MỤC LỤC
Chương I
Trang 2 / 41 GV: ThS. Phạm Đình Cường
Phương pháp lựa chọn Dự án Đầu tư
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT
1) CÁC LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP:
Trong hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản lý đặc biệt là Giám đốc tài chính,
thường gặp phải những dự án đầu tư vốn nói chung và đầu tư vào tài sản cố định
nói riêng. Dựa vào mục đích, các dự án đầu tư có thể được phân loại thành:
- Dự án đầu tư mới tài sản cố định.
- Dự án thay thế nhằm duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cắt giảm
chi phí.
- Dựa án mở rộng sản phẩm hoặc thị trường hiện có sang sản phẩm hoặc sản
phẩm hoặc thị trường mới…
- Dự án an toàn lao động và/hoặc bảo vệ môi trường.
- Dự án khác.
Ý tưởng từ dự án đầu tư thường xuất phát từ mục đích của dự án đó. Tuy nhiên,
khi phân tích xem có nên đầu tư vào dự án hay không người ta không chỉ xem xét
đến mục đích mà còn đến hiệu quả về mặt tài chính của dự án. Đôi khi nhiều dự án
đều có hiệu quả tài chính được đề xuất cùng một lúc. Khi đó, việc phân loại dự án
theo mục đích để phân tích và ra quyết định đầu tư không quan trọng bàng việc
phân loại dựa vào mối quan hệ giữa các dự án. Dựa vào mối quan hệ, các dự án có
thể ohaan chia thành:
- Các dự án độc lập lẫn nhau: hai dự án được gọi là độc lập về mặt kinh tế nếu
việc chấp nhận hoặc loại bỏ một dự án này không làm ảnh hưởng đến quyết định
chấp nhận hoặc dự án khác. Nghĩa là việc chấp nhận hoặc loại bỏ một dự án nào
đó không làm ảnh hưởng đến các dòng tiền của dự án khác.
- Các dự án phụ thuộc lẫn nhau: nếu dòng tiền của dự án bị tác động bởi quyết
định chấp nhận hay từ bỏ một dự án khác thì dự án thứ nhất được gọi là phụ thuộc
về mặt kinh tế vào dự án thứ hai. Đương nhiên, nếu dự án A phụ thuộc vào dự án
B thì dự án B cũng phụ thuộc vào dự án A. Chẳng hạn 2 dự án phụ thuộc về mặt
XÁC ĐỊNH DỰ
ÁN
LẬP DỰ ÁN
VẬN HÀNH
DỰ ÁN
KẾT THÚC
DỰ ÁN
THỰC HIỆN
DỰ ÁN
NGHIÊN CỨU
TIỀN KHẢ THI
XÂY DỰNG
NGHIÊN CỨU KHẢ
THI
THIẾT KẾ CHI TIẾT
Chương I
3) CÁC TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG
DOANH NGHIỆP:
Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy khà năng
không chắc chắn giá trị trong tương lai.
Vậy làm thế nào để biết được mình có nên đầu tư hay không ? Có 4 tiêu chuẩn phổ
biến thường được sử dụng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư:
Tiêu chuẩn hiện giá thuần – NPV.
Tiêu chuẩn tỷ suất sinh lợi nội bộ: IRR - MIRR
Tiêu chuẩn chì số sinh lợi – PI.
Tiêu chuẩn thời gian thu hồi vốn : PBP – DPP
3.1 ) TIÊU CHUẨN GIÁ TRỊ HIỆN TẠI THUẦN (HIỆN GIÁ
THUẦN) – THE NET PRESENT VALUE – NPV:
a.) Nội dung phương pháp:
Hiện giá thuần (NPV) của một dự án là giá trị của dòng tiền dự kiến trong tương
r
CF
r
CF
r
CF
INPV
)1(
)1(
1
2
21
+
++
+
+
+
+−=
Hoặc:
∑
=
+
+−=
n
t
t
r
CF
INPV
GV: ThS. Phạm Đình Cường trang 7 / 41
Chương I
Chúng ta có thể nhận thấy rằng khi lãi suất chiết khấu r của dự án tăng lên, NPV
của dự án giảm đi. Bởi vì khi r tăng, mẫu số ở đẳng thức (1) cũng tăng theo, làm cho hiện
giá của dòng tiền giảm đi.
Mối quan hệ giữa NPV của một dự án và lãi suất chiết khấu được sử dụng để dánh
giá được mô tả đầy đủ bởi độ nghiêng của hiện giá thuần. Độ nghiêng của NPV là một đồ
thị chỉ ra NPV của dự án cho một dãy các lãi suất chiết khấu. Hình dưới đây chỉ độ
nghiêng của NPV để minh họa dự án A. Một dãy NPV của dự án là kết quả từ việc sử
dụng hàng loạt các giá trị r như sau:
r (%) 0 10 20 30
NPV ($) 700 320,47 58,26 -129.9
b.) Phương pháp lựa chọn dự án dựa vào chỉ tiêu NPV:
Để ứng dụng tiêu chuẩn NPV trong thẩm định dự án, chúng ta cần thiết phải phân
biệt thành 2 tình huống. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta xem xét một dự án
đầu tư độc lập với các dự án đầu tư khác, trong trường hợp này, việc chấp nhận
hay từ bỏ dự án tương đối đơn giản. Trong trường hợp thứ 2 phức tạp hơn, là các
dự án loại trừ nhau.
NPV và quyết định chấp nhận hay loại bỏ dự án: khi một dự án đầu tư là độc lập
về mặt kinh tế với dự án khác, việc chấp nhận hoặc từ bỏ dự án phụ thuộc vào
NPV âm tính hay dương tính.
NPV > 0 : chấp nhận dự án.
NPV < 0: loại bỏ dự án.
NPV = 0: tùy quan điểm của nhà đầu tư.
Chọn lựa giữa các dự án loại trừ nhau: trong rất nhiều trường hợp, sự lựa chọn
phải được thực hiện giữa những dự án loại trừ lẫn nhau. Việc chấp nhận một trong
những dự án này đòi hỏi phải từ bỏ những dự án còn lại. Khi áp dụng tiêu chuẩn
Trang 8 / 41 GV: ThS. Phạm Đình Cường
Phương pháp lựa chọn Dự án Đầu tư
NPV đối với các dự án loại trừ lẫn nhau, chúng ta sẽ chọn dự án nào có NPV cao
cộng dồn nó lại. Nếu bạn có 2 dự án A và B, tiêu chuẩn NPV sẽ giúp bạn biết được nhanh
chóng giá trị hiện tại NPV của dự án đầu tư kết hợp là:
NPV(A+B) = NPV(A) + NPV (B).
Tính chất có thể cộng dồn như trên có ý nghĩa quan trọng. Giả định dự án B có
NPV âm, nếu bạn kết hợp nó với dự án A, dự án kết hợp (A+B) sẽ có một NPV thấp hơn
NPV của bản thân dự án A. Do đó bạn sẽ không bị sai lầm trong việc chấp nhận dự án
xấu B chỉ bởi vì nó được gói chung với dự án A. Như chúng ta đã biết các tiêu chuẩn
khác không có tính chất cộng dồn này. Nếu không cẩn thận thì có thể bị đánh lừa trong
quyết định một gói dự án tốt và dự án xấu tốt hơn là dự án tốt một mình.
Nhược điểm:
Việc tính toán NPV phụ thuộc vào suất chiết khấu, do đó, đòi hỏi phải quyết định
suất chiết khấu phù hợp mới áp dụng chỉ tiêu này được.
Dựa vào chỉ tiêu NPV không thể đưa ra kết quả lựa chọn khi các dự án không
đồng nhất về mặt thời gian cũng như xếp hạng ưu tiên trong việc lựa chọn các dự án đầu
tư khi nguồn vốn của doanh nghiệp bị giới hạn. mục lục
3.2 ) TIÊU CHUẨN TỶ SUẤT SINH L ỢI NỘI BỘ - THE
INTERNAT RATE OF RETURN – IRR:
a.) Nội dung phương pháp:
Tỷ suất sinh lợi nội bộ - IRR của một dự án là lãi suất chiết khấu mà tai đó NPV
của dự án bằng 0, có nghĩa là suất chiết khấu làm cho hiện giá dòng tiền thu nhập từ dự
án bằng với chi phí đầu tư dự án.
0
)1(
1
=−
+
=
∑
=
I
)1(1
[
5
=−
+−
=−
+−
−−
IRR
IRR
I
IRR
IRR
CF
n
Qua một số phép toán biến đổi ta được IRR = 81.55%
- Nếu dự án có CF không đều, việc tìm IRR như sau:
Cho lãi suất bất kì r
1
nào đó ( thường xoay quanh lãi suất của ngân hàng ) để tính NPV
1
.
Nếu NPV
1
GV: ThS. Phạm Đình Cường trang 11 / 41
Chương I
Để tìm IRR, chúng ta phải cố gắng thử một số lãi suất chiết khấu cho đến khi xác
định được một mức lại suất mà tại đó NPV của dự án bằng 0. Giả sử chúng ta thử bắt đầu
ở mức lãi suất 15%.
NPV(15%)= -6.000+
$07,570
15,1
$800.4
15,1
$640.1
15,1
$500.2
32
=++
Bởi vì NPV tại 15% lớn hơn 0, bởi vì mức lãi suất chiết khấu cao hơn sẽ tạo
NPV thấp hơn. Chúng ta cố gắng thử ở mức lãi suất cao hơn, chẳng hạn 25%.
NPV(25%) = -6.000 +
$80,492
25,1
$800.4
25,1
$640.1
25,1
$500.2
32
−=++
NPV (25%) là số âm, rõ ràng IRR sẽ nằm trong khoảng từ 15% đến 25%
Cố gắng thử ở mức lãi suất 20%.
NPV (20%) = -6.000$ +
vay
Dòng tiền
để trả vốn
gốc
Số dư
tiền vay
cuối mỗi
năm
(1) (2) (3) (4) (5)=(3)
3
(6)=(4)-(5) (7)=(2)-(6)
0 - - - - - 6.000$
1 6.000$ 1.200$ 2.500$ 1.200$ 1.300$ 4.700$
2 4.700$ 940$ 1.640$ 940$ 700$ 4.000$
3 4.000$ 800$ 4.800$ 800$ 4.000$ 0$
mục lục
b.) Phương pháp lựa chọn dự án dựa vào chỉ tiêu IRR:
- Trường hợp các dự án là độc lập lẫn nhau, dự án nào có:
IRR > r: chấp nhận dự án
IRR< r: loại bỏ dự án
- Trường hợp các dự án là loại trừ lẫn nhau nhà đầu tư sẽ chọn dự án nào có IRR
lớn nhất miễn là IRR của dự án đó lớn hơn r.
c.) Ưu nhược điểm của chỉ tiêu IRR:
Ưu điểm:
Các doanh nghiệp thích sử dụng các tiêu chuẩn IRR vì họ cho rằng điều quan
trọng phải biết được khoảng chênh lệch giữa tỷ suất thu nhập nội bộ của một dự án đầu
tư và chi phỉ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đây là một tiêu chuẩn an toàn cho phép
đánh giá khả năng bù đắp chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư so với tính rủi ro của nó.
Nếu dự án đầu tư có IRR bằng 25% trong khi mức bù đắp chi phí sử dụng vốn đặt ra là
12% thì đó là một mức chênh lệch lớn, có thể cho phép sửa sai lầm. Phương pháp NPV
nhập nội bộ IRR như chúng ta đề cập trước đây không thể áp dụng trong trường hợp này.
Chúng ta đang tìm kiếm một IRR thấp hơn chi phí sử dụng vốn.
Để làm rõ vấn đề ta xem xét tiếp tục, giả sử có một dự án C với kết cấu dòng tiền
như sau:
Trang 14 / 41 GV: ThS. Phạm Đình Cường
Phương pháp lựa chọn Dự án Đầu tư
Dòng tiền ( $)
Dự án CF
0
CF
1
CF
2
CF
3
IRR NPV(10%)
C +1.000 -3.600 4.320 -1.728 20% -0,75
Dự án C có NPV = 0 ở mức chiết khấu 20%. Nếu chi phí cơ hội của vốn là 10%
điều này có nghĩa dự án C là một dự án tốt. Hay không phải là như vậy? Phần nào là như
vậy vì dự án C có dòng tiền giống như là một dòng tiền đi vay bởi vì chúng ta chi tiền
vào năm 1 và thu lại vào năm thứ 2. Vậy đối với dự án này chúng ta nên chấp nhận hay
loại trừ? Cách duy nhất để tìm câu trả lời là là phải sử dụng tiêu chuẩn NPV. Nếu chi phí
cơ hội của vốn là 10% (nghĩa là nhỏ hơn IRR), dự án lúc này có NPV âm và chúng ta nên
loại trừ dự án này.
Cạm bẫy thứ hai: IRR đa trị: Hầu hết các quốc gia đều có qui định cho phép
một khoảng thời gian hoãn thuế kể từ lúc công ty có được thu nhập và thời điểm chính
thức phải nộp thuế thu nhập. Hãy xem xết trường hợp một công ty đang đứng trước một
dự án đầu tư cho một chiến dịch quảng cáo. Chiến dịch này sẽ tiêu tốn 1 triệu đô la vào
năm đầu tiên và có khả năng gia tăng thu nhập trước thuế là 300.000 đôla trong mỗi năm
sau và liên tục trong 5 năm. Giả định thuế suất thuế thu nhập doang nghiệp là 25% và
+
−
+
−
+
−
+
−
Và
NPV = -1.000 +
65432
)15,01(
75
)15,01(
225
)15,01(
225
)15,01(
225
)15,01(
550
15,01
550
+
−
+
+
+
+
+
CF
1
CF
2
IRR (%) NPV (10%)
D +1.000 -3.000 +2.500 Không có +339
Dự án này không có IRR và có NPV luôn luôn dương với bất kì mức lãi suất chiết
khấu nào.
Tóm lại trong những trường hợp như vậy tiêu chuẩn IRR đã bộc lộ những khuyết
điển và giải pháp đơn giản nhất là sử dụng tiêu chuẩn NPV.
Cạm bẫy thứ ba: Nhiều dự án loại trừ lẫn nhau: Cả hai tiêu chuẩn NPV và IRR
đều đánh giá khả năng sinh lợi của dự án đầu tư dựa trên căn bản dòng tiền của chúng có
tính đến yếu tố của giá trị tiền tệ theo thời gian. Dù vậy, như chúng ta sẽ thấy, chúng
không phải lúc nào cũng dẫn đến quyết định như nhau.
Cả hai tiêu chuẩn NPV và IRR đều dẫn đến quyết định chấp nhận hoặc từ bỏ dự án
giống nhau khi các dự án được đánh giá độc lập lẫn nhau. Bởi vì nếu NPV > 0, lãi suất
chiết khấu tại điểm mà NPV bằng 0 chắc chắn phải lớn hơn chi phí sử dụng vốn là r. Nói
một cách khác, nếu NPV > 0 thì IRR > r. Tương tự, nếu IRR > r thì khi dòng tiền được
chiết khấu ở mức lãi suất r, NPV > 0.
Chúng ta xem xét dự án sau:
Năm
0 1 2 NPV (12%) IRR
CF -1000$ 7500$ 600$ 103$ 20%
Giả sử chi phí sử dụng vốn là 12%, NPV của dự án là:
GV: ThS. Phạm Đình Cường trang 17 / 41
Chương I
NPV ( tại 12%) = -1.000$ +
$103
)12,1(
$600
IRR được diễn đạt bằng một tỷ lệ %, trong khi tình hình tài chính của doanh
nghiệp lại được đo bằng tiền. Như vậy, IRR của một dự án không thể giải thích trực tiếp
được vấn đề, nếu xét theo ý nghĩa của sự gia tăng giá trị doanh nghiệp. một khoản đầu tư
tạo ra thu nhập 50% trong một năm nghe rất hấp dẫn, nhưng tỷ suất sinh lợi chỉ tính trên
100$ thì quả thật chúng không đủ để mua một mẩu bánh mì.
Một ví dụ khác nữa về mẫu hình của dòng tiền làm gia tăng khả năng mâu thuẫn
việc xếp loại bằng tiêu chuẩn NPV và IRR Trong khi dòng tiền của dự án X là không
đổi theo thời gian, thì dự án Y có dòng tiền giảm dần
Ở tại mức thu phí sử dụng vốn là 10% , dự án X có NPV cao hơn dự án Y. Do đó,
nếu xét theo tiêu chuẩn NPV, dự án X tốt hơn dự án Y. còn khía cạnh khác, IRR của dự
án Y là 17.7% cao hơn dự án X (14.6%), vì thế nếu xét theo tiêu chuẩn IRR, dự án Y tốt
hơn dự án X.
Năm
Dự án 0 1 2 3 NPV (10%) IRR
X 23.000$ 10.000$ 10.000$ 10.000$ 1.869$ 14,6
Y -8.000$ 7.000$ 2.000$ 1.000$ 768$ 17,7
X-Y -15.000$ 3.000$ 8.000$ 9.000$ 1.101$ 13,5
Thật vậy, một tỷ lệ lớn dòng tiền của Y được bù đắp lại trong những năm đầu,
trong khi đó dòng tiền của dự án X được trải ra nhiều và vì thế phần lớn chúng được bù
đắp ở những năm sau này. Chính điều này làm cho độ nhạy cảm của NPV của dự án X
khi r thay đổi. Đường biều diễn NPV của 2 dự án cắt nhau tại mức lãi suất chiết khấu
xấp xỉ khoảng 13.5%. Ở mức lãi suất thấp hơn 13.5%, NPV
x
>NPV
y
, do đó chúng ta chọn
X tốt hơn Y.Ở mức lãi suất cao hơn 13.5%, NPV
x
<NPV
y
nhận xét sau:
• Nếu (X-Y) là dự án chấp nhận được thì dự án Y + (X-Y) phải tốt hơn là Y
một mình.
• Nếu dự án (X-Y) là dự án không chấp nhận được, thì Y một mình lại tốt
hơn Y + (X-Y).
Bởi vì NPV
(X-Y)
= NPV
X
-NPV
Y
, và bởi vì NPV
X
> NPV
Y
rõ ràng NPV
(X-Y)
> 0. Thật
vậy, NPV
(X-Y)
là 1.101$ và chúng ta cũng biết rằng nếu NPV là dương tính cũng có nghĩa
Trang 20 / 41 GV: ThS. Phạm Đình Cường
Phương pháp lựa chọn Dự án Đầu tư
là IRR lớn hơn lãi suất chiết khấu r (IRR > r). Lập luận này rất quan trọng, bởi vì nó cho
chúng ta thấy là (X-Y) là dự án chấp nhận được bằng cả 2 tiêu chuẩn NPV và IRR. Rõ
ràng dự án Y+ (X-Y) phải tốt hơn Y một mình.
Chúng ta có thể kết luận vấn đề, khi có một mâu thuẫn xảy ra giữa 2 tiêu chuẩn
NPV và IRR thì tiêu chuẩn NPV sẽ thích hợp hơn, nếu mục tiêu của doanh nghiệp là tối
đa hóa lợi nhuận.
Cạm bẫy thứ 4:lãi suất ngắn hạn có thể khác lãi suất trong dài hạn: trong thảo
1
+
++
+
+
+
Nói cách khác ta sẽ chiết khấu CF
1
với r
1
chi phí cơ hội của vốn trong năm 1, r
2
chi
phí cơ hội của vốn trong năm 2….theo tiêu chuẩn IRR ta sẽ chấp nhận 1 dự án nếu IRR
lớn hơn chi phí cơ hội. Nhưng thật khó khi so sánh IRR, r
1
, r
2
, r
3
…? Trên thực tế cần phải
tính số bình quân gia quyền với quyền số rất phức tạp của những con số này để có thể có
được 1 con số đại diện để so sánh với IRR.
Điều này có ý nghĩa gì với quyết định ngân sách vốn đầu tư? Nó có ý nghĩa là IRR
trở nên khó sử dụng khi chúng ta cho rằng cấu trúc lãi suất theo thời gian là quan trọng.
Trong những trường hợp có ý nghĩa quan trọng như khi ta cần so sánh IRR của dự án với
IRR mong đợi (tỷ suất sinh lới nhuận cho tới khi đáo hạn) của các chứng khoán: (1) có
cũng mức độ rủi ro với dự án và (2) có cùng mẫu hình dòng tiền theo thời gian giống như
GV: ThS. Phạm Đình Cường trang 21 / 41
Chương I
1
(1 + r )
n-1
+ IF
2
(1+r)
n-2
+ … + IF
n
(1 + r)
n-n
. Hiện giá
của dòng tiền chi ra cho dự án bằng:
n
n
t
r
OF
r
OF
r
OF
OFPV
)1(
)1()1(
)(
2
2
1
TV
MIRR
OFPV
TV
MIRR
TVPVOFPV
Trong phương trình này chúng ta chỉ tính hiện giá của giá trị tới hạn, tức là hiện
giá của số tiền chứ không phải hiện giá của dòng tiền như IRR và phương trình này chỉ
có 1 nghiệm. Vì vậy, khắc phục được nhược điểm có nhiều IRR như khi sử dụng chỉ tiêu
IRR. T ương tự như IRR, với chỉ tiêu MIRR luật quyết định như sau:
- Chấp nhận dự án khi MIRR lớn hơn hoặc bằng tỷ suất sinh lợi nhuận yêu cầu
- Từ chối dự án khi nào MIRR nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận yêu cầu
3.4 ) TIÊU CHUẨN CHỈ SỐ SINH LỢI – THE ROFITABILITY
INDEX – PI:
Chỉ số sinh lợi (PI) được định nghĩa như là gi á trị hiện tại của dòng tiền của dự án
đầu tư so với đầu tư ban đầu
PI =
I
PV
PV: giá trị hiện tại của dòng tiền I: đầu tư ban đầu
GV: ThS. Phạm Đình Cường trang 23 / 41
Chương I
Quyết định đầu tư dự án:
Trường hợp dự án độc lập. Dự án nào có:
PI > 1: Chấp nhận dự án
PI < 1: Loại bỏ dự án
Trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau, dự án nào có PI lớn nhất và lớn hơn 1 sẽ
được chọn
Ưu nhược điểm của chỉ tiêu PI:
Trong trường hợp nguồn vốn bị giới hạn, chúng ta sẽ không thể xếp hạn các dự án
Nếu xét theo NPV, dự án L có NPV cao nhất
Nếu xét theo IRR, dự án K có IRR cao nhất
Nếu xét theo PI, dự án M có PI cao nhất
Chúng ta thấy rằng ba chỉ tiêu cho ba kết quả khác nhau, nếu đây là các dự án độc
lập lẫn nhau, việc lựa chọn hoặc từ chối dự án rất đơn giản. Tuy nhiên, nếu đây là dự án
loại trừ lẫn nhau, chúng ta sẽ đi đến quyết định sai lầm nếu dựa vào chỉ tiêu PI. Trong
những trường hợp thế này nên sử dụng chỉ tiêu NPV. mục lục
3.5 ) TIÊU CHUẨN THỜI GIAN THU HỒI VỐN – THE PAYBACK
PERIOD – PP:
Thời gian thu hoàn vốn là thời gian cần thiết để dòng tiền tạo ra từ dự án đủ bù
đắp chi phí đầu tư ban đầu cho dự án. Cơ sở để chấp nhận dự án dựa trên tiêu chuẩn thời
gian thu hồi vốn là thời gian thu hồi vốn phải thấp hơn hoặc bằng thời gian thu hồi vốn
yêu cầu hay còn gọi là ngưỡng thời gian thu hồi vốn. Thời gian thu hồi vốn được xác
định dựa vào dòng tiền tự do của dự án và có thể chia thành hai loại: thời gian thu hồi
vốn không có chiết khấu và thời gian thu hồi vốn có chiết khấu.
Phương pháp lựa chọn dự án dựa vào chỉ tiêu PBP:
- Chấp nhận đầu tư dự án nếu PBP < thời gian yêu cầu
- Từ chối đầu tư dự án nếu PBP > thời gian yêu cầu
a.) Thời gian thu hồi vốn không có chiết khấu:
Thời gian thu hồi vốn không có chiết khấu được x c định một cách đơn giản dựa
vào dòng tiền tự do của dự án mà không tính đến yếu tố thời gian tiền tệ. Công thức xác
định thời gian thu hồi vốn là:
GV: ThS. Phạm Đình Cường trang 25 / 41