Bảo mật mạng di động GSMx - Pdf 18

Bảo mật mạng di động
GSM
Đánh giá
Thông tin mới nhất về các lỗ hổng bảo mật GSM - mạng di động phổ biến nhất ở Việt Nam hiện
nay, cùng với một số giải pháp cho người dùng.
Khi nói về bảo mật thông tin, mọi người thường hay nói tới bảo mật mạng, bảo mật ứng dụng, bảo
mật web. Sở dĩ ít có sự quan tâm đến lĩnh vực bảo mật mạng di động vì số lượng tấn công dựa trên
điểm yếu của mạng di động chưa phổ biến và khó phát hiện. Tuy nhiên với sự bùng nổ của các
thiết bị điện thoại thông minh, đi kèm với các lỗ hổng bảo mật trên môi trường di động ngày càng
gia tăng, bảo mật mạng di động đang trở thành một chủ đề nóng. Hiện nay môi trường mạng di
động đang được khai thác triệt để cho các ứng dụng cung cấp giá trị gia tăng dựa trên SMS, dịch
vụ cung cấp thông tin trực tuyến, thậm chí cả dịch vụ rất nhạy cảm về an toàn thông tin là thanh
toán trực tuyến bằng điện thoại di động. Những dịch vụ này dựa trên các phương thức truyền dẫn
cơ bản do mạng di động không dây cung cấp và những lỗ hổng bảo mật trên tầng không dây di
động đều liên quan đến các dịch vụ trên. Nhằm giúp bạn đọc nắm được các rủi ro an toàn thông tin
trên mạng di động, bài viết cung cấp các thông tin mới nhất về các lỗ hổng bảo mật GSM - mạng
di động phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay, kèm với một số giải pháp cho người dùng.
1. Mô hình bảo mật GSM
1.1. Mục đích của bảo mật GSM
Do đặc thù của cơ chế dùng sóng radio để liên lạc giữa thiết bị di động đầu cuối và trạm thu phát
sóng, mạng GSM có những rủi ro bảo mật như:
• Tấn công giả mạo thiết bị di động đầu cuối
• Nghe lén cuộc gọi
• Tấn công dùng phương thức người thứ ba đứng giữa (man in the middle attack).
Vì vậy mục đích của bảo mật GSM là giảm thiểu các rủi ro trên bằng các cơ chế:
• Xác thực vào dịch vụ di động
• Mã hóa các thông tin trao đổi trên môi trường radio.
1.2. Các đặc điểm bảo mật của GSM
Một số chức năng bảo mật đã được tích hợp vào GSM nhằm bảo vệ người dùng, bao gồm:
• Xác thực chủ thể thuê bao đăng ký
• Sử dụng mã hóa để đảm bảo bí mật thông tin trao đổi

GSM sử dụng một khóa đặc biệt nhằm mã hóa cuộc gọi và dữ liệu trên môi trường sóng radio đầy
rủi ro bị nghe lén. Khi thiết bị di động đã được xác thực, một mã số bí mật được tạo ra từ một số
ngẫu nhiên + số Ki bằng thuật toán A8 (thuật toán này nằm trên SIM). Mã số này được đồng thuận
sử dụng giữa thiết bị di động và mạng di động nhằm mã hóa thông tin trao đổi. Thuật toán mã hóa
được sử dụng là thuật toán A5. Thuật toán A5 được lưu trữ bằng phần cứng trên thiết bị di động,
bộ xử lý của ĐTDĐ sẽ chịu trách nhiệm thực hiện.
1.2.3. Bảo vệ định danh thuê bao
IMSI (số nhận dạng thuê bao di động quốc tế) được chứa trong thẻ SIM. Số IMSI thường là một
chuỗi 15 chữ số, bao gồm một MCC (mobile country code), một MNC (mobile network code) và
một MSIN (mobile station identification number). Nhằm đảm bảo số IMSI không bị đánh cắp dễ
dàng, số IMSI chỉ được gửi đến mạng di động lần đầu khi thiết bị di động được bật lên gia nhập
mạng. Sau đó số TMSI được sử dụng thay cho số IMSI. Cơ chế này nhằm giảm thiểu rủi ro IMSI
bị đánh cắp. Tuy nhiên hacker vẫn có khả năng ăn cắp được số IMSI này bằng thủ thuật người
đứng giữa! Cơ chế này sẽ được thảo luận rõ hơn trong phần phân tích điểm yếu của bảo mật GSM.
Hình 1: Cơ chế hoạt động của mạng di động GSM
2. Các hạn chế về bảo mậtcủa GSM
Với cơ chế bảo mật hiện nay, GSM có các hạn chế sau:
2.1. Bảo mật bằng tính bấtkhả định
Bảo mật bằng tính bất khả định có nghĩa là bảo mật bằng cách giấu kín thuật toán, cách thi hành,
không cho cộng đồng biết được cơ chế bảo mật. Trong cơ chế bảo mật GSM, các thuật toán A3,
A5, A8 đều được giấu kín. Tuy nhiên, quan điểm hiện đại về an toàn thông tin cho rằng phương
thức bảo mật bằng tính bất khả định này sẽ không an toàn. Lý do là một thuật toán cho dù tốt đến
đâu cũng có thể mắc lỗi, và nếu không được công khai để cộng đồng kiểm chứng thì hoàn toàn có
thể bị mắc những lỗi nghiêm trọng mà chưa ai biết! Thực tế đã chứng minh là dù được nhà sản
xuất cố gắng giữ bí mật sau nhiều năm, hacker đã tìm được thông tin khá đầy đủ về các thuật toán
A3, A5 và A8.
2.2. Chính sách mã hóa có thể bị thay đổi
Thuật toán A5 được dùng để mã hóa đường truyền sóng radio thoại và dữ liệu. Tuy nhiên có 3
chính sách mã hóa khác nhau: A5/0 (không mã hóa) và hai thuật toán A5/1 và A5/2. Sở dĩ có sự
phân loại này là do các pháp chế về vấn đề xuất khẩu thuật toán bảo mật. Ba chính sách mã hóa A5

3.2. Tấn công ăn cắp, nhân bản SIM
Một trong những tấn công nguy hiểm là nhân bản thẻ SIM. Hacker có thể nhân bản thẻ SIM khi
không có SIM nguyên gốc (bằng cách nghe lén) hoặc khi có SIM nguyên gốc. Trong phạm vi của
bài viết này, tác giả chỉ đề cập phân tích cách nhân bản SIM khi có SIM nguyên gốc.
Như đã trình bày trong phần I, thẻ SIM có chứa hai thông tin quan trọng, đó là số IMSI dùng để
nhận dạng thuê bao và số Ki dùng để mã hóa. Hacker sử dụng một đầu đọc SIM kết nối vào máy
PC và sử dụng phần mềm bẻ khóa để cố gắng lấy hai số này. Khi có hai số này, hacker có thể dùng
một thẻ SIM trắng để ghi hai số này vào và sẽ có một thẻ SIM nhân bản 100% giống như thẻ SIM
gốc!.
Hình 2: Thẻ SIM là một máy tính độc lập!
Vấn đề là làm thế nào hacker có thể lấy được thông tin bí mật từ SIM?. Để hiểu rõ hơn, chúng ta
cần biết cách thức hoạt động của thẻ SIM và các phương thức được thiết kế bảo vệ các thông tin
nằm trong SIM.
Thẻ SIM đơn thuần chỉ là một thẻ thông minh được lập trình cho mục đích định danh và xác thực
trên môi trường di động GSM. Về mặt kiến trúc, thẻ SIM giống như là một máy tính thu nhỏ có
các chức năng:
• Tính toán (CPU), có khả năng tính toán các thuật toán bí mật như A3, A8, cả hai thuật toán này
đều dựa trên thuật toán COMP128. Ngoài ra, thẻ SIM còn có thể được lập trình để có các tính
năng đặc thù riêng.
• Lưu trữ (Memory), có khả năng lưu trữ các thông tin như số IMSI, Ki, sổ điện thoại… và các
thông tin khác.
Bất cứ ai với đầu đọc SIM đều có thể lấy được số IMSI này. Đối với số Ki, thẻ SIM giấu trong bộ
nhớ ROM và không cho truy xuất trực tiếp. Từ phía ngoài, hacker chỉ có thể đưa vào một số ngẫu
nhiên và thẻ SIM sẽ cung cấp phản hồi lại số SRES, là kết quả của thuật toán COPM128 với đầu
vào là số ngẫu nhiên và số Ki. Đây chính là chìa khóa của vấn đề. Bằng cách sử dụng rất nhiều lần
số ngẫu nhiên và ghi nhận lại kết quả SRES, hacker có thể giải mã được số Ki. Đây là tấn công lợi
dụng điểm yếu của thuật toán COMP128 được tìm ra năm 1998 bởi hai nhà nghiên cứu đại học
Berkeley. Thực tế thì cần đến 150 ngàn lần hỏi thẻ SIM để có thể lấy đủ thông tin phá mã Ki.
Thông thường một đầu đọc SIM có khả năng truy xuất 6,25 lần một giây và để lấy được số Ki sẽ
cần khoảng 8 tiếng!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status