TIÊU CHẢY KÉO DÀI
ĐẠI CƯƠNG
− Tiêu chảy kéo dài (TCKD) là một đợt tiêu chảy cấp (đi ngoài phân lỏng > 3 lần/ngày) kéo dài
trên 14 ngày và thường do nguyên nhân nhiễm trùng.
− Khoảng 20% đợt tiêu chảy cấp ở trẻ em trở thành tiêu chảy kéo dài.
− TCKD là nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi.
1. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ :
1.1. Tuổi :
− Đa số đợt TCKD xảy ra ở trẻ < 18 tháng, trẻ < 1 tuổi chỉ số mới mắc chiếm tỷ lệ cao nhất.
− Nguy cơ một đợt tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài giảm dần theo tuổi :
+ Trẻ < 1 tuổi: 22%
+ 1 - 2 tuổi: 10%
+ 2 - 3 tuổi: 7%
1.2. Trẻ suy dinh dưỡng:
− Thời gian trung bình một đợt tiêu chảy của trẻ SDD dài hơn trẻ bình thường.
− Chỉ số mới mắc TCKD ở trẻ suy dinh dưỡng cao hơn rõ rệt so với trẻ bình thường.
1.3. Giảm miễn dịch:
− Thường quan sát thấy ở trẻ bị suy dinh dưỡng nặng.
− Trẻ đang hoặc sau khi mắc sởi (bị sởi có nguy cơ mắc TCKD cao hơn trẻ bình thường từ 2 - 4
lần) hoặc các bệnh nhiễm virus khác.
− Bệnh suy giảm miễn dịch mặc phải (AIDS).
− TCKD cũng là một trong các nguyên nhân gây tử vong ở những bệnh nhân này.
1.4. Trẻ thường xuyên mắc nhiều đợt tiêu chảy cấp hoặc trong tiền sử đã bị TCKD.
1.5. Chế độ ăn :
− Ít gặp TCKD ở trẻ được nuôi dưỡng tốt bằng sữa mẹ.
− Nguy cơ mắc TCKD tăng lên ở trẻ nuôi bằng sữa động vật hoặc sữa công nghiệp (do không
dung nạp Lactose hoặc mẫn cảm với chất đạm sữa bò hoặc đậu nành, nhiễm khuẩn qua sữa).
− Ăn sữa động vật đóng vai trò quan trọng ở 30-40% tiêu chảy kéo dài.
1.6. Ảnh hưởng của điều trị tiêu chảy cấp:
− Khi trẻ bị tiêu chảy cấp, điều trị không thích hợp có thể kéo dài thời gian đợt tiêu chảy
+ Rối loạn hấp thu do sự tổn thương niêm mạc ruột tiếp tục và
+ Sự hồi phục niêm mạc ruột bị gián đoạn bởi nhiều nguyên nhân gây nên.
Hậu quả dẫn tới tình trạng SDD nặng.
3.1. Sự tổn thương tiếp tục niêm mạc ruột:
− Do khả năng đào thải vi khuẩn giảm sút các loại vi khuẩn xâm nhập hoặc bám dính
sẽ liên tục làm tổn thương các lớp TB hấp thu bề mặt niêm mạc ruột.
− Sự tổn thương các tế bào dẫn tới giảm nhiều men tiêu hoá như men tiêu đường:
disacharidase và men lactase gây tình trạng kém hấp thu đường lactose.
− Chế độ ăn có nhiều chất đường như lactose, đối với chế độ ăn sữa động vật, làm tăng
thẩm thấu. Cũng như các protein động vật chưa tiêu hoá hết có thể hấp thu qua niêm mạc ruột
bị tổn thương làm tổn thương nặng thêm, đồng thời kích thích cơ thể sinh các loại kháng thể
gây dị ứng thức ăn và làm nặng thêm tổn thương niêm mạc ruột.
− Do thiểu năng hấp thu muối mật ở ruột non, các vi khuẩn tăng sinh làm phân huỷ muối
mật giảm khả năng hấp thu các chất béo và đường, và muối mật không được hấp thu khi
xuống đại tràng sẽ gây tăng tiết dịch.
3.2. Sự phục hồi niêm mạc ruột bị gián đoạn:
− Bình thường các tế bào niêm mạc ruột được đổi mới liên tục nhờ các tế bào mầm ở
vùng cổ tuyến Lierberkun. Các tế bào hấp thu ruột được biệt hoá và di chuyển dần về phía đỉnh
các nhung mao và trở nên già cỗi rụng ra.
− Khi được cung cấp các protein, năng lượng, vitamin đặc biệt là các yếu tố vi lượng như
selen, Kẽm thì thời gian cho một chu kỳ đổi mới là 4 ngày.
− Khi trẻ bị SDD chế độ ăn thiếu protein, năng lượng, tình trạng kém hấp thu các chất
dinh dưỡng khả năng đổi mới niêm mạc ruột chậm làm ảnh hưởng lớn đến sự phục hồi và
đổi mới niêm mạc ruột vốn đã bị tổn thương đây là cơ sở chính gây TCKD.
3.3. Sự tổn thương và sự hồi phục niêm mạc ruột bị gián đoạn gây nên hậu quả
− Giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng như đường, mỡ, protein.
− Mất các chất dinh dưỡng đặc biệt là protein qua niêm mạc ruột đã bị tổn thương.
2
− Trẻ do chán ăn, kiêng khem làm giảm cung cấp thức ăn. Đồng thời, trẻ chán ăn, sốt
nhiễm trùng gây tăng chuyển hoá.
+ NK nặng như nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết.
− Nếu không phát hiện, điều trị nhiễm khuẩn phối hợp thì điều trị TCKD không hiệu quả.
4.3. Cận lâm sàng:
4.3.1. Xét nghiệm tìm tác nhân gây bệnh :
− Soi phân:
+ Nếu có HC, BC trung tính chứng tỏ là tiêu chảy xâm nhập do nhiễm khuẩn như lị,
Salmonella, Campylobacter.
+ Tìm KST: lị, E.Histolytica
+ Tìm kén và KST: Giardia lamblia.
− Cấy phân: phân lập các loại bệnh nguyên và làm KSĐ.
4.3.2. Xét nghiệm đánh giá tình trạng hấp thu của ruột :
− Soi cặn dư phân, đo pH phân: pH < 5,5 và có nhiều cặn dư phân kém hấp thu với
carbonhydrat đặc biệt là đường lactose.
− Các biện pháp khác nếu có điều kiện:
+ Nghiệm pháp hấp thu đường đôi.
+ Định lượng men ruột.
+ Sinh thiết ruột.
4.3.3. Tuỳ theo chẩn đoán lâm sàng cần làm thêm các XN đánh giá tình trạng RL
nước - điện giải, nhiễm khuẩn phối hợp.
4.3.4. Các xét nghiệm đánh giá toàn trạng của trẻ: CTM, ĐGĐ, Protid huyết tương.
5. ĐIỀU TRỊ:
− Tiêu chảy kéo dài có xu thế được coi là một bệnh dinh dưỡng, liên quan chặt chẽ tình
trạng SDD và cũng là nguyên nhân gây SDD.
− Hiện tượng sụt cân khi bị TCKD là do:
+ Giảm hấp thu các chất dinh dưỡng.
+ Do kiêng ăn.
+ Do ăn thức ăn quá loãng luôn kèm theo tình trạng thiếu Vitamin và các yếu tố vi lượng.
Các chất này rất cần thiết cho quá trình phục hồi và đổi mới niêm mạc ruột cũng như tăng
cường khả năng miễn dịch của cơ thể.
5.1. Nguyên tắc:
− Thức ăn được chế biến từ nguồn thực phẩm có sẵn, phù hợp tập quán và hợp khẩu vị
của trẻ. VD: bột ngũ cốc thêm dầu, rau và thịt gà nghiền, đậu hạt ninh nhừ, đậu nành.
− Cần chia làm nhiều bữa, ít nhất 6 bữa/ngày.
− Tránh những loại thức ăn có nồng độ thẩm thấu cao như cho quá nhiều đường: nước
giải khát công nghiệp.
5.2.2.2. Sau 5 ngày:
− Nếu tiêu chảy đã cầm: tiếp tục cho trẻ ăn như trên 1 tuần nữa. Sau đó cho trẻ ăn lại từ từ
sữa động vật trong nhiều ngày và trở về ăn bình thường theo lứa tuổi.
− Cho trẻ ăn thêm 1 bữa/ngày trong ít nhất 1 tháng. Nếu trẻ SDD, tiếp tục cho trẻ ăn thêm
đến khi cân nặng chiều cao trẻ trở về bình thường.
− Nếu tiêu chảy chưa cầm cho trẻ đi BV điều trị bằng các chế độ ăn thích hợp.
5.3. Kháng sinh :
− Kháng sinh điều trị lị khi:
+ Phân có nhầy máu mũi, hoặc
+ Soi phân thấy hồng cầu, bạch cầu, KST, hoặc
+ Cấy phân (+).
− Chọn kháng sinh dựa vào kết quả KS đồ trên chủng vi khuẩn phân lập được như E.coli.
− Thuốc điều trị KST: nếu thấy kén hoặc Giardia, lị, ký sinh trùng khác,…
− Điều trị kháng sinh toàn thân khi tìm thấy các NK phối hợp như nhiễm khuẩn tiết niệu,
viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết.
5.4. Bù nước và điện giải :
− Nếu tiêu chảy còn tiếp tục, trẻ có nguy cơ mất nước.
− Đánh giá mức độ mất nước và bù dịch theo phác đồ. Mất nước nhẹ thì bù bằng đường
uống, nặng thì bù bằng đường tĩnh mạch theo phác đồ C.
− Cần bù nước điện giải ổn định trước khi tiến hành điều trị dinh dưỡng.
5.5. Cung cấp muối khoáng và các nhóm vitamin:
− Các vitamin tan trong dầu (A,D, E, K) và vitamin nhóm B và C.
5
− Vitamin A: Trẻ dưới 6