một số sự đồng nhất thông qua thị trường. Như vậy, sự đồng bộ lớn hơn thay thế
sự đa dạng. Vì sự phát triển đó, trong khi các ngành công nghiệp đang tăng dần, không
còn ý nghĩa nữa khi nói về thị trường Đức, thị trường Mỹ, thị trường Brazil hay thị
trường Nhật; với nhiều hãng, chỉ có thị trường quốc tế.
TOÀN CẦU HÓA SẢN XUẤT
Toàn cầu hóa sản xuất đề cập đến nguồn hàng hóa và dịch vụ từ khắp thế giới để
tận dụng lợi thế khác biệt giữa các quốc gia về chi phí và chất lượng của các yếu tố sản
xuất (như lao động, năng lượng, đất và vốn). Thực hiện điều này, các công ty hy vọng
giảm cấu trúc toàn bộ chi phí và cải thiện chất lượng chức năng của sản phẩm họ bán,
từ đó cho phép họ cạnh tranh hiệu quả. Hãy xem xét máy bay chở khách Boeing 777,
tám nhà cung cấp Nhật đã sản xuất những phần cho than máy bay, cửa, cánh; một nhà
cung cấp ở Singapore thì sản xuất bánh xe răng cưa tiếp đất; ba nhà sản xuất ở Ý sản
xuất vành cánh,… Lý do căn bản mà Boeing thu gom sản xuất từ nhiều nhà cung cấp
nước ngoài là vì đây là những nhà cung cấp tốt nhất trên thế giới nếu xét về từng lĩnh
vực chuyên môn. Mạng lưới quốc tế của các nhà cung cấp để sản xuất ra sản phẩm
cuối cùng tốt hơn, làm tăng cơ hội chiếm được thị phần đặt hàng lớn hơn các đối thủ
cạnh tranh khác. Boeing còn gom mua những sự sản xuất từ nước ngoài để tăng cơ hội
giành được những đơn đặt hàng quan trọng từ nhũng chiếc máy bay được sản xuất cơ
bản ở những nước đó.
Việc phổ biến rộng rãi các hoạt động sản xuất là không giới hạn đối với những
gã khổng lồ như Boeing. Các hãng nhỏ hơn nhiều cũng đang dần hành động. Swan
Optical là một nhà sản xuất và phân phối kính mắt của Mỹ. Với doanh thu hằng năm từ
20-30 triệu đôla, Swan là một gã khổng lồ hiếm có, Swan sản xuất mắt kính ở các nhà
máy chi phí thấp ở Hồng Kông và Trung Quốc, các nhà máy là đồng sở hữu cùng một
10
Chương 1: Toàn cầu hóa
công ty Hồng Kông. Swan cũng có chân trong các ngôi nhà thiết kế ở Nhật, Pháp và Ý.
chức này được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện giữa các nước thành viên và chức
năng của nó được cam kết trong các thỏa thuận quốc tế.
Tổ chức thương mại thế giới (Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch trước
đó) chịu trách nhiệm lớn nhất trong các hoạt động kinh doanh, do đó tổ chức này có
phạm vi hoạt động và tầm ảnh hưởng khá lớn. WTO chịu trách nhiệm tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho việc thiết lập các hợp đồng thương mại đa quốc gia giữa các thành
viên. Qua lịch sử của nó và Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch trước đó, WTO
đã xúc tiến việc cắt giảm hàng rào thuế quan thương mại và đầu tư. Do đó, nó là trợ thủ
đắc lực của các thành viên muốn tạo ra một hệ thống kinh doanh toàn cầu hơn nữa và
không bị trở ngại bởi hàng rào thương mại và đầu tư. Nếu không có một tổ chức như
WTO, sự toàn cầu hóa thị trường và sản xuất không thể tiếp tục vươn xa như thế. Tuy
nhiên như sẽ thấy ở chương này và trong chương 5, nếu chúng ta nhìn theo hướng khác
thì WTO đang là nguyên nhân mất dần chủ quyền quốc gia của các nước thành viên.
Qũy tiền tệ thế giới và Ngân hàng thế giới đều được thành lập năm 1944 bởi 44
nước ở Bretton, New Hampshire. Chức năng của Qũy tiền tệ thế giới là sắp xếp lại hệ
thống tiền tệ thế giới và Ngân hàng thế giới là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Trong
vòng 60 năm kể từ khi thành lập, cả 2 tổ chức đã giữ một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế toàn cầu. Ngân hàng thế giới thì ít gây tranh cãi hơn tổ chức anh em của mình.
Nó tập trung làm giảm tỷ lệ nợ của chính phủ các nước nghèo, những nước mong
muốn được đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng (như xây dựng đập hoặc hệ thống giao
thông).
Qũy tiền tệ thế giới thường được biết đến như người cho vay cuối cùng của
những nền kinh tế trong tình trạng hỗn độn và tiền tệ đang mất giá so với các nước
khác.Ví dụ như, trong suốt thập kỷ qua, Qũy tiền tệ thế giới đã cho các chính phủ đang
12
Chương 1: Toàn cầu hóa
gặp khó khăn mượn tiền bao gồm Argentina, Indonesia, Mexico, Nga, Hàn Quốc, Thái
Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Vay nợ của Qũy tiền tệ thế giới đến cùng với một loạt điều kiện
đính kèm; khi đến hạn, Qũy tiền tệ thế giới yêu cầu quốc gia phải chấp nhận các chính
sách kinh tế riêng biệt nhằm mục đích đưa nền kinh tế trì trệ của họ trở nên bền vững
biệt là sự phát triển mạnh mẽ của phương tiện liên lạc, quá trình xử lý thông tin và
phương tiện chuyên trở trong những năm gần đây.
SỰ DẦN THÁO GỠ CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ
Trong những thập niên 20 và 30 của thế kỉ XX, có rất nhiều quốc gia dân tộc
trên thế giới xây dựng các rào cản khắc khe đối với thương mại quốc tế và đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Thương mại quốc tế được xem là việc một công ty đầu tư nguồn lực
vào những hoạt động kinh tế vào các quốc gia khác. Rất nhiều rào cản thương mại
quốc tếchủ yếu làviệc đánh thuế cao vào hoạt động nhập khẩu các hàng hóa sản xuất
công nghiệp. Mục đích chính của việc đánh thuế đó là bảo vệ hàng hóa trong nước
trước sự cạnh tranh của các mặt hàng nước ngoài. Tuy nhiên, điều này đã hình thành
chính sách “bần cùng hóa bạn hàng” giữa các quốc gia khi các nước đều gia tăng rào
cản của mình đối với nước bạn. Kết quả là cầu trên thế giới giảm sút và hình thành
cuộc Đại khủng hoảng vào những năm 30 của thế kỉ XX.
Rút kinh nghiệm từ quá khứ, sau Thế chiến thứ II, những nước có nền công
nghiệp tiên tiến ở phương Tây đã tự thỏa thuận là sẽ tháo bỏ những rào cản về tự do
lưu thông hàng hóa, dịch vụ và tiền vốn giữa các nước. Mục tiêu này đã được nêu rõ
trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Dưới điều khoản của
GATT, tám vòng đàm phán của các nước thành viên (bây giờ là 146 nước) đã diễn ra
nhằm tháo gỡ các rào cản tự do thương mại và dịch vụ. Gần đây nhất là Vòng đàm
phán Uruguay, kết thúc vào tháng 12 năm 1993. Vòng đàm phán Uruguay đã đẩy mạnh
việc tháo bỏ rào cản, mở rộng GATT tới các dịch vụ cũng như các mặt hàng sản xuất
công nghiệp, nâng cao bảo vệ quyền sáng chế, thương hiệu và bản quyền; thành lập Tổ
14
Chương 1: Toàn cầu hóa
chức Thương mại quốc tế (WTO) để kiểm soát hệ thống trao đổi buôn bán quốc tế.
Bảng 1.1 tóm tắt những ảnh hưởng của hiệp định GATT đối với các mức thuế trung
bình cho các hàng hóa sản xuất công nghiệp. Như chúng ta có thể thấy, mức thuế trung
bình đã giảm một cách rõ rệt từ 1950 và hiện tại đang ở con số 39%.
Vào cuối năm 2001, WTO khởi xướng một vòng đàm phán mới nhằm mục đích
tự do hóa thương mại thế giới và cơ cấu đầu tư. Lần đàm phán này diễn ra tại Doha,
từ hơn 160 quốc gia trên toàn thế giới, tăng 10 lần so với 181 hiệp ước năm 1980.
Những xu hướng trên đã tạo điều kiện cho việc toàn cầu hóa th trường cũng như
toàn cầu hóa sản xuất. Việc gỡ bỏ các rào cản thương mại quốc tế đã giúp thị trường
của các công ty rộng ra toàn cầu chứ không giới hạn ở một quốc gia nào. Đồng thời các
công ty có thể đặt cơ sở sản xuất của mình ở địa điểm tối ưu để hoạt động. Cho nên,
một công ty có thể thiết kế một sản phẩm ở quốc gia này, sản xuất linh kiện ở hai quốc
gia khác, lắp rắp linh kiện lại ở một quốc gia khác, và sau đó xuất khẩu sản phẩm cuối
cùng ra toàn thế giới.
Việc gỡ bỏ các rào cản thương mại cũng tạo điều kiện cho việc toàn cầu hóa sản
xuất. Theo thông tin từ WTO, từ năm 1950 số lượng sản phẩm được đem ra trao đổi
tăng nhanh hơn số lượng sản phẩm sản xuất. Từ năm 1950 đến 2002, thương mại quốc
tế đã tăng gấp hơn 20 lần, gấp 3 lần lượng sản phẩm được sản xuất ra tăng 7 lần. Như
được thể hiện trong biểu đồ 1.1, sự tăng trưởng của thương mại quốc tế có bước nhảy
vọt từ năm 1990.
Tuy nhiên, vào năm 2001 xu hướng dài hạn này bỗng có sự tụt dốc. Lượng sản
phẩm trao đổi trên toàn quốc giảm 1% vào năm 2001, lần sụt giảm đầu tiên sau hai thế
kỉ, trong khi lượng sản phẩm sản xuất ra tăng mờ nhạt 1%. Mặc dù lượng sản phẩm
được đem trao đổi tăng trở lại 2.5% vào năm 2002 nhưng vẫn còn kém xa so với tốc độ
trung bình 6.7% đã đạt được trong những năm 1990. Kinh tế thế giới bị đình trệ vào
năm 2001 và 2002 cùng với thiệt hại kinh tế từ cuộc khủng bố nhằm vào Hoa Kỳ ngày
11 tháng 9 năm 2001 là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm trong thương mại
quốc tế. If his… , sự sụt giảm này chỉ là diễn ra rất ngắn, dù cho ảnh hưởng của cuộc
chiến Irac và Hội chứng Hô hấp Cấp tính nặng (bệnh dịch SARS) cũng được cho là đã
dẫn đến việc tăng trưởng chậm chạp của thương mại và sản lượng trong suốt năm
2003.
16
Chương 1: Toàn cầu hóa
Mặc dù có sự giảm sút gần đây, số liệu được thể hiện trong biểu đồ 1.1 đã làm
rõ hai vấn đề. Đầu tiên, ngày càng nhiều công ty theo gót của Boeing trong việc sản
xuất ra chiếc 777: phân chia việc sản xuất các bộ phận đến những địa điểm khác nhau
Mặc dù việc thi hành lại các chính sách hạn chế thương mại của những năm 20, 30 thế
kỉ XIX là điều khó có thể xảy ra, nhưng cũng không chắc rằng liệu các tổ chức chính
trịtrong thế giới công nghiệp hóa này có thích giảm tải các rào cản thương mại hay
không. Nếu việc giảm tải rào cản thương mại kết thúc, ít nhất cho đến bây giờ, nó sẽ là
cái phanh kìm hãm việc toàn cầu hóa cả thị trường lẫn sản xuất
VAI TRÒ CỦA NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA CÔNG NGHỆ
Việc giảm bớt các rào cản thương mại có thể dẫn đến việc toàn cầu hóa thị
trường và sản xuất chỉ là lý thuyết nhưng những thay đổi về kĩ thuật đã khiến nó trở sự
thật hiển nhiên. Từ kết thúc Thế chiến thứ 2, thế giới đã có đạt được những bước phát
triển nhảy vọt trong liên lạc, xử lý thông tin và chuyển giao công nghệ, bao gồm cả sự
bùng nổ của Internet và Hệ thống mạng lưới toàn cầu (World Wide Web). Theo như lời
của Renato Ruggiero, Tổng giám đốc của WTO,
Hệ thống liên lạc viễn thông đang tạo ra một sân khấu toàn cầu. Giao thông vận
tải đang tạo ra một ngôi làng toàn cầu. Từ Buenos Aires đến Bostom đến Beijing,
người dân đang xem MTV, họ mặc quần jean hiệu Levis, và họ nghe nhạc bằng máy
Walkmans của Sony trên đường đến công sở.
MẠCH VI XỬ LÝ VÀ VIỄN THÔNG
Có lẽ sự đổi mới quan trọng bậc nhất là sự phát triển của các mạch vi xử lý, nó
đã dẫn đến sự phát triển nổi trội của những hệ thống vi tính năng suất cao, chi phí thấp,
tăng nhanh lượng thông tin được xử lý bởi cá nhân và các doanh nghiệp. Các mạch vi
18
Chương 1: Toàn cầu hóa
xử lý cũng đã tăng cường sự viễn thông toàn cầu. Trong 30 năm vừa qua, viễn thông
toàn cầu đã được cải tiến với những sự phát triển của vệ tinh, cáp quang, công nghệ
không dây và bây giờ là Internet và hệ thống mạng lưới toàn cầu (World Wide Web).
Những kỹ thuật trên phụ thuộc rất nhiều vào các mạch vi xử lý để mã hóa, truyền phát,
và đọc lượng thồng tin khổng lồ được truyền qua những những đường dây điện cao áp.
Chi phí để sản xuất ra các mạch vi xử lý ngày càng giảm trong khi hiệu suất lại càng
tăng (hiện tượng này được gọi là Định luật Moore, cho rằng hiệu suất của các mạch vi
xử lý sẽ tăng gấp đôi trong khi chi phí sản xuất giảm một nữa cứ mỗi 18 tháng). Và vì
không trong 1994 và đến 2004 đã có thể tăng lên 6.8 nghìn tỷ USD, trong đó Hoa Kỳ
chiến 47% trong số tổng các giao dịch (hình 1.2). Nhiều giao dịch thông qua các trang
Web không phải là giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng (còn gọi là e-
commerce), mà là giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (hay là e-business).
Tiềm năng lớn nhất hiện nay của các trang Web có lẽ là ở mảng doanh nghiệp và doanh
nghiệp.
Phần trăm thương mại giữa các nước cũng tăng theo sự gia tăng của số lượng
giao dịch thông qua các trang web. Quan sát trên toàn thế giới, các trang Web ngày
21
Hình 1.2
Một thế giới đang thu nhỏ
Nguồn: P.Dickeb, Global Shift
(New York: Guiford Press, 1992),
p.104.
Chương 1: Toàn cầu hóa
càng có vai trò san bằng hóa mọi việc. Nó xóa bỏ những hạn chế do vị trí, phạm vi và
múi giờ mang lại. Các trang Web cho phép các doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, hiện
diện ở mọi nơi với chi phí thấp nhất từ trước đến nay. Một thí dụ là công ty nhỏ khởi
nghiệp tại California, Cardiac Science, sản xuất máy khử rung và máy đo nhịp tim.
Vào 1996, Cardiac Science mong muốn gia nhập vào thị trường toàn cầu nhưng không
biết cách để thành lập chi nhánh quốc tế. Đến khoảng 1998, công ty đã bán sản phẩm
cho khách hàng ở 46 nướ và doanh thu quốc tê góp 1.02 triệu USD vào tổng doanh thu
1.2 triệu USD của công ty. Đến 2002, tổng doanh thu đã tăng lên nhờ vào dòng sản
phẩm mới, trong đó có 17.5 triệu USD là doanh thu bán hàng cho các khách hàng ở 50
quốc gia. Mặc dù một vài vụ làm ăn thực hiện thông qua các kênh xuất khẩu truyền
thống, một phần lớn là nhờ những lần ghé thăm đến website của công ty, mà theo CEO
của công ty là “thu hút những thương quốc tế như là ong tìm mật”. Tương tự, 10 năm
trước không ai nghĩ rằng một công ty nhỏ của nước Anh có trụ sở ở Stafford lại có thể
xây dựng một thị trường toàn cầu cho mình bằng cách khai thác tối đa Internet, nhưng
đó chính là chuyện mà Bridgewater Pottery đã làm. Bridgewatter từ lâu bán các sản
phần nào phản ánh số lượng thương mại xuyên quốc gia đang tăng cao cũng như sự
chuyển đổi dần sang loại hình chuyên chở này. Một trong những lợi ích mà việc
containerization mang lại là việc cắt giảm rất nhiều chi phí vận chuyển, khiến việc
chuyển chở hàng hóa ngày càng tiết kiệm hơn và vì thế đẩy mạnh quá trình toàn cầu
hóa thị trường và sản xuất. Giữa 1920 và 1990, trung bình chi phí mỗi tấn hàng xuất
nhập khẩu ở Mỹ thông qua cac chuyến tàu chở hàng và ở các cảng biển đã tụt từ 95
đôla xuống còn 29 đô la (tính theo giá đôla 1990). Chi phí chuyên chở mỗi tấn hàng
trên mỗi dặm đường ray xe lửa của Hoa Kỳ giảm từ 3.04 xu năm 1985 còn 2.3 xu năm
2002, và phần lớn lợi ích này là do việc containfer mang lại. Giờ đây ngày còn có
nhiều hàng hóa được vận chuyển bằng đường không. Giữa 1955 và 1999, doanh thu
trung bình của việc vận chuyển băng đường không giảm hơn 80%. Phản ánh việc giảm
giá trên, khoảng 2002 việc chuyển chở bằng đường không chiếm 28% giá trị hàng hóa
vận chuyển của Mỹ, tăng từ 7% ở năm 1965.
23
Chương 1: Toàn cầu hóa
QUẢN LÝ TẬP TRUNG
Homer Simpson - một thương hiệu toàn cầu.
Nếu 1 cuộc thăm dò được tổ chức để xác định gia đình “rắc rối” được yêu
thích trên thế giới, gia đình Simpson có lẽ sẽ giành chiến thắng trong tầm tay. Công ty
The Fox Broadcasting sản xuất những thước phim về cuộc sống và những tình huống
của ông Homer và cả gia tộc, đó là bộ phim hoạt hình được đồ họa dài nhất trong lịch
sử các chương trình tivi. Khoảng 60 triệu người ở hơn 70 đất nước mở tivi hàng tuần
để xem sự khôi hài của gia đình Simpson. Bộ phim phổ biến ở khắp nơi, với lượng
khán giả chia đều 50/50 cả người lớn và trẻ em, tỷ lệ khán giả ngày càng tăng khắp các
nước từ Tây Ban Nha cho tới Nhật Bản. Tạp chí Time gọi “Gia đình Simpson” là
chương trình tivi hay nhất thế kỉ 20. Trưởng bộ môn Triết Đại học Manitoba viết một
bài tuyên bố là “Gia đình Simpson” là chương trình truyền hình sâu sắc nhất.
Khi mà sức hấp dẫn của chương trình vẫn còn thì không còn nghi ngờ nào về
việc ông Homer và gia đình đang trở thành một thương hiệu toàn cầu đầy quyền lực.
Fox và công ty mẹ News Corporation không chỉ có lợi từ bản quyền khổng lồ của
công ty tạo ra và sau đó là quản lí hệ thống phân phối sản phẩm toàn cầu, tiếp tục tạo
điều kiện thuận lợi cho việc toàn cầu hóa sản xuất.
Một mạng lưới thông tin liên lạc toàn cầu là cần thiết cho nhiều doanh
nghiệp quốc tế. Ví dụ như công ty máy tính Dell sử dụng internet để phối hợp và điều
khiển hệ thống phân phối sản phẩm toàn cầu, chỉ có ba ngày để hàng tồn kho tại các
địa điểm lắp ráp. Hệ thống internet của Dell dựa trên việc ghi lại các đơn hàng thiết bị
máy tính, cũng như việc chúng được gửi bởi khách hàng thông qua trang web của công
ty, sau đó ngay lập tức truyền lại kết quả đặt hàng tới các nhà cung cấp trên khắp thế
giới - là những người có một cái nhìn xác thực dòng lệnh đặt
25