Tiểu luận
Vai trò luật sư trong việc bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Mục lục
Mục lục 1
I. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 3
II. Vai trò luật sư trong việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 3
1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại 3
2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại 4
3. Việc xác định Toà án có thẩm quyền để thực hiện việc khởi kiện 6
4. Về điều kiện thực hiện quyền khởi kiện bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng 7
5. Về vấn đề chứng minh và xác định luật áp dụng 8
a) Về vấn đề chứng minh 8
b) Về việc xác định luật áp dụng xác định thiệt hại 8
III. Kết luận 11
IV. Tài liệu tham khảo: 12
I. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thiệt hại ngoài hợp đồng là những thiệt hại gây ra không phải do vi phạm nghĩa
vụ có thoả thuận trong hợp đồng mà là do vi phạm pháp luật, do tội phạm, như do xâm
phạm sức khoẻ, tính mạng, do gây tai nạn gây ra, … Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là thực hiện trách nhiệm dân sự. Bồi hoàn thiệt hại ngoài hợp đồng theo nguyên
tắc (Điều 610 - Bộ luật dân sự):
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ
pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do
hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất
cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm
Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại
cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp
lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người
có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng,
được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước…. thì trách nhiệm bồi thường thiệt
hại còn có những đặc điểm riêng sau đây:
- Xét về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm
Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho
người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ
tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương
XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
- Với vai trò người luật sư khi tham gia xem xét các vụ kiện liên quan đến trách
nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là:
Có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm
đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.
+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao
gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu
nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ.
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp
lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
+ Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự quy định: Toà án có
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình
thức lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện
dưới dạng cố ý hay vô ý.
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình
sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không
mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả
năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước
hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không
xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Con người phải
chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi
của mình. Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được
hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó.
Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước
mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không
phải bồi thường.
Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải
bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt
trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các
trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
Khi xét về hậu quả, trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu quả
bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho
người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy
định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc
bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được
nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho
người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi
Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã quy định về quyền lựa chọn của nguyên đơn
trong việc xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng mà không cần sự đồng thuận của người bị kiện. Cụ thể như sau:
Theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 36 BLTTDS thì “ Nếu tranh chấp về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú,
làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết” nhằm mở rộng hơn
quyền lựa chọn của người bị thiệt hại trong việc xác định Toà án có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Theo luật thực định nếu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm liên đới, do tài sản thuộc sở hữu chung
của nhiều người hoặc chủ sở hữu và người chiếm hữu cùng có lỗi trong việc gây ra
thiệt hại…thì Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi một trong các bị đơn cư
trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết. Điểm h Khoản 1 Điều 36 BLTTDS quy định “Nếu
các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết”.
Như vậy, tuỳ theo trường hợp mà Toà án có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết
việc kiện bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là Toà án nơi bị đơn, Toà án nơi nguyên
đơn hoặc Toà án nơi xảy ra thiệt hại. Để xác định nơi cư trú của cá nhân là nguyên đơn
hay bị đơn trong vụ kiện, cần căn cứ vào các quy định của BLDS (từ Điều 52 tới Điều
57)
4. Về điều kiện thực hiện quyền khởi kiện bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng
Trước khi tham gia các vụ kiện liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
người luật sư phải nghiên cứu kỹ, thời hiệu khởi kiện của vụ việc, thời điểm thiệt hại
xảy ra do hành vi trái pháp luật gây ra.
Về thời hiệu khởi kiện:
Trước đây, đối với các việc kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện nên trong thực tế các việc kiện yêu cầu
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra không bị giới hạn về thời gian khởi kiện. Thế
nhưng, hiện nay theo Điều 607 BLDS thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt
hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể
có yêu cầu phản tố cũng có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ, tài liệu để chứng minh.
Với vai trò người luật sư bảo vệ quyền lợi của người nguyên đơn hoặc bị đơn cần
phải tìm hiểu các chứng cứ, tài liệu chứng minh, tài liệu liên quan đến thiệt hại thực tế,
các giám định khi cần
Trong việc kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra thì các chứng cứ tài
liệu được cung cấp là để làm rõ những vấn đề sau đây:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra hay không và mức độ thiệt hại
- Người bị khởi kiện có hành vi trái pháp luật hay không? Nếu là tài sản gây thiệt
hại thì có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật hay không?
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hoặc sự kiện gây thiệt hại trái
pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra
- Lỗi của người gây thiệt hại, lỗi của người bị thiệt hại
Bốn yếu tố này là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên
với vai trò luật sư của người bị khởi kiện có thể dẫn chứng những tài liệu để phản bác
lại yêu cầu khởi kiện như chứng minh thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị
thiệt hại, thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết.
Trong các vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, luật sư bảo vệ
người bị thiệt hại có thể cung cấp cho Toà án những tài liệu, hoá đơn, chứng từ để
chứng minh thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Trong trường hợp cần thiết có thể tham
khảo ý kiến của các nhà chuyên môn (ý kiến của bác sĩ điều trị, hội đồng giám định y
khoa đối với thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; tổn thất về tinh thần, về chi phí thực tế bỏ
ra để phục hồi nguyên trạng tài sản…) hoặc tham khảo ý kiến của cơ quan nơi người
lao động làm việc để xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
b) Về việc xác định luật áp dụng xác định thiệt hại
Xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự là tôn trọng và bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, khi các quyền này bị xâm phạm, gây thiệt hại,
việc bồi thường thiệt hại cho nạn nhân là một đòi hỏi cấp thiết và chính đáng. Chính vì
vậy, bên cạnh những quy định mang tính nguyên tắc chung về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, pháp luật còn quy định ngoại lệ đối với trách
nhiệm bồi thường do tài sản gây ra.
xác định rõ các văn bản pháp luật cần áp dụng trong mỗi trường hợp như thế nào? Tra
cứu và chuẩn bị, đánh dấu các điểm, mục cần trích lục khi dẫn luật để bảo vệ (Bộ luật
dân sự, bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 45/2005/QH11, Nghị quyết 03/2006 của
Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng…)
Về nguyên tắc, trước hết luật phải căn cứ vào các quy định mang tính nguyên
tắc, bao gồm quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (các
điều từ 604 đến 607 BLDS) và các quy định về xác định thiệt hại (các điều từ 608 đến
612 BLDS) để áp dụng giải quyết. Bên cạnh đó, đối với trường hợp tài sản gây thiệt hại,
Toà án cần căn cứ vào cả các quy định riêng biệt cho từng loại vụ kiện cụ thể để giải
quyết, cụ thể: bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 623), do
súc vật gây ra (Điều 625), do cây cối gây ra (Điều 626), do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra (Điều 627). Bên cạnh đó, cần phải lưu ý tới các quy định tại Điều 3
BLDS về áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật. Chẳng hạn, trong BLDS
có quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra (Điều 625) nhưng nếu là thiệt hại
do những vật nuôi khác gây ra thì có thể vận dụng quy định tại Điều 3 và Điều 625
BLDS để giải quyết.
Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại: Trong các trường hợp
Điều 625, 626, 627, thiệt hại xảy ra có thể do lỗi cố ý hoặc vô ý của người bị thiệt hại, ví
dụ: công trình xây dựng đang xuống cấp, lún, nứt nghiêm trọng, đã có biển báo nguy
hiểm và hàng rào vây quanh nhưng người bị thiệt hại vẫn đi vào khu vực cấm vì cho là
không nguy hiểm; đột nhập vào trong nhà để trộm cắp bị chó giữ nhà tấn công… Riêng
Điều 627 Bộ luật dân sự quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra chỉ được loại trừ trong trường hợp “thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt
hại”. Quy định như vậy được hiểu là nếu thiệt hại hoàn toàn do lỗi vô ý của người bị
thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phát sinh.
Lý do vì nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cao và cần đề cao
trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ trong việc trông giữ, quản lý hơn
các tài sản khác.
Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng: Sự kiện bất khả kháng là những sự
toàn trong xây dựng cũng như các quy tắc trồng cây, không để tài sản mình đang quản
lý gây thiệt hại cho người khác. Để có thể thực hiện tốt nghĩa vụ này, người trông coi
quản lý phải kịp thời phát hiện nguy cơ cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác có
khả năng gây thiệt hại cho những người xung quanh để tìm cách khắc phục như cây đã
mục ruỗng, cành cây to chưa được chặt khi cơn bão sắp tới hoặc nhà bị nghiêng…Nếu
không có ngay biện pháp khắc phục kịp thời thì người trông coi phải có các cách thức
thông báo tình trạng nguy hiểm của cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng để những
người xung quanh tránh xa chúng hay có biện pháp tự bảo vệ. Nếu thiệt hại xảy ra
trong trường hợp chủ sở hữu, người quản lý đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của
mình trong việc quản lý thì họ sẽ được giải trừ khỏi trách nhiệm bồi thường.
Trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: Khoản 3
Điều 623 Bộ luật dân sự quy định “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi”.
Quy định này được hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra là loại trách nhiệm đặc biệt, hoàn toàn không cần xem xét đến điều kiện lỗi.
III. Kết luận
Hiện nay, BLDS Việt Nam chưa quy định về trường hợp một người chiếm hữu
hợp pháp đối với tài sản như chiếm hữu thông qua hợp đồng dân sự (ví dụ thông qua
hợp đồng thuê, mượn, gửi giữ …) hoặc chiếm hữu tài sản do pháp luật quy định (chiếm
hữu tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, gia súc, gia cầm thất lạc…) mà tài sản này gây thiệt
hại cho người khác thì ai phải bồi thường thiệt hại. Xét về nguyên tắc theo quy định của
pháp luật hiện nay thì chủ sở hữu vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường,tuy nhiên định
như vậy sẽ không phù hợp vì trong trường hợp này chủ sở hữu đã chuyển giao quyền
chiếm hữu của mình cho người khác và việc kiểm soát, quản lý tài sản đã nằm ngoài ý
chí của chủ sở hữu. Trong trường hợp này, pháp luật cần quy định về người phải chịu
trách nhiệm BTTH là người chiếm hữu hợp pháp bởi lẽ tài sản hiện đang thuộc quyền
nắm giữ, quản lý và kiểm soát của những người này.
Như vậy, thiệt hại xảy ra nhất thiết phải có nguyên nhân xác định mà không thể là
tự nhiên. Theo quan điểm của triết học, nguyên nhân và kết quả luôn có mối liên hệ nối
tiếp nhau, nguyên nhân bao giờ cũng đi trước, là cái sinh ra kết quả; nhưng một kết
dụng trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại để có thể thuận tiện khi áp dụng, tạo điều
kiện thuận lợi và cơ sở pháp lý cho việc áp dụng trong thực tiễn thi hành.
IV. Tài liệu tham khảo:
- Bộ Luật dân sự
- Bộ Luật tố tụng dân sự
- Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội
“Về việc thi hành Bộ luật dân sự”
- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân
dân tối