Nghiên cứu đa dạng di truyền và cải tiến nguồn gen khoai môn sọ bản địa bằng công nghệ sinh học và đột biến thực nghiệm (tóm tắt) + toàn văn - Pdf 18

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ THANH MAI
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN VÀ CẢI TIẾN
NGUỒN GEN KHOAI MÔN SỌ BẢN ĐỊA BẰNG CÔNG
NGHỆ SINH HỌC VÀ ĐỘT BIẾN THỰC NGHIỆM
Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 62 42 70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội, 2014
Công trình khoa học được hoàn thành tại:
Trường Đại hoc Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Xuân Viết
Phản biện 1:
GS.TSKH Trần Duy Quý
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Phản biện 2:
GS.TS. Nguyễn Quang Thạch
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Phản biện 3:
PGS.TS Lê Huy Hàm
Viện Di truyền Nông nghiệp
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Trường họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi … . giờ ngày tháng … năm 2014.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Thư viện Quốc gia.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

1
Trung Bộ bằng phân tích hình thái – nông học, chỉ thị RAPD và chỉ thị
SSR; (2) Xác định được quan hệ di truyền tiến hóa trong loài C.
esculenta và với một số loài có quan hệ gần; (3) Xây dựng được quy
trình nhân nhanh in vitro một số giống khoai môn sọ địa phương cho
sản xuất; (4) Xác định được mức độ mẫn cảm với phóng xạ tia gamma
của một số giống khoai môn sọ địa phương và chọn lọc được một số
dòng khoai môn sọ đột biến có triển vọng phục vụ cho nghiên cứu cải
tiến giống.
4. Đóng góp mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên phân tích một cách có hệ thống về sự
đa dạng di truyền nguồn gen khoai môn sọ địa phương cũng như mối
quan hệ di truyền trong loài khoai môn sọ và với các loài có quan hệ
gần gũi với loài cây này dựa trên bộ số liệu phong phú về hình thái và
phân tử ADN.
Mức độ đa dạng di truyền cao trong các mẫu giống khoai môn
sọ nghiên cứu và các chỉ thị phân tử đặc trưng mẫu giống và đặc trưng
vùng sinh thái là những phát hiện mới có ý nghĩa tư liệu hóa nguồn
gen.
Lần đầu tiên một bộ sưu tập hạt nhân (gồm 12 giống khoai môn
sọ) đã được đề xuất dựa trên số liệu phong phú về đa dạng di truyền ở
cả mức hình thái, phân tử ADN và một số thành phần dinh dưỡng của
củ từ 40 mẫu giống khoai môn sọ nghiên cứu
Phát hiện sự gần gũi về mặt di truyền của 2 loài môn hoang dại
(C. lihengeae và C. menglaensis) với các loài ráy thuộc chi Alocasia
đã cung cấp cơ sở phân tử có thể giúp giải quyết khó khăn trong việc
xác định vị trí chủng loại phát sinh của 2 loài khoai môn hoang dại do
chúng mang những đặc điểm hình thái giống cả Colocasia và cả
Alocasia.
Liều chiếu xạ vào giai đoạn chồi in vitro khoai môn sọ có hiệu

người sử dụng khoai môn sọ trong các bữa ăn thường ngày. Khoai
môn sọ là loại rau được tiêu thụ đứng hàng thứ 14 và là loài cây có củ
được tiêu thụ nhiều thứ 5 trên thế giới.
3
1.2. PHÂN TÍCH ĐA DẠNG DI TRUYỀN Ở CÂY KHOAI MÔN SỌ
1.2.1. Phân tích đa dạng di truyền khoai môn sọ sử dụng chỉ thị
hình thái và hóa sinh
Ở Việt Nam, 201 mẫu trong tổng số 478 giống đang lưu giữ tại
Trung tâm Tài nguyên Thực vật – Viện Di truyền Nông nghiệp Việt
Nam đã được nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền sử dụng chỉ thị
hình thái hoặc kết hợp chỉ thị hình thái và chỉ thị hóa sinh, tế bào
(Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs (2000, 2003, 2004), Nguyễn Xuân Viết
và cs (2002, 2006, 2007). Trên thế giới, chỉ thị hình thái được sử dụng
kết hợp với chỉ thị sinh hóa và các chỉ thị khác đã thành công trong
việc đánh giá đa dạng di truyền khoai môn sọ, phân loại khoai môn sọ
trồng… và đặc biệt trong xây dựng bộ mẫu hạt nhân khoai môn sọ địa
phương, quốc gia và khu vực cho mục đích bảo tồn và sử dụng hiệu
quả nguồn gen.
1.2.2. Phân tích đa dạng di truyền khoai môn sọ sử dụng chỉ thị
phân tử ADN
Chỉ thị RAPD được Irwin và cs sử dụng đầu tiên trên đối tượng
khoai môn sọ vào năm 1998 (Irwin, 1998), sau đó là các nghiên cứu
của Ochiai và cs (2001), Lakhanpaul và cs (2003). Các kết quả nghiên
cứu chỉ thị RAPD không chỉ hữu ích trong nghiên cứu đa dạng trong
loài khoai môn sọ mà còn là một chỉ thị hữu ích cho nhận dạng các
giống khoai môn sọ, nhận dạng phân tử các loài có quan hệ gần với
khoai môn sọ; phân biệt các dạng khoai môn sọ lưỡng bội và tam
bội… từ các kiểu băng điện di nhân bản đặc trưng.
Những ứng dụng của kỹ thuật AFLP trên khoai môn sọ đã được
báo cáo trong nhiều nghiên cứu. Lebot và cs (2004) đã sử dụng dữ liệu

phương
Ở Việt Nam, các Viện nghiên cứu, các trường Đại học đã phối
hợp với các sở Khoa học Công nghệ các tỉnh áp dụng nuôi cấy mô in
5
vitro trong phục tráng và nhân nhanh đáp ứng nguồn cung cấp giống
một số giống khoai môn sọ quí như khoai Bắc Kạn, khoai sọ Nho
Quan (Ninh Bình)
* Lựa chọn bộ mẫu hạt nhân từ nguồn gen khoai môn sọ địa
phương
Lựa chọn bộ sưu tập mẫu hạt nhân từ bộ mẫu khoai môn sọ ở
vùng, quốc gia, khu vực được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau với
qui mô mẫu cũng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện địa phương, quốc
gia, vùng và số lượng mẫu ban đầu TANSAO dựa trên các đặc điểm
hình thái và isozyme đã thiết lập bộ mẫu hạt nhân cho khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương, trong đó, Việt Nam đóng góp 16 mẫu giống
khoai môn sọ vào bộ sưu tập hạt nhân khu vực (Lebot, 2004).
* Nghiên cứu cải tiến nguồn gen khoai môn sọ địa phương
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu cải tiến nguồn gen khoai
môn sọ thành công. Các nghiên cứu được tiến hành theo các hướng:
nhập nội các giống khoai môn sọ ngoại lai, lai tạo, xử lí đột biến và
chuyển gen. Nghiên cứu chọn tạo giống khoai môn sọ đột biến đã thu
được những thành công nhất định. Các nhà khoa học đã áp dụng
phương pháp nuôi cấy mô in vitro kết hợp chiếu xạ chồi in vitro nhằm
tạo nguồn vật liệu khởi đầu phong phú cho chọn lọc. Các thành công
ban đầu chủ yếu theo hướng chọn lọc các dòng kháng bệnh bạc lá, rút
ngắn thời gian sinh trưởng và duy trì vị ngon của củ như các nghiên
cứu của Seetohul S. và Puchooa D (2007), Sukamto (1998 - 2003).
Ở Việt Nam, các nghiên cứu khai thác nguồn gen khoai môn sọ
mới chủ mới chỉ ở mức tuyển chọn hoặc phục tráng một số giống
khoai quý địa phương, các nghiên cứu cải tiến nguồn gen loài cây này

) lên chồi khoai môn sọ in
vitro được thực hiện theo phương pháp của Seetohul và cs (2007).
Các số liệu thống kê được xử lí và phân tích bằng chương trình
Excel version 5.0 và phần mềm NTSYSpc version 2.11x (Exeter
Software, New York); Phân tích phương sai – ANOVA (Analysia of
variance) trên máy tính; kiểm định tiêu chuẩn t được xử lí ở độ tin cậy
95%, mức sai số có ý nghĩa α = 0,05.
7
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN NGUỒN GEN KHOAI
MÔN SỌ
3.1.1. Đa dạng về các đặc điểm hình thái và nông học các giống
khoai môn sọ và một số loài gần
Các mẫu giống nghiên cứu được đánh giá về 20 đặc điểm hình
thái – nông học. Dựa vào các đặc điểm hình thái – nông học có thể
định loại các mẫu giống nghiên cứu thuộc 3 chi (genus) trong họ Ráy
(Araceae): Chi Khoai môn (Colocasia) gồm 43 mẫu giống chia làm 4
loài C. esculenta (40), C. gigantea (01), C. lihengeae (01) và C.
menglaensis (01); (2) Chi Khoai mùng (Xathosoma) gồm 6 mẫu giống
thuộc 2 loài X. violacium (01) và X. sagittifolium (01); (3) Chi Ráy
(Alocasia) gồm 2 mẫu giống thuộc 2 loài A. odora (01) và A.
macrorrhiza (01).
Trong phân loại dưới loài, 40 mẫu giống khoai môn sọ (C.
esculenta (L.) Schott) thể hiện sự đa dạng rất cao về các đặc điểm hình
thái – nông học. 40 mẫu giống khoai môn sọ được phân tích đa dạng
hình thái – nông theo một số các đặc điểm hình thái – nông học miêu
tả sử dụng phần mềm NTSYSpc version 2.11x (Hình 3.1). Kết quả
cho thấy: Sự đa dạng cao trong các mẫu giống khoai môn sọ nghiên
cứu. Với khoảng 75% tương đồng về các đặc điểm hình thái – nông

mồi phân tích, có 8 mồi cho thấy 100% đa hình.
Số liệu đa hình RAPD được sử dụng để phân nhóm quan hệ di
truyền giữa các mẫu giống thuộc các loài sử dụng phần mềm
NTSYSpc version 2.11x. Ở mức tương đồng di truyền 75%, 51 mẫu
giống nghiên cứu đã được phân trong 3 nhóm. Tất cả 40 mẫu giống
khoai môn sọ trồng (C. esculenta) và 1 mẫu dọc mùng (C. gigantea)
hình thành nhóm lớn I, nhưng 2 loài môn hoang dại (C. lihengeae và
C. menglaensis) lại được ghép trong nhóm III cùng các mẫu Ráy
(Alocasia). 6 mẫu khoai Mùng (Xanthosoma) được xếp trong cùng
nhóm (nhóm II) gồm 2 nhóm phụ tương ứng với 2 loài: X. violacium
có thân và thịt củ màu tím sẫm (Xa1 - khoai Mán Lạng Sơn) và X.
Sagittifolium có bẹ lá và cuống lá xanh, thịt củ trắng hay tím nhạt (5
mẫu giống còn lại).
Có tổng số 48 băng ADN được nhân thành công từ 14 mồi
RAPD đặc trưng phân tử các loài, chi nghiên cứu thuộc họ Ráy. Các
vị trí băng đặc trưng này có thể rất hữu ích trong việc nhận dạng các
mẫu loài nghiên cứu.
Với mức tương đồng di truyền 77%, 40 mẫu giống khoai môn
sọ được phân trong 3 nhóm (I, II và III) (Hình 3.5). Kết quả phân tích
sự phân nhóm khoai môn sọ dựa trên số liệu RAPD cho thấy: (1)
Những giống khoai môn sọ có hình dạng củ kiểu khoai sọ và chất
lượng củ trung bình được xếp trong cùng 1 nhóm (nhóm I) cũng được
phát hiện trong nhóm I dựa trên đặc điểm hình thái – nông học. Hầu
hết các mẫu giống được phân trong nhóm phụ II.2 là những mẫu giống
10
có chất lượng củ cao. Các mẫu giống này cũng được phát hiện trong
nhóm II, IV và nhóm V dựa trên đặc điểm hình thái - nông học. (2)
Một số giống khoai môn sọ có đặc điểm hình thái giống nhau thì cũng
có hệ số tương đồng di truyền cao. Ví dụ các nhóm mẫu giống: Ce4,
Ce11 và Ce12 có mức tương đồng di truyền 92%; Ce3 và Ce6, với

(208 băng) và số băng ADN đặc trưng vùng cũng lớn nhất (15 băng),
tiếp theo là các mẫu từ vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Các mẫu
giống từ vùng Đồng bằng sông Hồng không biểu hiện băng ADN đặc
trưng riêng cho vùng thu mẫu. Kết quả này cho thấy tính đa hình và
tính đặc trưng vùng cao của các mẫu giống vùng miền núi và trung du
Bắc Bộ. Vùng đồng bằng sông Hồng có thể chỉ là nơi “hội tụ”, nơi
phát triển của các giống khoai môn sọ quí từ các địa phương miền núi
và trung du Bắc Bộ.
3.1.2.3. Kết quả phân tích đa dạng di truyền nguồn gen khoai môn
sọ sử dụng chỉ thị SSR
Mười hai cặp mồi SSR đã được dùng để phân tích SSR của 29
mẫu giống (24 mẫu giống C. esculenta, 01 mẫu giống C. gigantea, 01
mẫu giống C. lihengeae, 01 mẫu giống C. menglaensis, 01 mẫu giống
Alocasia odora và 01 mẫu giống Alocasia macrorrhiza). Các mẫu
giống khoai môn sọ được lựa chọn để phân tích SSR dựa trên tính đại
diện nhóm trong phân nhóm dựa trên số liệu hình thái và chỉ thị
RAPD; tính đặc trưng vùng sinh thái và có chú ý đến đặc tính về chất
lượng tốt của củ ở một số giống.
Sản phẩm PCR-SSR với 12 cặp mồi đã được nhân thành công. 9
cặp mồi thể hiện sự đa hình cao được sử dụng cho phân tích phân tích
đa dạng di truyền các mẫu giống nghiên cứu. Tổng số 97 alen tại 9
locus được nhân bản từ 29 mẫu nghiên cứu. Số alen tại mỗi locus dao
động từ 3 (ở locus HK31) đến 19 (ở locus HK22). Giá trị PIC (hàm
lượng thông tin đa hình) của các chỉ thị dao động trong khoảng từ 0,33
đến 0,93, giá trị trung bình 0,75.
Sơ đồ hình cây nhận được từ phân tích UPGMA dựa trên hệ số
tương đồng di truyền giữa 29 mẫu giống nghiên cứu cho thấy: ở mức
tương đồng di truyền 72%, 29 mẫu giống nghiên cứu đã được phân
12
trong 2 nhóm. Tất cả 24 mẫu giống khoai môn sọ (C. esculenta) và 1

V
VI

Hình 3.9. Sản phẩm PCR-SSR với mồi HK7 trên gel điện di
và các vị trí alen đặc trưng giống khoai môn sọ
Bảng 3.10. Đặc trưng phân tử có ý nghĩa tư liệu hóa
một số nguồn gen khoai môn sọ địa phương
Số
TT
Tên giống Alen đặc trưng
có ý nghĩa nhận dạng
1 Ce3 – Khoai sọ (Lạng Sơn) HK7-160 bp
2 Ce5 – Khoai sọ nương (Quảng Ninh) HK29-230 bp
3 Ce9 – Khoai mán (Bắc Giang) Xuqtem73-160 bp, HK7-145 bp,
HK7-175bp, HK29-250 bp, HK29-
300bp, HK22-400 bp.
4 Ce13 – Hậu Đành (Tuyên Quang) AC3-120 bp
5 Ce15 – Khoai sọ đồi (Yên Bái) HK7-190 bp, HK38 – 130 bp,
Xuqtem55 – 30 bp.
6 Ce18 – Khoai sọ trắng (Hòa Bình) HK7-140 bp
7 Ce32 – Sáp vàng (Thanh Hóa) HK22-195 bp
8 Ce35 – Khoai sọ (Hà Tĩnh) HK29-50 bp
9 Ce36 – Môn đỏ (Quảng Trị) HK7-120 bp, HK7-200 bp.
Kết quả thống kê cũng cho thấy tổng số alen SSR cao nhất quan
sát thấy ở khoai môn sọ vùng Đông Bắc - Bắc Bộ (54 alen) và vùng
Bắc Trung Bộ (34 alen) trong tổng số 66 alen đã được nhân bản thành
công từ các mồi. Tỉ lệ alen đặc trưng tương ứng cho 2 vùng là 31,48%
và 20,59%. Hai vùng này cũng là nơi xuất sứ của nhiều giống khoai
môn sọ nổi tiếng thơm ngon như khoai Môn thơm (Lạng sơn), khoai
Chợ Đồn (Bắc Kạn), Khoai Chũ (Bắc Giang, khoai Sáp vàng (Thanh

trung bình 1,51 ± 0,02, sai khác đáng kể giữa các mẫu giống nghiên
cứu (p < 0,05).
Ba chỉ tiêu khoáng đa lượng được phân khác biệt nhau đáng kể
ở các mẫu nghiên cứu (p < 0,05). Hàm lượng canxi trung bình trong
củ là 1,55 ± 0,28 g/kg chất khô, dao động từ 0,71 ± 0,27 g/kg đến 2,52
± 0,27 g/kg. Khoáng magie trung bình 1,18 ± 0,01 g/kg, dao động từ
thấp nhất 0,48 ± 0,00 g/kg và đạt cao nhất 2,25 ± 0,01 g/kg. Hàm
lượng phôtpho trung bình đạt 0,24 ± 0,00 g/kg ở các mẫu nghiên cứu,
dao động từ 0,04 ± 0,00 g/kg đến 0,37 ± 0,00 g/kg.
15
Các khoáng vi lượng đã phân tích gồm Fe và Zn, hàm lượng Fe
và Zn khác nhau ở các mẫu nghiên cứu (p < 0,05), hàm lượng Fe đạt
trung bình 48,92 ± 3,53 mg/kg, biến động trong khoảng từ 7 ± 1,00
mg/kg đến 132 ± 2,65 mg/kg. Tương tự, thành phần khoáng Zn trung
bình 7,42 ± 1,61 mg/kg, biến động trong khoảng từ 5 ± 1,00 mg/kg
đến 15 ± 3,61 mg/kg.
Ngoài giá trị dinh dưỡng về một số thành phần chủ yếu, một số
tính trạng cảm quan (mùi thơm và vị ngon) của củ cũng được đánh
giá. Kết quả phân tích cho thấy, vị ngon, mức độ được ưa thích của củ
ở các mẫu nghiên cứu có sự sai khác đáng kể (p <0,05). Ba mẫu củ có
vị ngon đặc biệt là Ce4 – môn thơm (Lạng Sơn), Ce19 – Cụ Cang
(Sơn La) và Ce32 – Sáp vàng (Thanh Hóa).
So sánh với nghiên cứu đã công bố về hàm lượng dinh dưỡng và
một số chất khoáng của củ khoai môn sọ ở Samoa, thành phần dinh
dưỡng và khoáng chất trong các mẫu giống củ trong nghiên cứu này
biến động nhiều hơn giữa các mẫu giống, hàm lượng protein thô và
khoáng vi lượng thấp hơn nhưng hàm lượng các khoáng đa lượng lại
cao hơn. Trừ hàm lượng chất khô, các chỉ tiêu phân tích còn lại của củ
khoai môn sọ đều có sự khác biệt giữa các mẫu giống trong khi các
giống khoai môn sọ ở Samoa chỉ có hàm lượng khoáng vi lượng có sự

thơm (Lạng Sơn) và Sáp vàng (Thanh Hóa) thời gian khử trùng cần
lâu hơn (15 phút). Môi trường MS có bổ sung 5 mg/l BAP cho tỉ lệ
mẫu sống và tái sinh chồi đạt trên 80% ở tất cả 3 giống, mặc dù hệ số
tái sinh chồi không cao nhưng chồi có chất lượng tốt: to mập, lá xanh
đậm. Hệ số nhân chồi ở các giống nghiên cứu đạt cao nhất trên môi
trường MS có bổ sung 0,1 mg/l NAA và từ 2,5mg/l - 3mg/l BAP. Môi
trường MS có bổ sung 0,1 mg/l NAA và 0,5mg/lBAP là thích hợp cho
rễ nhiều và chất lượng rễ tốt hơn. Sau 3 tuần đưa ra vườn ươm, cây
con được đưa ra trồng ngoài đồng ruộng. Kết quả xử lí thống kê cho
thấy không có sự khác biệt về sự sinh trưởng, phát triển ngoài đồng
ruộng và năng suất thu hoạch củ của cây có nguồn gốc in vitro với cây
mọc từ củ giống theo phương pháp truyền thống (p > 0,05).
3.2.2. Nghiên cứu tạo củ in vitro và tiềm năng ứng dụng kỹ thuật
tạo củ in vitro trong sản xuất
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thành công nhân giống in vitro ở
mục 3.2.1, chúng tôi lựa chọn 2 giống cho nghiên cứu tạo củ in vitro
là giống Môn thơm (Lạng Sơn) và giống Sáp vàng (Thanh Hóa). Cây
in vitro của 2 giống môn thơm (Lạng Sơn) và Sáp vàng (Thanh Hóa)
đều không tạo củ in vitro trên môi trường MS không bổ sung BAP
nhưng lại có cảm ứng tạo củ trên môi trường có bổ sung 3% - 8%
đường (saccharose) và 1 – 5 mg/l BAP. Tất cả các chồi in vitro
(100%) của 2 giống khoai sọ nghiên cứu đều tạo củ in vitro khi được
17
nuôi cấy trong môi trường MS cơ bản có bổ sung 1 - 5mg/l BAP, 4% -
6% saccharoza. Môi trường MS bổ sung 4% sucrose và 1mg/l BAP
cho trọng lượng củ tươi lớn hơn. Tỉ lệ nhân chồi lớn nhất khi sử dụng
môi trường MS bổ sung 6% đường và 5mg BAP.
Các củ in vitro có trọng lượng ≥ 0,2g bảo quản ở nhiệt độ 4
0
C

các dòng xử lí xạ có độ lệch chuẩn (SD) rất lớn. Ngay từ thế hệ thứ
nhất - M1 đã xuất hiện nhiều biến dị, trong đó có 1 số biến dị có tiềm
năng cho chọn giống.
Riêng ở giống Sáp vàng, mặc dù các chỉ số theo dõi có hệ số
biến thiên cao so với dòng gốc nhưng các biến dị thu được chủ yếu
theo hướng không tốt vì vậy chúng tôi không lựa chọn dòng biến dị từ
giống này.
3.2.3.3. Chọn lọc các dòng biến dị có triển vọng ở thế hệ M2
Sau khi thu hoạch củ ở thế hệ M1, chúng tôi lựa chọn 12 – 14 củ
con ở giống môn thơm và 8 củ con ở giống Cụ Cang trồng riêng để
theo dõi kết quả ở thế hệ M2. Từ 16 dòng biến dị ở thế hệ M1 với 200
cá thể, trung bình 12 cá thể/dòng, qua chọn lọc ở thế hệ M2, thu được
3,00% các cá thể mang tính trạng ưu thế hơn với giống gốc.
3.2.3.4. Kết quả chọn lọc một số dòng đột biến thế hệ M3
Tiếp tục thu hoạch củ ở thế hệ M2, chọn lọc các dòng mang các
tính trạng ưu thế nổi trội, chúng tôi đã thu được một số dòng ổn định
tương đối về các tính trạng chọn lọc có các đặc điểm ưu thế hơn giống
gốc (Bảng 3.29). Ở giống Môn thơm (Lạng Sơn), chúng tôi đã thu
được 3 dòng đột biến gồm: LS-03-01, LS-03-02 và LS-03-03. Dòng
đột biến LS-03-01 thu được với nhiều ưu thế hơn so với đối chứng và
các dòng thu được. Số lượng củ/khóm tăng, có những cá thể thu được
với 31 củ con/khóm và có đến 12 củ trọng lượng tươi từ 100 - 200g.
Dòng LS-03-01 cũng xuất hiện những cá thể không hoặc ít bị cháy
nắng, trong khi đối chứng bị nặng trong điều kiện bình thường. Hai
dòng còn lại là LS-03-02 và LS-03-03, đều có chung đặc điểm tỉ lệ đẻ
19
nhánh cao, trọng lượng củ con tăng nhưng dòng LS-03-02 có khả năng
chịu nắng tốt hơn dòng LS-03-03. Xem xét đến dòng CC-03-01 được
tạo ra từ giống đối chứng Cụ Cang (Sơn La). Đây cũng là dòng mang
được nhiều ưu điểm so với đối chứng. Thể hiện rõ nhất là tăng trọng

(ngày)
Khả năng
lá bị cháy
nắng
1 LS-03-01 90,6 ± 1,18 Hình cốc Tím 1,92 ± 0,17 9,67 ± 1,53 29,67 ± 1,53 250 Cháy nắng
nhẹ
Biến dị
giảm trọng
lượng củ cái
nhưng tăng
trọng lượng
củ con
2 LS-03-02 90,56 ± 1,18 Hình cốc Tím 1,87 ± 0,33 8,33 ± 1,53 29,00 ± 1,00 250 Cháy nắng
nhẹ
LS-03-03 90,56 ± 1,18 Hình mũi
mác
Tím 1,88 ± 0,13 8,00 ± 1,00 28,00 ± 1,00 250 Cháy nắng
nặng
Đ/C Môn thơm
(Lạng Sơn)
90,56 ± 1,18 Hình cốc Tím 1,86 ± 0,24 3,00 ± 1,00 16,5 ± 5 270 Cháy nắng
nặng
1 CC-03-01 101,67 ± 1,23 Hình cốc Trắng 1,82 ± 0,30 0,00 9,33 ± 1,53 270 Cháy nắng
nhẹ
Biến dị tăng
trọng lượng
củ cái và số
lượng củ
con
Đ/C Cụ Cang

Những kết quả thu được trên đây cho thấy các dòng khoai môn
sọ chọn lọc từ chồi in vitro xử lí đột biến bằng tia gamma nguồn Co
60
đã có sự thay đổi ở mức phân tử.
21
Ce4
LS-03-
01

M
100 bp
200 bp
300 bp
Ce19

M
1 2 3 4
300 bp
200 bp
100 bp
Trong 4 dòng đột biến, có 1 dòng đột biến (CC-03-01) được tạo
ra từ xử lí chiếu xạ giống Cụ Cang (Sơn La); 3 dòng (LS-03-01, LS-
03-02, LS-03-03) được tạo ra từ giống khoai Môn thơm (Lạng Sơn).
Cả 3 dòng đột biến LS-03-01, LS-03-02, LS-03-03 đều có sự sai khác
rõ ràng với giống gốc. 2 dòng LS-03-02 và LS-03-03 có một số đặc
điểm nông sinh học chọn lựa khá giống nhau và có hệ số tương đồng di
truyền đến 0,93 nhưng dòng LS-03-02 có một số ưu thế hơn như không
hoặc bị cháy lá nhẹ nên chúng tôi lựa chọn dòng LS-03-02 trong 2
dòng đột biến đó cho các nghiên cứu tiếp theo.
Như vậy, qua chọn lọc in vitro, trồng, theo dõi trên đồng ruộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status